1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

Tính cấp thiết của đề tài.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (565.11 KB, 113 trang )


triển lâu dài, đề ra các giải pháp nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính, cũng

như khẳng định, tạo niềm tin cho những người sử dụng thông tin nhằm thu

hút đầu tư, cũng như khẳng định thương hiệu trên thị trường và đảm bảo cho

sự phát triển bền vững trong tương lai của doanh nghiệp.

Chính vì vậy, đề tài “Quản lý tài chính của Tổng cơng ty cổ phần

Sơng Hồng” được chọn làm đề tài cho luận văn, nhằm tìm hiểu và đưa ra các

giải pháp phù hợp giúp cơng ty có những định hướng phát triển hiện tại cũng

như trong tương lai.

Đề tài đặt ra hai vấn đề:

Một là: Đề tài nghiên cứu những lý luận cơ bản về quản lý tình hình tài

chính trong doanh nghiệp.

Hai là: nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính tại Tổng cơng ty cổ

phần Sơng Hồng, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện quản lý tài chính

hiệu quả phù hợp với xu thế hội nhập và cung cấp thông tin cho việc ra các

quyết định hợp lý.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích của đề tài này nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá, quản lý tài

chính của Tổng cơng ty. Chính vì thế, q trình quản lý chủ yếu dựa vào sự

biến động của các báo cáo tài chính để thực hiện các nợi dung: đánh giá khái

qt tình hình tài chính của cơng ty, quản lý sự biến động trong các khoản

mục của bảng cân đối kế tốn cũng như báo cáo kết quả hoạt đợng kinh

doanh, quản lý các tỷ sớ tài chính để đưa ra mợt sớ biện pháp nhằm cải thiện

tình hình quản lý tài chính của Tổng cơng ty.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đới tượng nghiên cứu: quản lý tình hình tài chính tại Tổng cơng ty cổ

phần Sơng Hồng.

Phạm vi nghiên cứu: trên nhiều địa bàn các tỉnh.

2



Phạm vi về lĩnh vực nghiên cứu: tình hình tài chính tại Tổng công ty cổ

phần.

Phạm vi về thời gian: năm 2013 – năm 2014

4. Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài đã sử dụng kết hợp các phương pháp luận duy vật biện chứng,

phương pháp điều tra thống kê, phương pháp so sánh, phân tích tỷ lệ, phương

pháp tổng hợp …để thu thập sớ liệu, phân tích và đưa ra nhận xét về vấn đề

liên quan.

Nguồn số liệu được sử dụng trong Luận văn là các số liệu sơ cấp lấy từ

các báo cáo tài chính của Tổng cơng ty cổ phần Sơng Hồng qua các năm

2013, năm 2014.

5. Kết cấu của luận văn:

Phần giới thiệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính của Cơng ty

cổ phần.

Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng tình hình tài chính và quản lý tài chính tại Tổng

công ty cổ phần Sông Hồng.

Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính của Tổng

cơng ty cổ phần Sông Hồng .

Kết luận

Tài liệu tham khảo



3



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CƠNG TY CỔ PHẦN

1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:

Quản lý tài chính doanh nghiệp là cơng cụ hữu ích được dùng để xác

định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, các mặt yếu của mợt doanh

nghiệp, tìm ra ngun nhân khách quan và chủ quan từ đó giúp cho nhà quản

lý lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với thực trạng hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Cho đến nay ở Việt Nam đã có

nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề quản tình hình tài chính như:

- Quyển ‘‘Tài chính doanh nghiệp căn bản’’ của tác giả Nguyễn Minh

Kiều được xuất bản năm 2011 có nợi dung rất phong phú, bao quát hầu hết

những quyết định tài chính mà doanh nghiệp cần xem xét và thực hiện. Cụ

thể, quyển ‘‘Tài chính doanh nghiệp căn bản’’ đã cho chúng ta biết những vấn

đề căn bản về tài chính doanh nghiệp, định giá và quyết định đầu tư, quyết

định nguồn vớn và chính sách cổ tức, những quyết định khác của tài chính

doanh nghiệp. Ngoài việc giới thiệu các khái niệm và lý thuyết về tài chính

cơng ty, tác giả Nguyễn Minh Kiều còn làm rõ và nhấn mạnh đến cách thức

cũng như khả năng ứng dụng các khái niệm và lý thuyết này như thế nào vào

trong thực tế tại Việt Nam.

