1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (395.45 KB, 90 trang )


được tham khảo ý kiến của các cơ quan hữu quan và các tổ chức, doanh nghiệp để

kịp thời tiếp thu, sửa đổi các điểm bất cập, hạn chế.

Ngoài các chủ thể tham gia giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, các cơ quan tư

pháp như Tòa án, cơ quan Thi hành án cũng là những cơ quan có những đóng góp to

lớn cho việc hồn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ. Những vướng mắc, bất

cập, yếu kém của pháp luật được phát hiện trong thực tiễn xét xử, thi hành án dân

sự sẽ là nguồn đóng góp quan trọng nhằm hồn thiện pháp luật.

3.1.2. Hồn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ để đáp ứng yêu cầu từ thực

tiễn hoạt động của các Ngân hàng thương mại

Đối với các loại tài sản bảo đảm hữu hình, khi bên có nghĩa vụ được bảo đảm

khơng thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, bên nhận bảo

đảm có thể tịch thu, thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Nhưng đối với tài sản bảo

đảm là quyền đòi nợ - một loại tài sản vơ hình, bên nhận bảo đảm khơng thể áp

dụng biện pháp thu giữ mà chỉ có thể thơng báo, u cầu bên có nghĩa vụ trong hợp

đồng phát sinh quyền đòi nợ thanh tốn giá trị của hợp đồng. Như vậy, việc xử lý

quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp khó khăn hơn việc xử lý tài sản bảo đảm hữu

hình rất nhiều và phụ thuộc vào bên thứ ba đó là bên có nghĩa vụ thanh tốn. Do đó,

quyền đòi nợ thơng thường chỉ được các Ngân hàng thương mại nhận thế chấp với

tính chất là tài sản bảo đảm bổ sung bên cạnh các tài sản bảo đảm khác. Trường hợp

được nhận bảo đảm với tính chất là tài sản bảo đảm chính thì bên được bảo đảm

thường sẽ phải đáp ứng các điều kiện được cho vay khơng có bảo đảm theo quy

định của Ngân hàng thương mại. Sở dĩ có tình trạng nêu trên là bởi vì pháp luật hiện

hành chưa có một cơ chế chắc chắn để bảo đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp

quyền đòi nợ. Nếu như vấn đề quản lý quyền đòi nợ là vấn đề các Ngân hàng

thương mại có thể kiểm sốt, chủ động được thơng qua các biện pháp như thơng

báo với bên có nghĩa vụ thanh toán, yêu cầu bên bảo đảm mở tài khoản tại Ngân

hàng thương mại nhận thế chấp để nhận các khoản thanh tốn của bên có nghĩa vụ

thì vấn đề xử lý quyền đòi nợ lại khơng phải vấn đề các Ngân hàng thương mại

được tự do thực hiện mà phải trên cơ sở quy định của pháp luật. Như vậy, vấn đề



70



vướng mắc lớn nhất cần giải quyết là đưa ra cơ chế xử lý một cách hiệu quả quyền

đòi nợ và một trong những biện pháp có thể xem xét lựa chọn là trao quyền chủ

động cho bên nhận thế chấp. Theo đó, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa

vụ theo quy định tại hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ, bên nhận thế chấp có thể áp

dụng các biện pháp hợp pháp để thu hồi số tiền bên có nghĩa vụ phải thanh tốn,

bao gồm nhưng khơng giới hạn các biện pháp như thu giữ tài sản khác của bên có

nghĩa vụ, yêu cầu ngân hàng nơi bên có nghĩa vụ mở tài khoản phong tỏa tài khoản,

trích tiền từ tài khoản của bên có nghĩa vụ thanh tốn.

Nếu vướng mắc về cách thức xử lý quyền đòi nợ được giải quyết, quyền đòi

nợ có thể trở thành một loại tài sản bảo đảm thực thụ, phát huy được vai trò của

mình và mang lại cơ hội tiếp cận nguồn vốn rất lớn cho các thành phần kinh tế trong

xã hội. Đồng thời, cũng mở ra cơ hội kinh doanh mới cho các tổ chức tín dụng nói

chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng.

