1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Cao đẳng - Đại học >

- Hình thức giá: Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng giá thị trường làm cơ sở để xác định giá của đất đai. Bảng dưới sẽ cho chúng ta thấy một số ví dụ về hình thức giá của một số nước.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (849.95 KB, 110 trang )


- Cơ quan thẩm định giá, kiểm soát giá đất:

Nước3



Cơ quan định giá, kiểm soát giá đất

Thành lập cơ quan định giá ở cấp tiểu bang nằm trong hệ thống quản lý

hành chính chung của mỗi bang. Quy định cụ thể về chuyên môn, nghiệp

vụ của cơ quan định giá, người làm công tác định giá.

Bộ máy định giá đất từ trung ương đến địa phương, trong mỗi cơ quan có



Úc



hai bộ phận: Bộ phận định giá từng thửa đất và bộ phận lưu trữ. Bộ phận

định giá từng thửa đất tiến hành định giá trên từng thửa đất theo nhu cầu

của khách hàng, công việc được tiến hành bởi các định giá viên, bộ phận

lưu trữ thu thập thông tin, kết quả từ các định giá viên đưa vào trung tâm

lưu trữ. Khi khách hàng có nhu cầu mua đất có thể đến các trung tâm lưu

trữ để lấy thông tin cần thiết về thửa đất.



Hungari



Việc bán đất được quản lý bởi một cơ quan thuộc Hội đồng Nhà nước.

Bộ Tư pháp quản lý vấn đề định giá đất thông qua Hội đồng thẩm định giá,



Israel



Hội đồng thẩm định giá gồm 5 người. Trong đó Chủ tịch Hội đồng do Bộ

trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.

Trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định của



Lào



pháp luật thì có một ủy ban bao gồm: Đại diện các bên liên quan để xác

định giá trị thiệt hại.

Cán bộ định giá đất là người đã được cấp giấy phép hoạt động tương ứng



Estonia



theo các thủ tục thành lập của Chính phủ nước Cộng hồ Estonia. Người

định giá cũng có thể là một cơng chức có chun mơn trong việc định giá

đất.



Tajikistan



Định giá đất do một cơ quan địa phương cơng bố, chính phủ phê duyệt các

thủ tục xác định giá đất cho từng khu vực.

Việc định giá đất được tiến hành tại văn phòng đất đai. Văn phòng đất đai

trực thuộc cơ quan Thuế (Bộ Tài chính), có chức năng nhiệm vụ tham mưu



Singapore



giúp Nhà nước xây dựng chiến lược quản lý đất đai; thực hiện quản lý đối

với việc bán đất công cho các dự án đầu tư và cho tư nhân; cho thuê đất

công; ngăn chặn việc mua bán đất của Nhà nước bất hợp pháp.



32 TL đã dẫn



19



Hệ thống tổ chức định giá của Nhà nước được tổ chức theo ngành dọc,

Thái Lan



khơng có cơ quan định giá ở cấp tỉnh và cấp huyện, chỉ có một cơ quan

duy nhất giữ chức năng quản lý Nhà nước về định giá được tổ chức ở



Trung ương gọi là cơ quan “Định giá Trung ương”.

- Nguyên tắc và phương pháp xác định giá:

Có 5 phương pháp định giá cơ bản hiện nay đang được áp dụng trên thế giới:

Phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập, phương pháp giá thành, phương pháp lợi

nhuận và phương pháp thặng dư (ở Việt Nam cũng sử dụng các phương pháp này)

Nước4

Albania

Amenia

Úc

Belize

Estonia

Hungari

Phần Lan

Croatia

Malaysia



Nguyên tắc và phương pháp xác định giá

Giá trị của đất bao gồm tổng giá trị của công trình xây dựng và các bộ phận

cấu thành trên đất.

Trong trường hợp bán đất cho Nhà nước: Giá bán của đất sẽ được xác định

theo giá địa chính của đất;

Việc định giá đất phải thực hiện bằng cách xác định giá trao đổi trên thị

trường.

Thông qua khảo sát giá thị trường, Phòng định giá cấp huyện có trách

nhiệm thực hiện theo Luật.

Phương pháp so sánh bán, phương pháp thu nhập tư bản hóa, phương pháp

chi phí và kết hợp là được sử dụng trong đánh giá.

Giá được xác định phù hợp với giá mua bán tại từng địa phương.

Quy định về việc mua bán đất, giá đất do sự thỏa thuận giữa người mua và

người bán.

Giá trị thị trường của bất động sản được hiểu là giá của bất động sản thu

được hoặc có thể có được trên thị trường tại thời điểm mua lại.