- Quyển “Phân tích báo cáo tài chính”, của tác giả PGS.TS Nguyễn

Năng Phúc thuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, được xuất bản

năm 2011, đã cho chúng ta thấy tài chính là khâu rất quan trọng trong hoạt

đợng của doanh nghiệp, bởi vì tài chính bao gồm các q trình liên quan đến

việc huy động vốn, sử dụng vốn và làm thế nào để đồng vớn đầu tư vào doanh

nghiệp được sử dụng có hiệu quả. Để đạt được mục tiêu gia tăng lợi nḥn và



1



duy trì hoạt đợng của cơng ty mợt cách ổn định, đòi hỏi cơng ty phải có mợt

cơ cấu tài chính phù hợp và đảm bảo được khả năng thanh tốn. Ngoài ra,

quyển ‘‘Phân tích báo cáo tài chính’’ của tác giả cũng đồng thời cho thấy

phân tích tài chính doanh nghiệp là u cầu khơng thể thiếu đới với các nhà

quản trị, các nhà đầu tư, các chủ nợ và các cơ quan quản lý nhà nước trong

việc đưa ra các quyết định kinh tế. Bên cạnh những lý thuyết cơ bản, chuyên

sâu về phân tích tài chính doanh nghiệp như: tổng quan về tài chính doanh

nghiệp, phân tích chi phí và đòn bẩy hoạt đợng, phân tích kết quả kinh doanh,

phân tích cơ cấu nguồn vớn và tài sản, phân tích lưu chuyển tiền tệ, phân tích

các hệ sớ tài chính; quyển sách còn tập hợp các tình h́ng phân tích trên cơ

sở sớ liệu thực tế của nhiều loại hình doanh nghiệp;

- Tác giả Đoàn Thị Lành (năm 2007) nghiên cứu về “Kế toán quản trị

chi phí trong các doanh nghiệp dệt ở Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp thực

hiện”, ḷn văn trình bày nợi dung về thực trạng cơng tác kế tốn quản trị chi

phí ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phớ Đà Nẵng, đánh giá thực trạng

chung về công tác kế tốn quản trị của các doanh nghiệp từ đó đưa ra các giải

pháp nhằm hoàn thiện cơng tác kế tốn quản trị chi phí ở các doanh nghiệp

trên địa bàn thành phố. Về phương pháp, tác giả Đoàn Thị Lành đã sử dụng

các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tế để

đưa ra các giải pháp tốt nhất nhằm hoàn thiện công tác kế tốn quản trị chi phí

cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý năm 2011 của tác giả Nguyễn

Thị Nhung nghiên cứu về đề tài “Phân tích tình hình tài chính của Cơng ty cổ

phần đầu tư và xây dựng HUD4”, tiến hành cơng tác phân tích tình hình tài

chính và đã đưa ra mợt sớ giải pháp hoàn thiện cơng tác phân tích tình hình tài

chính nhằm nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả sử dụng vốn, nguồn vốn

của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng HUD4.

2



1.2. Quản lý tài chính cơng ty cổ phần

1.2.1. Khái quát về Công ty cổ phần

1.2.1.1 Khái niệm Công ty cổ phần

Trong nền kinh tế thị trường, Công ty cổ phần là loại hình điển hình của

các doanh nghiệp đương đại, là mợt dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn,

được thành lập và tồn tại độc lập đới với những chủ thể sở hữu nó.

Cơng ty cổ phần là mợt thể chế kinh doanh, mợt loại hình doanh nghiệp

hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vớncủa nhiều cổ đơng. Trong cơng

ty cổ phần, sớ vốn điều lệ của công tyđược chia nhỏ thành các phần bằng

nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ

đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.

Chỉ có cơng ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu

chính là mợt bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một

Công ty cổ phần và cổ đơng là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công

ty cổ phần là một trong loại hình cơng ty căn bản tồn tại trên thị trường và

nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khốn.

Bợ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công

ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt

đợng có hiệu quả. Cơng ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng

Quản trị và Ban Điều hành. Đới với cơng ty cổ phần có trên mười mợt cổ

đơng phải có Ban Kiểm sốt.

Theo Điều 77 Ḷt Doanh nghiệp đã được Q́c hợi nước Cợng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/01/2005. Công ty cổ phần (CTCP)

là doanh nghiệp, trong đó:

- Vớn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần.