3.1.3. Hồn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ để đáp ứng yêu cầu hội nhập

quốc tế

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một trong những yếu tố được các

nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hàng đầu trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào

Việt Nam đó là hệ thống pháp luật. Sự hoàn thiện, ưu việt, minh bạch của hệ thống

pháp luật không chỉ là thước đo sự phát triển của một quốc gia mà còn là một yếu tố

có sức hút mãnh liệt đối với các nhà đầu tư. Thật vậy, khi đầu tư vào một quốc gia,

các nhà đầu tư cần biết chắc chắn rằng nếu có rủi ro, tranh chấp xảy ra đối với

nguồn vốn của mình, họ có thể được bảo vệ bởi pháp luật của nước sở tại hay

khơng, có cơ sở để thu hồi vốn hay khơng. Quyền đòi nợ là loại tài sản hữu hình chỉ

bắt đầu được thừa nhận trong thời đại kinh tế thị trường, như vậy có thể nói quyền

đòi nợ là loại tài sản của xã hội văn bản. Do đó, sự hồn thiện của pháp luật về thế

chấp quyền đòi nợ sẽ là minh chứng xác đáng thể hiện sự tiến bộ của một hệ thống

pháp luật.

Hiện nay, vươn ra thị trường quốc tế là mục tiêu của rất nhiều các doanh

nghiệp Việt Nam. Để làm được điều này không chỉ cần sự nỗ lực của bản thân các



71



doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, nâng cao năng lực

cạnh tranh mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại nhiều

quốc gia trên thế giới, sự phát triển của hệ thống pháp luật của nước mà doanh

nghiệp đó mang quốc tịch là một trong những điều kiện đầu tiên quyết định việc

một doanh nghiệp có thể đầu tư vào quốc gia đó hay khơng.

Khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế, sự hoàn thiện của hệ thống

pháp luật cũng là một trong những yếu tố quan trọng được các tổ chức này quan

tâm, xem xét. Do đó, muốn hội nhập kinh tế quốc tế, một đòi hỏi cấp thiết là Việt

Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hơn nữa vai trò của pháp luật.

Trong thời gian gần đây quyền đòi nợ mới trở thành loại tài sản bảo đảm phổ

biến và được các Ngân hàng thương mại nhận thế chấp một cách rộng rãi. Có lẽ một

phần vì lý do đó mà các quy định của pháp luật về vấn đề thế chấp quyền đòi nợ còn

khá hạn chế và bất cập.

3.2. Giải pháp, kiên nghị về hoàn thiện pháp luật

3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành

a) Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005

Thứ nhất: Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thừa nhận quyền đòi nợ là một loại

tài sản và có thể dùng làm tài sản bảo đảm nhưng lại chưa đưa ra định nghĩa về

quyền đòi, điều này gây khó khăn cho các chủ thể khi xác định loại tài sản này.

Ngày nay, khi quyền đòi nợ đang từng bước trở thành đối tượng giao dịch phổ biến

trong xã hội, việc đưa ra định nghĩa thống nhất về quyền đòi nợ là thực sự cần thiết

và hữu ích.

Thứ hai: Như đã nêu tại Chương 2 của Luận văn, giống như một số loại tài

sản khác, quyền đòi nợ cũng được chia ra thành 02 loại là quyền đòi nợ đã hình

thành và quyền đòi nợ hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, về cách hiểu 02 loại

quyền đòi nợ này thì vẫn còn nhiều tranh cãi. Cùng với việc quy định khái niệm

quyền đòi nợ, thiết nghĩ rằng cũng nên quy định các tiêu chí xác định, phân biệt

giữa quyền đòi nợ đã hình thành và quyền đòi nợ hình thành trong tương lai, đồng

thời quy định cơ chế pháp lý áp dụng đối với các loại quyền đòi nợ này.



72



Thứ ba: Hợp đồng bảo đảm bắt buộc phải có những nội dung nào là vấn đề

chưa được pháp luật quy định rõ. Chẳng hạn giá trị của tài sản bảo đảm là một trong

những nội dung trọng yếu của của hợp đồng bảo đảm, nhưng theo hướng dẫn của

Bộ Tư pháp thì lại khơng nhất thiết phải ghi trong hợp đồng bảo đảm, trừ thế chấp

nhà ở là phải ghi rõ. Điều 402 của Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định: “Tuỳ

theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây”.