Đất đô thị được tiến hành theo phương pháp định giá bất động sản

Phải định giá đối với những bất động sản đóng thuế hoặc khả năng đóng



Thụy Điển



thuế theo quy định của pháp luật. Những bất động sản khơng có khả ăng

đóng thuế thi khơng cần định giá. Định giá dựa trên những yếu tố quyết

định giá trị.



1.3.2. Công tác định giá đất ở Việt Nam

43TL đã dẫn. trang 21



20



Hiện nay công tác định giá đất của nước ta quy định khá chặt chẽ trong Luật đất

đai 2013. Tại điều 112 Luật đất đai 2013 do Nhà nước quy định ghi rõ “Việc định giá

đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây”:

a) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá;

b) Theo thời hạn sử dụng đất;

c) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử

dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu

giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất;

d) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả

năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như

nhau.

Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại

theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến treent hị

trường tăng từ 20% trở lên so với giá đất tối đa hoặc giảm 20% so với giá đất tối thiểu

trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp.

Căn cứ nguyên tắc, phương pháp định giá đất và khung giá đất, UBND tỉnh xây

dựng và trình HĐND cùng cấp thơng qua bảng giá đất trước khi ban hành. Bảng giá

đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng

01 năm kỳ đầu.

Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất

hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì UBND cấp tỉnh điều chỉnh bảng

giá đất cho phù hợp.

Trước khi trình HĐND cùng cấp thơng qua bảng giá đất ít nhất 60 ngày, UBND

cấp Tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất

xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Căn cứ nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 Luật đất đai, phương

pháp định giá đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 Nghị định số

44/2014/NĐ-CP và kết quả tổng hợp, phân tích thơng tin về thửa đất, giá đất thị

trường, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Trường hợp cần thiết có thể áp dụng



21



kết hợp các phương pháp định giá đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 Nghị

định số 44/2014/NĐ-CP để kiểm tra, so sánh, đối chiếu và quyết định giá đất.

Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam hiện nay thì việc mua bán, trao đổi đất đai

diễn ra trên thị trường mà Nhà nước không thể kiểm soát được, chủ yếu là mua bán

trao tay. Chính vì vậy, cơng tác định giá đất đai còn thực sự mới mẻ vì việc thu thập

thơng tin thị trường thường có độ chính xác khơng cao và thị trường thông tin về đất

đai chưa phải là thị trường mở. Do vậy, Việt Nam cần đầu tư, xây dựng, hoàn thiện hệ

thống cơ sở dữ liệu về giá đất để đáp ứng nhu cầu thông tin về giá đất của Nhà nước,

các tổ chức và người dân. Nhà nước phải kiểm soát được những hoạt động về đất đai

chặt chẽ qua việc cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện các giao dịch dân sự

về đất đai tránh phức tạp, các chính sách của Nhà nước phải phù hợp với tình hình

thực tế.

1.3.3. Cơng tác xác định và quản lý giá đất tại tỉnh Hà Nam

Từ năm 2014 đến nay, UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành các bảng giá đất hàng

năm có hiệu lực thi hành từ 01/01 như sau:

- Quyết định số 85/2013/QĐ-UBND ngày 28/12/2012 của UBND Tỉnh Hà Nam

về việc ban hành Quy định giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Nam

- Quyết định số 50/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh Hà Nam

ban hành quy định bảng giá các loại đất thời kỳ 2015-2019 trên địa bàn tỉnh Hà Nam.

Với mong muốn giá đất thể hiện được giá trị đúng của đất đai và hạn chế

những tiêu cực phát sinh do trên một mảnh đất có nhiều giá và việc phải xác định lại

giá đối với từng dự án đầu tư, Sở TNMT sau khi được giao nhiệm vụ định giá đất hàng

năm đã xây dựng lộ trình tăng giá đất để giá đất tại bảng giá đất của tỉnh sẽ tiến sát

hơn với giá đất thị trường. Do tình hình khách quan là suy thối kinh tế thế giới nên

đến nay, bảng giá đất ban hành hàng năm vẫn chưa thực sự sát với giá đất giao dịch

thực tế trên thị trường. Do vậy, so với giá đất trên thị trường thì giá đất tại một số các

khu vực trong bảng giá còn rất thấp. Có thể nói bảng giá đất của tỉnh hiện nay ngoại

trừ khung giá chuẩn vẫn còn thấp, các quy định về cách thức áp dụng khá hoàn chỉnh

và phù hợp với thực tế đáp ứng được yêu cầu cơ bản của công tác định giá đất cụ thể.

