1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH MTQG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở CÁC XÃ, THÔN BẢN ĐBKK TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN (2012 - 2015)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (349.38 KB, 80 trang )


BIỂU 3.1: SƠ ĐỒ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở CÁC CẤP

1. Sơ đồ tổ chức ban chỉ đạo chương trình 135 cấp tỉnh

UBND TỈNH



BCĐ CT135



Sở

LĐTB

&XH



Sở

GT

VT



Sở

KH

&

ĐT



Ban

Dân

tộc



Sở

Tài

chính



Sở

Xây

dựng



Sở

NN&

PTNT



Kho

bạc



2. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BQL CHƯƠNG TRÌNH 135 CẤP HUYỆN

HĐND, UBND



BCĐ CT 135



Phòng

LĐTB

-XH



Phòng

KHTC



Phòng

Cơng

thương



Phòng

Dân

tộc



32



Phòng

NN&

PTNT



Kho

bạc



3. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 135 CẤP XÃ

ĐU, HĐND, UBND



BQL CT135



BGS CT135



1 PCT UBND; 1 CB Văn phòng

thống kê; 1 CB Kế tốn; 1 CB

Cơng an; 1 CB giao thong; 1 CB

phụ trách Nông nghiệp



1 CB MTTQ; 1 CB ĐTN; 1 CB

Hội phụ nữ; 1 CB Hội nông dân;

1 CB Hội cựu chiến binh



* Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn một số hạn chế:

- Cơng tác chỉ đạo của một số huyện vẫn còn có những bất cập; nhiều

đầu mối nên không tập trung, hạn chế về năng lực, chưa ngang tầm nhiệm vụ

được giao. Một số huyện công tác tổ chức hoạt động như: giám sát, kiểm tra,

đánh giá tình hình thực hiện chương trình còn nặng về hình thức, mang tính

thống kê đơn thuần, ít đề xuất kiến nghị tháo gỡ khó khăn trong thực hiện

Chương trình. Cơng tác thanh tra, kiểm tra chưa mạnh, chưa thường xuyên,

phần nhiều những sai phạm được phát hiện là do từ nhân dân và các cơ quan

giám sát. Việc kiểm tra giám sát của các Sở, Ban, Ngành thành viên Ban chỉ

đạo cấp Tỉnh chưa thường xuyên, chậm nắm bắt tình hình ở cơ sở.

- Mặc dù Trung ương và Tỉnh đã có sự chỉ đạo phân cấp mạnh cho xã

làm Chủ đầu tư, song vẫn còn một số huyện việc phân cấp cho xã làm Chủ

đầu tư chưa mạnh, chưa dứt khốt, chưa nâng cao vai trò của cấp xã.

- Sự phối hợp trong triển khai thực hiện Chương trình giữa các Sở, ban

ngành cấp tỉnh chưa chặt chẽ, còn chồng chéo trong quản lý thực hiện.

- Việc thành lập Ban giám sát xã chưa được chú trọng, chỉ có một số

địa phương thành lập Ban giám sát xã còn đa phần các địa phương khơng

thành lập, khó cho việc kiểm tra, giám sát chất lượng cơng trình.

33



- Cơng tác tun truyền chưa thường xun, liên tục; một số Ban,

ngành cấp tỉnh, huyện, xã chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng

của Chương trình 135, chưa quán triệt sâu sắc các mục tiêu, nội dung Chương

trình đến với người dân, chưa phát huy được nội lực của nhân dân, còn tư

tưởng trơng chờ ỷ lại.

3.1.2. Cơ chế, chính sách

- Cơ chế hỗ trợ vốn tại địa phương chưa rõ ràng, chưa đồng bộ với

nhiều dự án khác trên địa bàn như: Phân bổ vốn chưa thể hiện rõ chính sách

ưu tiên, chưa phân biệt hộ nghèo, hộ chính sách với các hộ dân khác,... Ngồi

Chương trình 135 giai đoạn III, trên địa bàn các xã thực hiện Chương trình

135 giai đoạn III còn có nhiều chương trình, dự án khác đầu tư, song chưa có

một cơ chế quản lý thống nhất, khó thống kê tổng hợp các nguồn vốn. Vì vậy

việc đánh giá hiệu quả tổng hợp, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn lồng ghép

là rất khó khăn.

- Nhà nước chưa có cơ chế chính sách đa dạng hóa đầu tư, đặc biệt là

đầu tư từ tư nhân, nguồn vốn tín dụng và nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế.

Chưa có chính sách ưu đãi, khuyến khích nhà đầu tư tư nhân giảm thuế, hỗ trợ

cho vay vốn.

