1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Lý luận chính trị >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Thứ hai, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội. Đây là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị - xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội.

+ Thứ hai, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội. Đây là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị - xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội.

Tải bản đầy đủ - 0trang

chỉ thu nhận được những tài liệu cảm tính, sau đó tiến hành so sánh, khái qt

hố, trừu tượng hố… để phản ánh bản chất, qui luật của các sự vật, hiện tượng,

từ đó hình thành các khoa học, lý luận. Theo đó, thực tiễn là cơ sở của nhận thức

của lý luận. Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp, dù ở trình độ kinh nghiệm

hay lý luận xét đến cùng đều có nguồn gốc và bị quyết định bởi thực tiễn.

- Hai là, thực tiễn là động lực của lý luận. Trong quá trình hoạt động thực

tiễn biến đổi thế giới con người còn biến đổi bản thân mình, phát triển năng lực

trí tuệ của mình. Nhờ đó, con người ngày càng có khả năng nhận thức, khám phá

bí mật của thế giới, làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức của mình về thế giới.

Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận

thức. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm,

khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học.

Các ngành khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động sản xuất vật

chất, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học của xã hội.

- Ba là, thực tiễn là mục đích của lý luận. Nhận thức, lý luận không phải là

sự phản ánh thụ động, đơn giản là giải thích về thế giới về con người mà phải

phục vụ thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Sự ra đời của các ngành khoa học

và hệ thống lý luận của nó chỉ có ý nghĩa thật sự khi tri thức của khoa học được

vận dụng vào thực tiễn, biến đổi giới tự nhiên xã hội và bản thân con người.

- Bốn là, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý của lý luận. Tính chân lý của

lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực

tiễn kiểm nghiệm. Do đó, mọi lý luận phải thơng qua thực tiễn để kiểm nghiệm.

Vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có

thể đạt đến chân lý khách quan hay khơng, hồn tồn khơng phải là vân đề lý

luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người đã chứng minh

chân lý”. Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung

vào kho tàng tri thức của nhân loại; những những lý luận nào chưa phù hợp thực

tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại.

Phân tích vai trò của thực tiễn đối với lý luận yêu cầu chúng ta phải quán

triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất từ

thực tiễn, dựa trên cơ sở thực thực tiễn đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn.

Quá trình hình thành và phát triển của nhận thức tất yếu dẫn đến sự hình thành

và phát triển của lý luận. Đó khơng chỉ là là sự tổng kết khái quát lịch sử nhận

thức của con người mà còn từ nhu cầu của thực tiễn. Nhu cầu của thực tiễn xét

cho cùng là nhu cầu những tri thức mới và sự vận dụng nó trong hoạt động sản

4



xuất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học làm biến

đổi hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu nói chung của con người.

2.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, lý luận phải được vận

dụng vào thực tiễn, tiếp tục được bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn khơng chỉ khẳng định vai trò của thực

tiễn đối với lý luận mà còn thấy được vai trò của lý luận có ý nghĩa chỉ đạo hoạt

động thực tiễn.

- Một là, thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận

Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với sự vận

động phát triển của tồn tại xã hội, triết học Mác đồng thời thừa nhận rằng trong

những điều kiện khách quan nhất định, tư tưởng con người, đặc biệt là tư tưởng

khoa học có thể vượt trước tồn tại xã hội. Theo đó, lý luận khơng chỉ có khả

năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, biện pháp thực hiện mà còn có

khả năng dự báo xu hướng phát triển, những thành cơng, những rủi ro, những

hạn chế có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của con người. Như vậy, lý luận

có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt

động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ do sự phát triển chín muồi của đời

sống vật chất của xã hội đặt ra. Chính vì vậy, C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí phê

phán cố nhiên khơng thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật

chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành

lực lượng vật chất, một khi nó xâm nhập vào quần chúng”1.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã chỉ ra

những qui luật vận động tất yếu của xã hội lồi người nói chung, của xã hội tư

bản nói riêng và tính tất yếu của q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa

cộng sản. Học thuyết đó trang bị cho giai cấp cơng nhân và chính đảng cộng sản

vũ khí lý luận sâu sắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Học

thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác là cơ sở lý luận về thế giới quan duy

vật và phương pháp luận khoa học cho các ngành khoa học xã hội nghiên cứu xã

hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên. Ngày nay, thực tiễn của lịch sử và tri

thức về lịch sử của nhân loại đã có nhiều bổ sung và phát triển mới so với khi

học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ra đời. Tuy vậy, những cơ sở khoa học mà

họa thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã đem đến khoa học xã hội thì vẫn

có những giá trị đích thực.