Như vậy, nếu pháp luật khơng có quy định cụ thể về việc loại hợp đồng đó cần có

những điều khoản bắt buộc nào thì các bên chủ thể tham gia giao dịch có tồn

quyền quyết định nội dung, các điều khoản của hợp đồng, miễn là các điều khoản

đó khơng trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Không giống như các loại

hợp đồng dân sự khác, hợp đồng bảo đảm gần như không bao giờ phát sinh một

cách độc lập mà luôn tồn tại song song cùng với một giao dịch, hợp đồng khác. Khi

phải xử lý tài sản bảo đảm là lúc hợp đồng phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm đã xảy

ra tranh chấp, mối quan hệ giữa bên nhận bảo đảm và bên được bảo đảm đã rạn nứt

hoặc trở nên căng thẳng. Khi đó, nếu hợp đồng bảo đảm khơng quy định một cách

rõ ràng, đầy đủ thì nguy cơ xảy ra tranh chấp là rất lớn vì lúc này thiện chí của các

bên dành cho nhau đã khơng còn hoặc bị giảm sút đáng kể. Do đó, nhằm hạn chế tối

đa các tranh chấp có thể xảy ra và tạo cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp, theo tác

giả việc quy định các nội dung chính của hợp đồng bảo đảm là thực sự cần thiết.

Thứ tư: Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền đòi nợ là loại tài sản

không bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, giao dịch thế chấp quyền đòi nợ là giao

dịch khơng bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, nếu áp dụng

nguyên tắc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán được quy định tại Điều 325 Bộ luật

Dân sự năm 2005 vào giao dịch thế chấp quyền đòi nợ thì việc đăng ký giao dịch

thế chấp quyền đòi nợ lại trở thành yếu tố quyết định thứ tự ưu tiên thanh tốn. Như

vậy, mặc dù pháp luật khơng bắt buộc các bên phải đăng ký thế chấp giao dịch thế

chấp quyền đòi nợ nhưng để bảo đảm quyền lợi của mình, dù muốn hay khơng bên

nhận thế chấp vẫn phải thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm. Rõ ràng, quy định của



73



pháp luật đang có sự mâu thuẫn với nhau. Do đó, đề nghị sửa đổi theo một trong hai

hướng sau đây:

Một là, không áp dụng nguyên tắc xác định định thứ tự ưu tiên thanh toán

quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2005 đối với giao dịch thế chấp quyền

đòi nợ mà xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận thế chấp một

quyền đòi nợ trên cơ sở thứ tự thơng báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ.

Hai là, quy định rõ giao dịch thế chấp quyền đòi nợ là giao dịch bảo đảm cần

phải đăng ký, nếu vẫn áp dụng nguyên tắc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán nêu

trên đối với giao dịch thế chấp quyền đòi nợ.

Thứ năm: Tự do hợp đồng là phương thức thực hiện quyền sở hữu tài sản và

quyền tự do kinh doanh. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã mở rộng và cụ thể hoá đầy đủ

hơn so với Bộ luật Dân sự năm 1995 nguyên tắc tự do cam kết thoả thuận. Tuy

nhiên, để các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 nói chung, của chế định hợp

đồng nói riêng là những quy định mang tính nền tảng, cơ sở chung cho các quy định

luật chuyên ngành, thích ứng với thể chế thị trường, cần có những sửa đối, bổ sung

sau đây:

-



Nên thống nhất dùng khái niệm hợp đồng, bỏ cụm từ “dân sự”.



-



Cần sắp xếp lại cơ cấu phần nghĩa vụ – hợp đồng để có sự thống nhất chặt

chẽ hơn, khắc phục sự trùng lặp những quy định về nghĩa vụ, hợp đồng cũng

như sự rời rạc, thiếu gắn kết.



-



Các quy định về hợp đồng, giao dịch cần khái quát cao hơn. Xác định một

cách rõ ràng, cụ thể tính chất của các đối tượng để có các quy phạm thích

ứng: hoặc là quy phạm mệnh lệnh, tuỳ nghi, tuỳ nghi lựa chọn; tăng cường

các quy phạm tuỳ nghi và tuỳ nghi lựa chọn; tăng cường các quy định về

trách nhiệm pháp lý của các bên trong các hợp đồng cụ thể.



-



Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 quá tự do cho kẻ mạnh, khơng

an tồn cho kẻ yếu. Điều này thể hiện ở chỗ: tự do hợp đồng nhưng chế độ

trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng khơng rõ ràng, khó áp dụng,

khơng khả thi. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, cần tăng cường các quy định



74



cụ thể, rõ ràng hơn về điều kiện thương mại chung trong Bộ luật Dân sự,

tăng cường bảo vệ người tiêu dùng trong các loại hợp đồng “gia nhập”. Điều

407 Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa đủ căn cứ chặt chẽ để bảo vệ tự do hợp

đồng một cách lành mạnh.

-



Sửa đổi các quy định về các khái niệm hợp đồng cụ thể cho chính xác hơn,

phù hợp với bản chất pháp lý của mỗi loại hợp đồng.