- Một số huyện chỉ đạo chưa quyết liệt, thiếu kiểm tra đôn đốc, chưa

phối hợp, phát huy vai trò các tổ chức đồn thể xã hội; thiếu sáng tạo, vận

dụng cơ chế của Chương trình chưa phù hợp với thực tế của địa phương làm

giảm hiệu quả đầu tư của Chương trình.

- Cơng tác báo cáo thường kỳ theo quy định ở một số huyện chưa

nghiêm túc, số liệu báo cáo tháng, quý chưa đều; chưa đáp ứng thời gian

yêu cầu, chưa tuân thủ các quy định về mẫu biểu, chỉ tiêu, nên việc theo



34



dõi, quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện chương trình của Ban chỉ đạo tỉnh

gặp nhiều khó khăn.

3.1.3. Nguồn nhân lực thực hiện Chương trình

- Việc đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện Chương trình tại cấp huyện,

xã chưa được chú trọng, năng lực cán bộ (đặc biệt là cấp xã) còn yếu về

nghiệp vụ chun mơn, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Chương trình, nhất là

trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, giám sát kỹ thuật thi công,

công tác thanh, quyết tốn.

- Việc đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn coi trọng lý thuyết đơn thuần,

chưa được chú trọng đến việc dạy thực hành; Công tác tuyển chọn cán bộ

thực hiện cơng việc còn chưa đúng người, đúng việc.

3.1.4. Cơng tác quy hoạch

Qua thực tế cho thấy vẫn còn một số huyện do công tác quản lý, kiểm

tra chưa chặt chẽ nên còn có cơng trình xây dựng khơng phát huy hiệu quả,

kém chất lượng, chưa đảm bảo yêu cầu, có cơng trình mới xây dựng xong đã

hư hỏng, xuống cấp phải sữa chữa lại gây tốn kém, lãng phí và đã có phần ảnh

hưởng xấu đến dư luận xã hội. Công tác quy hoạch, lập dự án, lập báo cáo đầu

tư, khảo sát thiết kế ở một số đơn vị tư vấn và một số huyện chưa phù hợp

thực tế địa phương. Chất lượng và quản lý quy hoạch còn hạn chế và chưa sát

thực tế, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của Chương trình.

3.2. Thực trạng cơng tác quản lý, chỉ đạo và điều hành Chương

trình MTQG giảm nghèo bền vững ở các xã, thôn bản ĐBKK tỉnh Thanh

Hóa giai đoạn (2012 - 2015)

3.2.1. Quản lý cơng tác lập kế hoạch, phê duyệt vốn đầu tư Chương trình

Cơng tác lập kế hoạch được thực hiện thường xun, rà soát, bổ sung,

cập nhật kịp thời quy hoạch tổng thể và chi tiết làm cơ sở lập kế hoạch phát

triển hàng năm. Lập kế hoạch Chương trình căn cứ vào số xã, thôn bản ĐBKK

35



và định mức đầu tư của Chương trình, đảm bảo tính khả thi cao. Chương trình

được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Ngân sách Trung ương, Ngân sách tỉnh,

Ngân sách huyện và sự đóng góp của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với một

tỉnh còn nhiều khó khăn và đơng dân như Thanh Hóa thì chủ yếu dựa vào

Ngân sách Trung ương.

Năm 2012, 2013, Dự án là hợp phần nhỏ của Chương trình Mục tiêu

quốc gia Giảm nghèo bền vững với mức đầu tư là 1 tỷ đồng/1 xã ĐBKK và

200 triệu đồng/1 thôn, bản ĐBKK; từ năm 2014 trở đi định mức đầu tư

tăng lên 1,5 lần năm 2012, 2013 tức là: 1,5 tỷ đồng/1 xã ĐBKK và 300

triệu đồng/1 thôn, bản ĐBKK. Tuy nhiên do điều kiện Ngân sách Trung

ương trong những năm qua gặp nhiều khó khăn nên việc bố trí tăng định

mức 1,5 lần là chưa thực hiện được và vẫn ở định mức như năm 2012,

2013. Điều này gây khó khăn cho cơng tác lực chọn cơng trình vì với điều

kiện hiện nay việc đầu tư cơng trình có giá trị 1 tỷ đồng và 200 triệu đồng

là khơng còn phù hợp với tình hình thực tế, khó có thể thốt nghèo bền

vững.