1 C.Mác và Ph. Ăng-ghen: Tồn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.580.



5



Giá trị của chân lý của lý luận khơng chỉ mang tính tuyệt đối, tính tương

đối mà còn có tính cụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích

một cách cụ thể mỗi tình hình cụ thể. Nếu vận dụng máy móc, giáo điều kinh

viện chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến kết quả

của hoạt động thực tiễn.

- Hai là, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục được bổ sung

và phát triển trong thực tiễn

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn

của con người trên cơ sở thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy có phong phú, đa

dạng nhưng khơng phải khơng có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được

khái qt dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận khơng chỉ là phương

pháp, mà còn là định hướng mục tiêu, mơ hình và biện pháp giải quyết các mối

quan hệ của hoạt động thực tiễn.

Lý luận mặc dù là logic của thực tiễn, tuy nhiên, lý luận có thể lạc hậu hơn

so với thực tiễn. Do đó, vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta bám sát

diễn biến của thực tiễn và thông qua thực tiễn để tiếp tục bổ sung và phát triển lý

luận cho phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, tính năng động và sáng tạo của lý

luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Về vấn đề này, Lênin đã

nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm khơng

những ở tính phổ biến, mà cả ở tính hiện thực trực tiếp”.

3. Ý nghĩa phương pháp luận của biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

đối với cách mạng Việt Nam và công tác lãnh đạo quản lý, bản thân

3.1. Ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam

Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa phương pháp luận to lớn

đối với cách mạng Việt Nam. Có thể rút ra ba ý nghĩa cơ bản sau:

- Một là, lý luận phải bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu cầu của thực

tiễn, khái quát được kinh nghiệm của thực tiễn.

Thực tiễn là cái được phản ánh, lý luận là cái phản ánh. Thực tiễn luôn luôn

vận động, phát triển và biến đổi. Bám sát thực tiễn không chỉ phản ánh phù hợp

thực tiễn, mà còn phải so sánh, đối chiếu, phân tích để chọn lọc những thực tiễn

mang tính khách quan, tính quy luật làm cơ sở cho quá trình hình thành lý luận.

Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở hình thành lý luận. Lý luận phải

khái quát được kinh nghiệm của lồi người thì lý luận mới có tính khoa học và

đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

6



Đối với cách mạng Việt Nam, Nghị quyết của Bộ Chính trị về cơng tác lý

luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 đánh giá: “công tác lý luận còn có

những hạn chế, khuyết điểm, lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả

nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn”2. Nghị quyết cũng

nêu rõ phương châm của công tác lý luận trong tình hình mới: “Lý luận phải gắn

chặt với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng và phục vụ yêu cầu phát triển

đất nước. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn; nâng cao

năng lực và chất lượng dự báo, định hướng nghiên cứu trong từng thời kỳ. Kiên

trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng

thời, tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa của nhân loại”3.

- Hai là, hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, vận dụng lý luận

phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.

Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử luôn được lý luận khái quát, nhở

khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lý luận có khả năng trở

thành phương pháp luận cho thực tiễn.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng

định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và

kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của mình. Trong điều kiện nước ta

hiện nay, coi trọng lý luận có nghĩa là phải vận dụng sáng tạo các tri thức khoa

học của nhân loại vào điều kiện thực tiễn của đất nước, tránh giáo điều, dập

khuôn, máy móc. Sự phát triển của khoa học cơng nghệ là thành quả của lồi

người. Do đó, con đường phát triển ngắn nhất và bền vững nhất hiện nay của các

quốc gia, dân tộc là tranh thủ thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ để phát

triển đất nước.

Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin khi được vận dụng vào thực

tiễn nước ta phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, gắn với các mục tiêu,

nhiệm vụ và yêu cầu khách quan do thực tiễn đặt ra. Do đó, việc chúng ta tiếp

thu thành quả của tư duy nhân loại trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước; tiếp thu thành quả xây dựng nhà

nước pháp quyền, cơ chế quản lý khoa học công nghệ, văn hoá xã hội… để thực

hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Ba là, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

2 Xem Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về cơng tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030.

3 Xem Nghị quyết 37-NQ/TW



7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Thứ hai, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội. Đây là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị - xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, hoàn thiện các thiết chế xã hội.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×