Thứ sáu: Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì một trong



những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đó là các bên tham gia giao dịch

hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại chưa có giải thích thế nào

được coi là tự nguyện, tiêu chí, cách thức xác định sự tự nguyện, điều này gây khó

khăn cho các bên tham gia giao dịch trong trường hợp phải chứng minh về sự tự

nguyện. Do đó, nên có quy định, hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, cách thức xác định

sự tự nguyện trong tham gia giao dịch dân sự.

Thứ bảy: Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi giao dịch dân

sự vơ hiệu thì các bên khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho nhau những gì

đã nhận; nếu khơng hồn trả được bằng hiện vật thì phải hồn trả bằng tiền, trừ

trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của

pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.

Quy định này chưa xác định việc hoàn trả bằng tiền theo giá trị của vật tại

thời điểm giao kết hay thời điểm hoàn trả. Quy định này cũng chưa tính đến trường

hợp có hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã giao thì ai sẽ là người nhận phần phát

sinh đó. Đây là trường hợp khá phức tạp vì có những trường hợp hoa lợi, lợi tức

phát sinh một cách tự nhiên nhưng có trường hợp lại là do cơng sức của người nhận

chuyển giao tài sản, nếu Bộ luật Dân sự không quy định về trường hợp này thì sẽ

khơng đủ cơ sở để giải quyết tranh chấp giữa các bên.

Đối với những tài sản là nhà, đất khơng còn ngun giá trị ban đầu thì giải

quyết như thế nào và cần áp dụng khung giá nào khi giải quyết hậu quả của hợp



75



đồng vơ hiệu. Thực tế có sự chênh lệch giá quá cao giữa giá nhà đất do Ủy ban nhân

dân cấp tỉnh quy định với giá thị trường tại thời điểm xét xử.

Bên cạnh đó, khơng phải giao dịch lúc nào cũng vơ hiệu tuyệt đối bởi có

những trường hợp giao dịch rơi vào trường hợp vô hiệu nhưng các bên đã thực hiện

một phần hoặc toàn bộ giao dịch và lợi ích của việc cơng nhận giao dịch lớn hơn lợi

ích của việc hủy giao dịch thì cần cơng nhận giao dịch đó và việc vi phạm của các

bên có thể xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác.

Do đó, đề nghị bổ sung quy định về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch

dân sự vơ hiệu: Nếu khơng hồn trả được bằng hiện vật mà hồn trả bằng tiền thì

tính theo giá trị của vật tại thời điểm hoàn trả. Trong trường hợp tài sản mà các bên

chuyển giao có phát sinh hoa lợi, lợi tức: nếu hoa lợi, lợi tức phát sinh một cách tự

nhiên thì phải trả lại cùng với tài sản và người trả lại được thanh tốn chi phí quản

lý. Nếu hoa lợi, lợi tức hoàn toàn do kết quả của sáng kiến và công sức lao động của

bên quản lý tài sản thì người quản lý tài sản khơng phải chuyển giao lại cùng với tài

sản, nhưng phải thanh tốn chi phí sử dụng tài sản cho bên kia.

Thứ tám: Khoản 2 - Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong

trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền

chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời

gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc

pháp luật có quy định khác”. Thực tế hiện nay, mức lãi suất do Ngân hàng Nhà

nước cơng bố chỉ là mức lãi suất có tính định hướng để các tổ chức tín dụng tham

khảo ấn định mức lãi suất cho vay đối với khách hàng. Trên thực tế, mức lãi suất cơ

bản luôn thấp hơn rất nhiều so với mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng.

Nếu việc chậm trả tiền chỉ dẫn đến nghĩa vụ phải trả lãi theo lãi suất cơ bản thì việc

chậm trả tiền đương nhiên là có lợi cho người có nghĩa vụ trả tiền và vơ hình chung

khuyến khích các đương sự chiếm dụng vốn của nhau thơng qua việc vi phạm nghĩa

vụ thanh tốn.