- Cổ đơng có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba

và không hạn chế tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi sớ vớn đó góp vào

3



doanh nghiệp. Cổ đơng có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho

người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết.

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh.

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khốn các loại để huy

động vốn.

1.2.1.2 Đặc điểm của Công ty cổ phần

Công ty cổ phần mang đặc trưng cơ bản sau:

- Tồn tại lâu dài với tư cách là một pháp nhân đợc lập.

- Chủ sở hữu là mợt nhóm các cổ đơng (thể nhân, pháp nhân và có thể

cả Nhà nước)

- Giới hạn trách nhiệm tài chính của người sở hữu: Người sở hữu chỉ

phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần đóng góp của mình.

- Dễ chuyển nhượng quyền sở hữu (thơng qua mua bán, trao đổi chứng

khốn)

- Có nhiều khả năng tài chính do có thể huy đợng một khối lượng vốn

rất lớn trong xã hội.

Trong các đặc trưng nêu trên thì đặc trưng cơ bản, khác biệt, phân biệt

Cơng ty cổ phần với nhiều loại hình tổ chức doanh nghiệp khác là đặc trưng

về chủ sở hữu và khả năng chuyển nhượng quyền sở hữu.

Cơ cấu sở hữu trong Cơng ty cổ phần có tính linh hoạt. Nếu như hình

thức sở hữu trong doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp 100% vớn nhà nước

là hình thức sở hữu đơn nhất, mợt chủ thể thì hình thức sở hữu trong Cơng ty

cổ phần là mợt hình thức sở hữu hỗn hợp, đa nguyên nhiều chủ thể. Các chủ

thể đó có thể là nhà nước và tư nhân, tư nhân và pháp nhân, hoặc các tư nhân

với nhau. Hình thức sở hữu này rõ ràng đã khơng còn mang trong mình bản

chất vớn có của sở hữu tư nhân tư bản cá biệt mà đã mang các yếu tố xã hợi.



4



Những hình thức doanh nghiệp như cơng ty trách nhiệm hữu hạn,

doanh nghiệp liên doanh cũng là những doanh nghiệp có ít nhất từ 2 chủ sở

hữu trở lên cũng góp vớn, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, chịu trách

nhiệm hữu hạn tương ứng với phần vốn góp của mình. Tuy nhiên Cơng ty cổ

phần lại khác những doanh nghiệp tổ chức theo các hình thức trên ở khả năng

chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp dễ dàng hơn. Các hình thức trên thơng

qua việc mua bán, trao đổi chứng khoán (các chứng từ chứng nhận quyền sở

hữu của các cổ đơng) trên thị trường chứng khốn và các trung gian mơi giới

chứng khốn...

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn trong Công ty cổ

phần cũng là một đặc trưng quan trọng. Bởi chính điều này đưa đến khả năng

quản lý linh hoạt và hiệu quả, song cũng làm xuất hiện những xung đợt có thể

giữa mục tiêu quản lý với mục tiêu sở hữu. Do vậy, điều vô cùng cần thiết để

giảm thiểu những xung đợt đó là phải xây dựng Quy chế quản trị Công ty cổ

phần.

* Công ty cổ phần có khả năng thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Cơng ty cổ phần có khả năng thu hút vốn đảm bảo cho các chiến lược

kinh doanh của Cơng ty, cũng như việc góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng

của đồng vốn. Đây là đặc điểm nổi bật của Công ty cổ phần trong nền kinh tế

thị trường. Thơng qua thị trường chứng khốn, Cơng ty cổ phần có thể tập

trung vớn với quy mơ lớn mà từng nhà kinh doanh riêng biệt không thể làm

được... Về trước mắt, Công ty cổ phần cho phép huy động một phần vốn từ

CBCNV trong doanh nghiệp và một phần không nhỏ từ các cổ đông bên

ngoài doanh nghiệp kể cả từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Về lâu dài, cùng với sự phát triển của TTCK, Công ty cổ phần sẽ là mợt

hình thức cơng ty có khả năng nhất trong việc thu hút vốn với khối lượng lớn

trong mợt thời gian ngắn. Điều này có được là do sự hấp dẫn, linh hoạt của

phương thức đầu tư chứng khoán, nhất là đầu tư cổ phiếu.

