1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

3 Vai trò của động lực làm việc và mối quan hệ giữa động lực làm việc và hiệu quả làm việc của người lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (803.43 KB, 116 trang )


Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì

người lao động sẽ thấy yêu thích cơng việc và làm việc hăng say, kết quả là

năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới

tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao

động.

Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi

con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một cơng việc nào đó.

Tăng sự gắn bó với cơng việc và cơng ty hiện tại: khi đã cảm thấy yêu

thích và cảm nhận được sự thú vị trong cơng việc thì sẽ hình thành bên trong

họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình.

Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi cơng việc được

tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được cơng sức mình bỏ ra là có ích và đạt

được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong cơng việc,

cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó khơng ngừng hồn thiện bản

thân mình hơn nữa.

Đối với tổ chức

Động lực làm việc giúp động viên, khuyến khích người lao động, giữ

chân họ làm việc lâu dài, ổn định tại doanh nghiệp. Khi người lao động có

động lực làm việc sẽ giúp tăng hiệu quả lao động, nâng cao năng suất, tăng

doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức, doanh nghiệp.

Khi người lao động trong tổ chức, doanh nghiệp có động lực làm việc sẽ

góp phần làm giảm chi phí về lao động và thu hút những lao động có trình độ

tay nghề cao.

Ngồi ra động lực làm việc còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ

chức, doanh nghiệp. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa những người lao

10



động với nhau, giữa người lao động với tổ chức, doanh nghiệp qua đó góp

phần xây dựng văn hóa tổ chức được lành mạnh.

Đối với xã hội

Động lực lao động giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục

đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, từ

đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội.

Các thành viên của xã hội được phát triển tồn diện và có cuộc ốsống

hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn.

Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn

dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp.

1.3.2 Mối quan hệ giữa động lực và hiệu quả làm việc của người lao động

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa động lực và hiệu quả làm việc của

người lao động trong các doanh nghiệp đã được thực hiện bởi nhiều nhà kinh

tế học trong và ngoài nước, cụ thể :

+Theo Carter, S., Shelton, M (2009), Blumberg, M. và Pringle (1982),

hiệu quả làm việc của người lao động trong tổ chức phụ thuộc đồng thời vào

ba yếu tố: (1) Năng lực của bản thân người lao động (là khả năng của người

lao động trong thực hiện và giải quyết công việc bao gồm kiến thức, kỹ năng,

hiểu biết và kinh nghiệm cho phép người lao động hồn thành cơng việc được

giao); (2) Nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc, gồm: công cụ, trang

thiết bị, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, cơ chế… để người lao động phát huy được

năng lực; (3) Động lực làm việc (Các chính sách khuyến khích người lao

động đạt kết quả cao trong cơng việc). Trong ba yếu tố thì động lực làm việc



11



được đánh giá có mức ảnh hưởng lớn nhất gây ra những ảnh hưởng tiêu cực

hoặc tích cực đến kết quả làm việc của cá nhân và nhóm làm việc.

Theo Guay và các cộng sự (2010), động lực làm việc của người lao động

trong tổ chức giúp xây dựng bầu khơng khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác

chia sẻ, ít tranh chấp. Người lao động của tổ chức sẵn sàng thích ứng với thay

đổi và khơng phản ứng tiêu cực với những thay đổi. Đây chính là cơ sở quan

trọng để nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động trong tổ chức.

Bên cạnh đó, nhóm tác giả Broussard, S.C và Garrison, M.E.B (2004)

cũng đưa ra công thức về hiệu quả làm việc của người lao động như sau:

Hiệu quả làm việc = Khả năng làm việc x Nguồn lực x Động lực làm

việc

Từ công thức xác định hiệu quả làm việc của Broussard, S.C và

Garrison, M.E.B (2004) có thể thấy tầm quan trọng của động lực làm việc đối

với hiệu quả làm việc của mỗi người lao động trong tổ chức và ảnh hưởng

trực tiếp đến hiệu quả làm việc của cả tổ chức. Hiệu quả làm việc của tổ chức

được nâng lên khi người lao động của tổ chức có động lực làm việc.

Ngồi ra, nghiên cứu của Jurkiewicz và cộng sự (1998) chỉ ra rằng khi

người lao động có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các

vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hoặc tỉ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn, do đó

họ sẽ đóng góp vào thành công của tổ chức cũng như nâng cao hiệu quả làm

việc trong tổ chức. Hay nghiên cứu của Robison, Jennifer (2010) khẳng định

người lao động có động lực làm việc ít bị bệnh trầm cảm và thường có sức

khoẻ về thể chất và tinh thần tốt. Người có động lực làm việc cao sẽ gắn kết

với tổ chức, sáng tạo hơn và phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn. Chính



12



vì vậy, khi người lao động có động lực làm việc sẽ giúp nâng cao hiệu quả

làm việc trong tổ chức.

Như vậy, qua các nghiên cứu đi trước về mối quan hệ giữa động lực và

hiệu quả làm việc của người lao động có thể nhận định động lực làm việc là

yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp đến hiệu quả làm việc. Khi người lao

động có động lực làm việc thì hiệu quả làm việc càng tăng và ngược lại

1.4 Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc

1.4.1 Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943)

Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970), nhu cầu

của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao

nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì nhóm nhu cầu này khơng

còn là động cơ thúc đẩy nữa. Các cấp độ nhu cầu theo Maslow được thể hiện

qua tháp nhu cầu như sau:



13



Hình 1.1. Thuyết nhu cầu của Maslow (1943)

( Nguồn: PGS. TS Trần Minh Đạo (2002), Giáo trình Marketing căn bản,

NXB Giáo Dục, trang 109)

Năm bậc nhu cầu trong hình 1.1 được giải thích như sau:

+ Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân

cuộc sống con người (thức ăn, quần áo mặc, nước uống, nhà ở). Maslow quan

niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để Nhu

cầu tự hồn thiện có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy

được mọi người. Trong hệ thống nhu cầu của Maslow, nhóm nhu cầu này

được xếp ở tầng thấp nhấp.

+ Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể

và sự đe dọa mất việc làm, mất tài sản, vì vậy mà họ sẽ không sẵn sàng làm

việc trong những điều kiện nguy hiểm. Đó là những nhu cầu của con người



14



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (116 trang)

×