76



Mặt khác, Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm do việc

chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại hai khoản, tuy nhiên, nội dung của hai khoản

trong điều luật này đặt ra tranh cãi: đây là hai quy định loại trừ nhau hay có thể áp

dụng trong cùng một tình huống? Cụ thể là: trong trường hợp người có nghĩa vụ vi

phạm nghĩa vụ trả tiền thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm theo Khoản 2 - Điều 305

hay họ phải chịu trách nhiệm tại cả hai khoản? Nếu người có nghĩa vụ vi phạm

nghĩa vụ trả tiền phải chịu trách nhiệm theo quy định tại toàn văn điều luật thì có

nghĩa là, người có quyền khơng những được yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực

hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ, mà còn được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải bồi

thường thiệt hại ngồi hợp đồng; còn nếu người có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ trả

tiền chỉ phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Khoản 2 - Điều 305 thì người có

quyền chỉ được yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ và

được đền bù thiệt hại theo thỏa thuận đã có trong hợp đồng hoặc được hưởng lãi

trên số tiền chậm được nhận, theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố,

mà khơng có quyền u cầu người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại. Sự thể

hiện không rõ ràng trong Điều luật này có thể tạo ra tranh chấp giữa các bên trong

các tình huống tương ứng và Tòa án không đủ cơ sở pháp lý để giải quyết và có thể

sẽ có những cách vận dụng pháp luật khác nhau tại các cơ quan Tòa án khác nhau.

Do đó, để khắc phục tình trạng nêu trên, cần sửa đổi quy định tại Điều 305 Bộ luật

Dân sự năm 2005 theo hướng rõ ràng hơn.

b) Sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm

Thứ nhất: Tại Điều 22 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định bên nhận

thế chấp có nghĩa vụ “cung cấp thơng tin việc thế chấp quyền đòi nợ, nếu bên có

nghĩa vụ trả nợ u cầu”, đồng thời quy định bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền “yêu

cầu bên nhận thế chấp cung cấp thơng tin về việc thế chấp quyền đòi nợ; nếu khơng

cung cấp thơng tin thì có quyền từ chối thanh toán cho bên nhận thế chấp”.

Theo quy định nêu trên thì bên nhận thế chấp sẽ chỉ phải cung cấp thơng tin

nếu bên có nghĩa vụ trả nợ u cầu. Như vậy, nếu tại thời điểm các bên xác lập giao

dịch thế chấp quyền đòi nợ mà bên có nghĩa vụ trả nợ không biết để thực hiện



77



quyền yêu cầu của mình thì bên nhận thế chấp cũng khơng có nghĩa vụ phải thông

báo. Quy định nêu trên không hề đề cập gì đến vai trò của bên thế chấp trong việc

thông tin, thông báo về việc thế chấp quyền đòi nợ cho bên có nghĩa vụ trả nợ.

Trong khi đó, tại Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2005 lại quy định:

“1. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao

quyền yêu cầu hoặc người thế quyền khơng chứng minh về tính xác thực của việc

chuyển giao quyền u cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện

nghĩa vụ đối với người thế quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao

quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu

thì người thế quyền khơng được u cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ

đối với mình”.

Như vậy, nếu áp dụng quy định tại Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2005 vào

giao dịch thế chấp quyền đòi nợ thì bên có nghĩa vụ hồn tồn có thể nại ra lý do

khơng được thông báo để từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên nhận thế chấp.

Trên thực tế, khi yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh tốn tiền mua hàng hóa/tiền

phí dịch vụ, đa số bên bán hàng/bên cung ứng dịch vụ chỉ cần gửi tới bên có nghĩa

vụ thanh tốn văn bản đề nghị thanh tốn. Do đó, việc bên thế chấp khơng thơng

báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ về việc thế chấp quyền đòi nợ có thể dẫn đến tình

trạng bên có nghĩa vụ trả nợ vẫn thực hiện nghĩa vụ trả nợ với bên thế chấp. Vì vậy,

nếu bên thế chấp cố tình gian lận thì bên nhận thế chấp sẽ bị thiệt hại. Như vậy, rõ

ràng, quyền lợi của bên nhận thế chấp hoàn toàn phụ thuộc vào bên thế chấp.

Để có sơ sở giải quyết các vấn đề nêu ở trên, thiết nghĩ rằng cần có quy định

rõ ràng về việc các chế định pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu có được áp

dụng đối với thế chấp quyền đòi nợ hay khơng. Đồng thời, quy định cụ thể trách

nhiệm thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ của bên thế chấp. Ngoài ra, để đảm bảo

bên thế chấp sẽ thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thơng báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ

về việc thế chấp quyền đòi nợ, pháp luật cũng cần bổ sung chế tài áp dụng đối với

bên thế chấp trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thông báo.



78



Thứ hai: Điều 66 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định 02 cách thức xử

lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ đó là u cầu người thứ ba là (i) người có nghĩa

vụ trả nợ chuyển giao các khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên nhận bảo đảm hoặc

cho người được bên nhận bảo đảm uỷ quyền; (ii) bù trừ nghĩa vụ trong trường hợp

bên nhận bảo đảm đồng thời là người có nghĩa vụ trả nợ.