5



Khả năng chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu càng làm cho hình thức

đầu tư này có tính linh hoạt, hấp dẫn cao. Nó cho phép những người có sớ vớn

ngắn hạn vẫn có thể tham gia vào lĩnh vực đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Và

vì vậy mợt khới lượng lớn vớn ngắn hạn của xã hợi có thể chuyển thành lượng

vớn đầu tư dài hạn. Đây là một thế mạnh trong việc thu hút vốn của các Công

ty cổ phần.

Sự phát triển của TTCK còn cho phép các Cơng ty cổ phần có khả năng

thu hút những nguồn vớn lớn từ nước ngoài. Trên thực tế, đầu tư qua TTCK là

hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài rất ưa thích. Vì vậy, khi đầu

tư qua TTCK, các nhà đầu tư có nhiều thuận lợi hơn trong việc di chuyển các

nguồn vốn giữa các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới, cho phép họ

có khả năng phản ứng linh hoạt trước những biến động bất lợi cho hoạt động

đầu tư của họ tại các nước nhận đầu tư.

Chính nhờ những ưu thế trong huy đợng vớn mà Cơng ty cổ phần có

khả năng tớt hơn trong việc hiện đại hóa trang thiết bị và cơng nghệ mợt cách

nhanh chóng, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển và mở rộng sản xuất

kinh doanh, điều mà các doanh nghiệp nhà nước với phương thức huy động

vốn chủ yếu từ NSNN hoặc từ vốn vay của ngân hàng sẽ có nhiều khó khăn

để thực hiện. Để mở rợng sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước

thường phải vay ngân hàng. Lượng vay này thường cũng có giới hạn, hơn nữa

các doanh nghiệp lại phải lo trả lãi một cách định kỳ và trả gốc khi đến kỳ

hạn. Điều này khiến cho nguồn vốn cảu các doanh nghiệp nhà nước có phần

khơng ổn định. Còn đới với Cơng ty cổ phần, mặc dù các cổ đơng có khả năng

chuyển nhượng để thu hồi vốn nhưng nguồn vốn của công ty vẫn giữ ổn định.

Do đó, có thể thấy là tổ chức doanh nghiệp dưới hình thức Cơng ty cổ phần là

mợt hình thức hiệu quả hơn nhiều so với mơ hình doanh nghiệp 100% vớn

nhà nước trong việc huy động vốn để mở rộng SXKD, nhất là khi doanh

nghiệp đang làm ăn có hiệu quả.

6



* Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả cao

Cơng ty cổ phần là mợt mơ hình có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đảm bảo

hiệu quả cao trong tổ chức sản xuất kinh doanh. Cơ cấu tổ chức của một Công

ty cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị

(HĐQT), Ban kiểm sốt, Giám đớc (Tổng giám đớc) điều hành và bợ phận

giúp việc trong đó ĐHĐCĐ, cơ quan của các chủ sở hữu, có quyền quyết định

các vấn đề quan trọng nhất của công ty như thành lập, sáp nhập, giải thể, thay

đổi chủ sở hữu, thông qua chiến lược kinh doanh và kế hoạch kinh doanh

hàng năm. Ngoài ra, ĐHĐCĐ còn quyết định những vấn đề quan trọng liên

quan đến lợi ích thiết thân của chủ sở hữu như bầu cử, bãi miễn các thành

viên trong HĐQT, phê chuẩn các phương án phân chia lợi nhuận, tỷ lệ cổ

tức...

HĐQT là cơ quan thường trực của ĐHĐCĐ, thực hiện chức năng quản

trị công ty thay mặt các cổ đông, chịu trách nhiệm trực tiếp trước ĐHĐCĐ.

Các thành viên trong HĐQT thường là các cổ đông lớn (với số cổ phiếu lớn

hơn một giới hạn nhất định theo điều lệ công ty do ĐHĐCĐ qui định) được

ĐHĐCĐ bầu ra. HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi

vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của cơng ty, trừ những vấn đề thuộc

thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT thực hiện quyền sở hữu pháp nhân đối với

doanh nghiệp, quản lý việc sử dụng các nguồn vớn đóng góp của các cổ đông

thông qua việc bổ nhiệm và giám sát hoạt động của Giám đốc trong việc tổ

chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Ban kiểm sốt là cơ quan do ĐHĐCĐ bầu ra có cơ cấu và thành phần do

ĐHĐCĐ quy định và được ghi vào điều lệ của cơng ty. Ban kiểm sốt là cơ

quan đợc lập với HĐQT, có chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của HĐQT

cũng như Ban Giám đốc công ty, chịu trách nhiệm báo cáo trước ĐHĐCĐ.

Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành thực chất chỉ là người làm thuê



7



cho HĐQT, chịu trách nhiệm trực tiếp trước HĐQT khơng chịu trách nhiệm

trước ĐHĐCĐ. HĐQT có thể chỉ định một thành viên trong hội đồng làm

Giám đốc (Tổng giám đớc) hoặc cũng có thể th mợt người có chuyên môn

từ bên ngoài. Giám đốc được giao nhiệm vụ tổ chức và điều hành các hoạt

động SXKD của doanh nghiệp theo kế hoạch mà HĐQT giao cho. Hoạt động

của Giám đốc điều hành và bộ phận phụ tá (do Giám đốc chỉ định và phân

công) chịu sự giám sát chặt chẽ của các thành viên trong HĐQT (đã được

phân cơng) và của Ban kiểm sốt.

Như vậy, cũng với sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu tài sản cuối

cùng với quyền sở hữu tài sản pháp nhân, sự phân công trách nhiệm trong

Công ty cổ phần cũng rất rõ ràng rành mạch, thơng qua chế đợ HĐQT. Theo

đó HĐQT có quyền quản lý toàn bợ các hoạt đợng của công ty theo sự ủy

quyền của ĐHĐCĐ song cũng đồng thời chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt

động của cơng ty trước ĐHĐCĐ, khắc phục tình trạng khơng rõ ràng giữa

trách nhiệm của Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước với trách nhiệm của

các cơ quan chủ quản trước chủ sở hữu là Nhà nước trong các doanh nghiệp

nhà nước trước đây.

Hơn nữa, HĐQT là cơ quan đại diện chủ sở hữu song bản thân các

thành viên HĐQT cũng đồng thời là các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do

vậy họ không thể thờ ơ vô trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của doanh

nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của chính họ.

Thêm vào đó, áp lực từ phía cổ đơng vì lợi ích của mình cũng khơng cho phép

họ làm như vậy. Do đó, cổ phần hóa cũng là biện pháp khắc phục tình trạng

“vơ chủ” đang còn tồn tại trong nhiều doanh nghiệp nhà nước, phát huy tính

năng đợng, sáng tạo của đội ngũ quản lý trên cơ sở gắn liền lợi ích của họ với

lợi ích của doanh nghiệp.

Cơng ty cổ phần là hình thức cơng ty sử dụng có hiệu quả đồng vớn,

8



nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, Cơng ty cổ phần có toàn quyền

tự chủ trong sản xuất kinh doanh, người lao động được thực sự làm chủ.

Với việc nắm giữ một phần tài sản nhất định của doanh nghiệp, người

lao động không những là người làm thuê cho doanh nghiệp mà còn đồng thời

là người chủ sở hữu của doanh nghiệp, người chủ của chính mình. Lợi ích của

họ càng gắn bó thiết thân với cơng ty. Điều đó khuyến khích họ năng động,

sáng tạo, tự chủ hơn trong công việc. Đây cũng chính là đợng lực thúc đẩy họ

sản xuất, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả cơng việc. Đồng thời, là chủ sở

hữu của công ty, người lao động sẽ giám sát một cách sát sao hoạt động quản

lý của Ban lãnh đạo công ty, ngăn chặn những hành vi sai trái của họ gây thiệt

hại đến lợi ích của công ty. Người lao động, với tư cách là cổ đơng, hoàn toàn

có quyền bỏ phiếu bãi chức các thành viên của HĐQT nếu xét thấy họ không

đủ năng lực và phẩm chất. Điều đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý

của doanh nghiệp.

Mơ hình Cơng ty cổ phần khơng phải là khơng có những hạn chế nhưng

với những đặc điểm cơ bản như đã phân tích ở trên, nó chắc chắn vẫn là mơ

hình cơng ty hiệu quả nhất, phù hợp nhất với môi trường kinh tế thị trường

hiện đại, trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới.

1.2.2 Quản lý tài chính của Cơng ty cổ phần

1.2.2.1 Khái niệm quản lý tài chính của Cơng ty cổ phần

Khái niệm quản lý tài chính hiểu một cách đơn giản là công tác quản lý

các vấn đề trong doanh nghiệp có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các

biện pháp đảm bảo sự cân đới, hài hoà các mới quan hệ tài chính của doanh

nghiệp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt

năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.

Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết

định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục

9



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (113 trang)

×