- Giai đoạn 2012 - 2015, tổng nguồn vốn Trung ương phẩn bổ cho

tỉnh Thanh Hóa thực hiện Chương trình là 766.010 triệu đồng, trong đó:

+ Hợp phần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là: 563.000 triệu đồng (xã

khu vực III: 414.000 triệu đồng; thôn, bản ĐBKK xã khu vực II: 149.000

triệu đồng);

+ Hợp phần duy tu, bảo dưỡng cơng trình: 41.560 triệu đồng, thực

hiện duy tu, bảo dưỡng các cơng trình đã đưa vào sử dụng nhưng do thời

gian đã xuống cấp.

+ Hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất: 161.450 triệu đồng, thực hiện

hỗ trợ mua giống Trâu, Bò, hỗ trợ máy móc nơng cụ phát triển sản xuất.

36



Biểu 3.2: Chỉ số về Kế hoạch ngân sách giai đoạn (2012 - 2015)



Nguồn: Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2015.

Qua biểu biểu đồ trên ta thấy tỷ trọng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn các

xã, thơn bản ĐBKK của Chương trình chủ yếu dành cho xây dựng cơ sở hạ

tầng (chiếm 73,5% tổng vốn), tiếp theo là Hỗ trợ phát triển sản xuất (chiếm

21,1%) và cuối cùng là duy tu, bảo dưỡng cơng trình (chiếm 5,4%). Nếu chỉ

nhìn vào số liệu của biểu đồ trên để đánh giá thì sẽ thấy bất hợp lý, song nếu

xem xét trong điều kiện cụ thể về cơ sở hạ tầng thiết yếu của các xã ĐBKK

thì ta sẽ thấy cơ cấu đầu tư trên là đúng mục tiêu và phù hợp với điều kiện

thực tế.

* Tuy nhiên, việc lập kế hoạch, phê duyệt vốn đầu tư của Chương trình

còn tồn tại một số mặt hạn chế:

- Công tác lập kế hoạch vốn chưa xác định trên cơ sở khả năng huy động

vốn của Chương trình, do đó đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu

của Chương trình, như: tiến độ đầu tư các cơng trình chậm do thiếu vốn, nội

dung hỗ trợ phát triển sản xuất chưa được chú trọng do nguồn vốn thấp.

- Công tác xác định kế hoạch vốn của từng vùng chưa căn cứ vào nhu

cầu thực tế của cơ sở, một số địa phương chưa khảo sát cụ thể, thực tế của

37



từng địa bàn, chưa thể hiện được nguyện vọng của người dân, chưa đi từ mục

đích cần đạt được để xây dựng kế hoạch của Chương trình. Nguồn vốn được

phân bổ chia đều bình quân cho các xã, không căn cứ vào hệ số K (phân theo

hệ số vùng khó khăn) để phân vốn thực hiện. Do đó, một số vùng khó khăn

hơn thì nguồn vốn phân bổ vẫn bằng một số vùng ít khó khăn hơn.

3.2.2. Quản lý công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn, cấp phát vốn đầu

tư cho Chương trình

- Về phân bổ kinh phí: Trên cơ sở thơng báo vốn của Trung ương,

UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Sở, ban

ngành liên quan tham mưu triển khai thực hiện; Căn cứ vào Văn bản của Ủy

ban Dân tộc về danh sách các xã, thôn, bản ĐBKK và hướng dẫn cơ chế quản

lý, sử dụng vốn của Chương trình; Ban Dân tộc (Cơ quan Thường trực) cung

cấp danh sách và tính ra số kinh phí thực hiện (dựa trên số xã, thơn bản

ĐBKK) gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình Chủ tịch UBND tỉnh giao

kế hoạch vốn thực hiện.

- Nguồn vốn được phân ra thành 02 loại: Vốn đầu tư phát triển và vốn

sự nghiệp.

+ Vốn đầu tư phát triển: Xây dựng cơ sở hạ tầng.

+ Vốn sự nghiệp: Hỗ trợ phát triển sản xuất và Duy tu, bảo dưỡng

cơng trình.

Trên cơ sở nguồn vốn được giao, Ban Dân tộc sẽ hướng dẫn các huyện

triển khai, thực hiện nguồn vốn đầu tư phát triển và Duy tu, bảo dưỡng cơng

trình; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nguồn kinh phí Hỗ

trợ phát triển sản xuất.



38



- Cơng tác phân bổ vốn đối với xã ĐBKK qua các năm được thể hiện

cụ thể như sau:

Biểu 3.3: Phân bổ vốn của Chương trình giai đoạn (2012 - 2015) đối

với xã ĐBKK

ĐVT: Triệu đồng;



Kế hoạch vốn

Năm



Số xã

ĐBKK



Ghi

Đầu tư phát triển

Xây dựng cơ sở

hạ tầng



Sự nghiệp

Hỗ trợ phát



chú



Duy tu, bảo



triển sản xuất dưỡng cơng trình



2012



93



93.000



27.900



11.280



2013



93



93.000



27.900



11.280



2014



114



114.000



34.200



9.500



2015



114



114.000



34.200



9.500



Tổng cộng



414.000



124.200



41.560



Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa.