Thực tế, ngoài các cách thức nêu trên, bên nhận thế chấp hồn tồn có thể có

lựa chọn khác đó là chuyển giao quyền đòi nợ đó cho một bên thứ ba khác. Đối với

trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm đến hạn trước nghĩa vụ thanh toán theo quy định

tại hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ thì cách thức xử lý này theo tác giả là một lựa

chọn khá có lợi cho cả bên nhận thế chấp và bên có nghĩa vụ thanh tốn vì bên có

nghĩa vụ thanh tốn sẽ khơng phải thanh tốn giá trị hợp đồng mua bán hàng

hóa/cung ứng dịch vụ trước hạn, giúp họ có thời gian để thu xếp tài chính, trong khi

bên nhận thế chấp thì khơng phải chờ đợi mà vẫn thu hồi được tiền vốn.

Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, pháp luật hiện hành nên bổ sung thêm

phương thức chuyển nhượng quyền đòi nợ vào các phương thức xử lý tài sản bảo

đảm là quyền đòi nợ. Đồng thời cho phép các chủ thể được quyền lựa chọn phương

thức xử lý khác với các phương thức mà pháp luật đã quy định.

Thứ ba: Cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu

quan trong việc áp dụng pháp luật về giao dịch bảo đảm nói chung và xử lý tài sản

bảo đảm nói riêng.

Mặc dù pháp luật hiện hành đã có quy định cụ thể về các trường hợp xử lý tài

sản bảo đảm, phương thức xử lý tài sản bảo đảm nhưng trên thực tế việc xử lý tài

sản bảo đảm vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Những khó khăn, vướng

mắc ấy khơng chỉ ở sự chống đối, thiếu hợp tác của bên bảo đảm mà còn ở phía các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi bên nhận bảo đảm hoặc bên nhận chuyển

nhượng tài sản bảo đảm thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 58 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi

bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP thì người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã

được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà

79



khơng cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm . Như vậy, theo

quy định này thì bên nhận bảo đảm hồn tồn có thể căn cứ vào hợp đồng bảo đảm

để xử lý tài sản bảo đảm mà khơng cần có sự ủy quyền hoặc đồng ý của bên bảo

đảm. Tức là bên nhận bảo đảm có thể thực hiện các hoạt động, ký kết các giấy tờ,

tài liệu nhằm xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trên thực tế khi thực hiện các công

việc này, bên nhận bảo đảm đang gặp phải những vướng mắc từ phía các cơ quan

nhà nước có thẩm quyền. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc xử lý

tài sản bảo đảm, thiết nghĩ cần có sự trao đổi và thống nhất về mặt quan điểm giữa

cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp. Ngoài ra, thực trạng cùng một quy định

pháp luật nhưng cách hiểu của các cơ quan nhà nước tại các địa phương khác nhau

là khác nhau không phải là vấn đề hiếm gặp. Điều này dẫn đến tình trạng các vụ

việc có tính chất tương tự nhưng khi được giải quyết tại các địa phương khác nhau

thì kết quả lại hồn tồn khác biệt.

3.2.2. Tăng cường năng lực của tổ chức tín dụng và nâng cao nhận thức của

khách hàng

Hiện nay, số lượng các tổ chức tín dụng tại Việt Nam khá nhiều, trong khi

đó, sự khủng hoảng kinh tế đã khiến khách hàng thận trọng hơn trong việc đầu tư và

tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Cung lớn hơn cầu là tình trạng của hoạt động

ngân hàng trong thời gian vừa qua, vì vậy, sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng

ngày càng khốc liệt. Để tồn tại và phát triển, các tổ chức tín dụng một mặt phải đưa

ra các chính sách nhằm thu hút khách hàng, mặt khác cũng cần hết sức thận trọng

để sàng lọc khách hàng, hạn chế và kiểm sốt nợ xấu. Thực tế này đòi hỏi các tổ

chức tín dụng cần nâng cao năng lực trong việc hoạch định, xây dựng chính sách,

định hướng phát triển; xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống đánh giá tín

nhiệm khách hàng; xây dựng cơ chế kiểm sốt, thẩm định khách hàng một cách

chính xác nhưng vẫn phải đảm bảo về thời gian cung ứng dịch vụ. Song song với

việc xây dựng hệ thống chính sách, các quy định nội bộ, việc đào tạo, nâng cao

trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhân viên cũng phải được chú trọng.



80



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (90 trang)

×