Bên cạnh đó, tại các huyện và xã vẫn chưa có đội ngũ cán bộ đầy đủ chuyên

môn làm công tác định giá đất nên khi thực hiện xác định giá đất còn gặp nhiều vướng

22



mắc. Thơng tin điều tra chính thống còn thiếu và ít chính xác. Cụ thể như thông tin giá

chuyển nhượng nhà đất theo hợp đồng mua bán có cơng chứng có cơ sở pháp lý để áp

dụng nhưng thường không phản ánh đúng thực tế giá chuyển nhượng do người dân khi

kê khai trong hợp đồng thấp hơn giá thực tế để giảm thuế phải nộp, giá đất chuyển

nhượng qua tìm hiểu bằng các phương pháp tiếp cận người dân có độ chính xác 9095% giá chuyển nhượng thực tế nhưng khơng có tính chất pháp lý, khơng đủ cơ sở giải

trình khi cần thiết.

Luật đất đai năm 2013 đã được ban hành và có hiệu lực từ 01/07/2014, theo đó

bảng giá đất được UBND tỉnh ban hành sẽ áp dụng cho 5 năm từ năm 2015. Để thực

hiện tốt công tác định giá đất theo Luật đất đai mới, UBND tỉnh cần bổ sung nhân sự

cho bộ phận làm giá đất của Sở TNMT và của các phòng TNMT ở cấp huyện; UBND

cấp huyện cần chỉ đạo kịp thời công tác điều tra giá đất trên địa bàn, đồng thời có biện

pháp xử lý đối với các xã không thực hiện điều tra hoặc số liệu điều tra thiếu chính

xác làm ảnh hưởng đến việc xác định giá đất cụ thể. Bên cạnh đó ngành TNMT phải

sớm có kế hoạch đào tạo, tập huấn về kiến thức chun mơn để có một đội ngũ làm

cơng tác định giá có bản lĩnh vững vàng và nghiệp vụ chắc chắn để tham mưu tốt nhất

cho tỉnh trong công tác định giá đất trên địa bàn.



23



CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà

Nam.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới biến động giá đất ở trên địa bàn

huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 – 2016.

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện.

2.3.2. Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Lục.

2.3.3. Đánh giá giá đất ở và các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở trên địa bàn huyện

Bình Lục.

2.3.4. Đề xuất giải pháp góp phần hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về giá đất ở

trên địa bàn huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiến hành đề tài, nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng

kết hợp nhằm đạt được mục đích và yêu cầu của đề tài đề ra. Các phương pháp chủ

yếu được sử dụng bao gồm:

2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Dùng để điều tra, thu thập số liệu, thơng tin cần thiết phục vụ cho mục đích

nghiên cứu như hệ thống văn bản, hệ thống HSĐC, hồ sơ giải quyết vụ việc, số sách

giấy tờ liên quan.

Phương pháp thu thập tài liệu số liệu sơ cấp, thứ cấp:

- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam.

- Thu thập số liệu về tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình

Lục – tỉnh Hà Nam

- Thu thập các văn bản có liên quan đến giá đất do Nhà nước, UBND tỉnh Hà

Nam quy định.

- Thu thập các số liệu về chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 của Sở

tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam.

24



Phương pháp phỏng vấn, điều tra thực địa.

Sử dụng phiếu thu thập thông tin về thửa đất. Phỏng vấn người dân nhằm xác

định các yếu tố ảnh hưởng tới giá đất ở giao dịch trên thị trường và sự hiểu biết của

người dân về giá đất. Số phiếu thu thập được là 78 phiếu.

2.4.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Đề tài sẽ chọn các tuyến đường tại các xã, thị trấn đại diện mang tính chất đặc

trưng của huyện Bình Lục làm điểm nghiên cứu từ đó rút ra kết luận chung cho tồn

huyện.

Khu vực I: đường Trần Hưng Đạo, đường Điện Biên Phủ, đường Trần Văn

Chuông. Đây là khu vực nằm ở trung tâm của huyện Bình Lục thuộc thị trấn Bình Mỹ.

Khu vực II: xã Trung Lương. Đây là khu vực nằm gần trung tâm của huyện.

Khu vực III: xã Đồn Xá. Đây là khu vực xa trung tâm huyện

2.4.3. Phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá và so sánh

Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tiến hành phân tích và xử lý số liệu để tìm

ra mối tương quan giữa các yếu tố và giá đất.

Phương pháp thống kê:

Sử dụng các phần mềm hỗ trợ và dùng phương pháp thống kê để từ đó phân

tích và tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố với giá đất để xác định xem yếu tố đó ảnh

hưởng đến sự biến động giá đất như thế nào.

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel.

2.4.4 Phương pháp phân tích tương quan hồi quy

Sử dụng mơ hình hồi quy để xác định các mối tương quan giữa các yếu tố cần

xem xét với giá đất thông qua hệ số tương quan R và hệ số xác định R² để từ đó đưa ra

kết luận yếu tố cần phân tích có ảnh hưởng đến giá đất hay không và mức độ ảnh

hưởng của yếu tố đó đến giá đất là cao, trung bình hay thấp.

Hệ số tương quan (hệ số xác định R) đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa

hai biến mà không phân biệt biến nào là biến phụ thuộc biến nào là biến giải thích.



25



Những nhận xét đối với giá trị của r:

Trị số



Mức quan hệ của các đại lượng



r=0



X,Y hồn tồn độc lập nhau



r=1



X,Y có quan hệ tuyến tính với nhau



0.0 < | r | < 0.3



Mức độ tương quan yếu



0.3 < | r | < 0.5



Mức độ tương quan trung bình



0.5 < | r | < 0.7



Mức độ tương quan tương đối chặt



0.7 < | r | < 0.9



Mức độ tương quan chặt



0.9 < | r | < 1



Mức độ tương quan rất chặt



(Nguồn Ứng dụng Excel trong hồi quy tương quan và dự báo kinh tế)



CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội

26



3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên.

a, Vị trí địa lý.

Bình Lục là huyện đồng chiêm trũng, nằm ở phía Đơng Nam của tỉnh Hà Nam,

trong tọa độ địa lý từ 20 0 21’ 40’’ đến 200 32’ 52’’ vĩ độ Bắc và từ 105 0 51’ 30’’ đến

1050 59’ 12’’ kinh độ Đơng, có diện tích tự nhiên 15.637,56 ha, gồm 21 xã, thị trấn.

Phía Bắc giáp huyện Duy Tiên và Lý Nhân.

Phía Đơng giáp huyện Mỹ Lộc – tỉnh Nam Định.

Phía Nam giáp huyện Ý Yên và huyện Vụ Bản – tỉnh Nam Định.

Phía Tây giáp huyện Thanh Liêm.

Thị trấn Bình Mỹ là trung tâm huyện lỵ, có quốc lộ 21A và tuyến đường sắt Bắc

– Nam chạy qua,cách thành phố Phủ Lý 12 km, cách thành phố Hà Nội 67 km về phía

Tây Bắc và cách thành phố Nam Định 18 km về phía Đơng Nam. Với lợi thế về vị trí

địa lý cùng với hệ thống giao thông phát triển khá hoàn chỉnh gồm cả đường bộ,

đường sắt và đường thủy, Bình Lục có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu phát

triển kinh tế - văn hóa - xã hội với các huyện trong tỉnh, tỉnh bạn và các trung tâm kinh

tế lớn trong khu vực.

b, Địa hình, địa mạo.

Bình Lục có địa hình thấp trũng nhất so với các huyện trong tỉnh và vùng Đồng

bằng sông Hồng, cốt đất trung bình từ 1 đến 1,5 m, cao dần về khu vực ven sơng Châu

Giang, thấp dần về phía nội đồng và có nhiều vùng lòng chảo. Nhìn chung mức độ

chênh địa hình khơng lớn,có thể chia thành 2 vùng địa hình:

- Vùng ven sơng Châu Giang gồm 8 xã, chiếm khoảng 36% diện tích tự

nhiên, hướng dốc chính từ Tây Bắc đến Đơng Nam, địa hình khá cao, cốt đất trung

bình trên 1,5 m. Thế mạnh của vùng là phát triển cây rau màu, cây công nghiệp

hàng năm và cây ăn quả.

- Vùng nội đồng gồm 12 xã và thị trấn Bình Mỹ, chiếm khoảng 64% diện tích

tự nhiên, cốt đất cao trung bình 1,0 m. Dạng địa hình khơng đều có nhiều vùng trũng

nhỏ ở hầu hết các xã và thường ngập úng khi có mưa lớn kéo dài. Đây là vùng sản xuất

lương thực chính của huyện do vậy cần có những biện pháp kỹ thuật và thủy lợi kịp

thời để khắc phục những hạn chế của yếu tố địa hình, khai thác đất đai có hiệu quả.

27



c, Khí hậu.

Bình Lục có khí hậu đặc trưng của Đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của khí hậu nhiệt đới gió mùa và được chia làm 4 mùa: Xn, Hạ, Thu, Đơng.

Trong đó mùa xn và mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đơng có khí hậu

trái ngược nhau. Mùa hạ thời tiết nóng, mưa nhiều; mùa đơng trời lạnh khơ và mưa ít.

Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành 2 mùa chính:

- Mùa mưa: Bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng,

ẩm và mưa nhiều. Hướng gió thịnh hành là gió Đơng – Nam với tốc độ 2 – 4 m/s.

Nhiệt độ trung bình cao nhất 380C, lượng mưa từ 1.100 – 1.500 mm, chiếm 80% lượng

mưa cả năm. Khi mùa lũ đến, mực nước sông Hồng, sông Nhuệ và sông Châu Giang

lên cao kết hợp với mưa lớn tập trung gây ngập úng cho phần lớn các vùng trũng, làm

ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cũng như sinh hoạt

của nhân dân.

- Mùa khô: Bắt đầu từ giữa tháng 11 cho đến cuối tháng 4 năm sau, có khí hậu

lạnh, ít mưa. Hướng gió thịnh hành là gió Đơng - Bắc, thường gây lạnh đột ngột. Nhiệt

độ trung bình thấp nhất là 150, lượng mưa ít, chỉ đạt từ 15 – 20% lượng mưa cả năm.

Sau đây là một số yếu tố địa hình chính của huyện:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 23 – 240C.

+ Nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C.

+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối là 60C.

+ Biên độ nhiệt trong ngày nhỏ hơn 100C.

+ Lượng bức xạ mặt trời trung bình năm từ 100 Kcal/cm2.

+Tổng tích ơn khoảng 8.300 – 8.5000C.

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình cả năm từ 1.800 – 2.000 mm. Mưa tập

trung vào các tháng 7, 8, 9 với gần 80% tổng lượng mưa trong năm. Ngày có lượng

mưa cao nhất lên đến 200 – 250 mm.

- Độ ẩm khơng khí: Độ ẩm khơng khí trung bình trong cả năm dao động trong

khoảng từ 83 - 85%. Các tháng có độ ẩm khơng khí cao là tháng 7 và tháng 8 (92%),

thấp nhất vào các ngày có gió Tây Nam, có khi xuống dưới 80%.

28



- Nắng: Số giờ nắng trung bình năm 1.200 – 1.600 giờ, thuận lợi cho việc phát

triển nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm.

- Gió, bão: Trong năm có hai hướng gió thịnh hành:

+ Gió Đông Nam thổi vào mùa hạ với tốc độ từ 2 – 4 m/s.

+ Gió Đơng Bắc có tốc độ gió khơng lớn nhưng thường gây lạnh đột ngột vào

những tháng cuối Đơng.

+ Trung bình mỗi năm có từ 2 – 4 cơn bão đổ bộ vào huyện kèm theo mưa to và

gió mạnh, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng, đặc

biệt gây ngập úng cho các vùng thấp trũng.

Nhìn chung, khí hậu Bình Lục với các đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nắng và bức

xạ mặt trời lớn thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại

cây trồng, vật nuôi và tạo điều kiện tốt cho thâm canh tăng vụ. Tuy nhiên, tính biến

động mạnh mẽ với nhiều hiện tượng thời tiết như bão, dông, lượng mưa tập trung theo

mùa,… kết hợp với địa hình thấp gây ra ngập úng cục bộ một số vùng đòi hỏi phải có

biện pháp phòng tránh kịp thời.

d. Thủy văn.

Bình Lục có hệ thống sơng ngòi, tương đối dày với 2 con sông lớn là sông Châu

Giang và sông Sắt.

- Sơng Châu Giang nằm ở phía Đơng Bắc huyện, là ranh giới tự nhiên giữa

huyện Bình Lục với huyện Lý Nhân. Sông Châu Giang là một nhánh của sông Hồng,

chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua địa bàn huyện với chiều dài khoảng 29

km. Đây là con sông có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện,

nhất là phát triển sản xuất nông nghiệp. Hàng năm sông trực tiếp bồi đắp lượng phù sa

cho vùng đất bãi ngồi đê và thơng qua các sông nhánh, hệ thống kênh mương, trạm

bơm cung cấp nước tưới có hàm lượng phù sa lớn bồi đắp cho các cánh đồng.

- Sông Sắt là một nhánh của sông Châu Giang, bắt nguồn từ xã Ngọc Lũ chảy

theo hướng Bắc – Nam qua địa bàn huyện với chiều dài 16 km. Sơng có tác dụng tiêu

nước nội vùng đổ ra sông Đáy vào mùa mưa và tiếp nước cho sản xuất vào mùa khơ.

Ngồi 2 sơng chính, huyện còn có mạng lưới các sơng ngòi nhỏ với các ao, hồ,

đầm là nguồn bổ sung và dự trữ rất quan trọng khi mực nước các sơng chính xuống

thấp, đặc biệt vào mùa khô hạn.

29



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (110 trang)

×