Qua biểu đồ ta thấy tỷ lệ xã ĐBKK có sự thay đổi qua các năm (hàng

năm có rà sốt, bổ sung xã ĐBKK để đưa ra hoặc vào Chương trình để thực

hiện cho năm tiếp theo); vì vậy nguồn kinh phí cũng có sự thay đổi qua các

năm. Qua 04 năm thực hiện thì ta thấy số vốn phân bổ cho xây dựng cơ sở hạ

tầng là chiếm đa phần và chủ yếu của Chương trình (414.000 triệu đồng) (đối

với xã ĐBKK tỷ lệ vốn của xây dựng cơ sở hạ tầng là 1 tỷ/1 cơng trình), tiếp

theo là đến vốn hỗ trợ phát triển sản xuất (124.200 triệu đồng) và cuối cùng là

duy tu, bảo dưỡng cơng trình (41.560) (nguồn vốn này thấp và không đủ thực

hiện các hạng mục duy tu cần thiết cho địa bàn toàn tỉnh mà phải lựa chọn

39



những cơng trình trọng yếu để thực hiện duy tu, bảo dưỡng cơng trình).

- Cơng tác phân bổ vốn đối với thôn, bản ĐBKK qua các năm được thể

hiện cụ thể như sau:

Biểu 3.4: Phân bổ vốn của Chương trình giai đoạn (2012 - 2015) đối

với thơn, bản ĐBKK

ĐVT: Triệu đồng;



Số

Năm



Kế hoạch vốn



thôn,

bản

ĐBKK



Ghi

Đầu tư phát triển

Xây dựng cơ sở

hạ tầng



chú



Sự nghiệp

Hỗ trợ phát



Duy tu, bảo



triển sản xuất dưỡng cơng trình



2012



182



36.400



9.100



-



2013



182



36.400



9.100



-



2014



197



39.400



9.850



-



2015



184



36.800



9.200



-



149.000



37.250



-



Tổng cộng



Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa.

Qua biểu đồ ta thấy, số thôn, bản ĐBKK qua các năm có sự biến động

nhiều và liên tục thay đổi; mặc dù số thơn, bản ĐBKK lớn song kinh phí đầu tư

cho thôn bản thấp (xây dựng cơ sở hạ tầng: 200 triệu đồng/thôn, bản; hỗ trợ

phát triển sản xuất: 50 triệu đồng/thơn, bản) và hầu như các cơng trình thơn,

bản khơng được duy tu, bảo dưỡng dẫn đến tình trạng xuống cấp qua các năm.

Tổng vốn xây dựng có sở hạ tầng giai đoạn (2012 - 2015) đầu tư cho thôn bản

chỉ là 149.000 triệu đồng (bằng 26,5% so với tổng nguồn vốn về đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng); tổng vốn hỗ trợ phát triển sản xuất là 37.250 triệu đồng

40



(bằng 23,1% so với tổng nguồn vốn về hỗ trợ phát triển sản xuất).

* Tuy nhiên, việc quản lý và phân bổ vốn đầu tư giai đoạn (2012 - 2015)

còn một số hạn chế sau:

- Nguồn vốn hàng năm Trung ương bố trí cho chương trình còn hạn chế,

một số hợp phần của chương trình chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức,

như: Hỗ trợ phát triển sản xuất và Duy tu, bảo dưỡng cơng trình.

- Tỉnh khơng bố trí nguồn vốn đối ứng của chương trình (do là tỉnh

nghèo đang phải nhận tới hơn 70% kinh phí trợ cấp từ Trung ương) do đó khó

khăn cho công tác huy động nguồn vốn đầu tư.

- Việc quản lý nguồn vốn đang còn có sự chồng chéo giữa các Sở, ban

ngành cấp tỉnh (Ban Dân tộc tỉnh; Sở Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn)

gây khó khăn cho công tác quản lý, triển khai thực hiện tại cơ sở.

- Hàng năm Trung ương giao vốn chậm cũng làm ảnh hưởng tiến độ

triển khai các hợp phần tại cơ sở; cơ cấu bố trí vốn còn nặng về đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng.

3.2.3. Quản lý công tác thực hiện Dự án

- Đối với hợp phần xây dựng cơ sở hạ tầng: Công tác quản lý đầu từ xây

dựng cơng trình từ khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức xây dựng, giám sát đến

nghiệm thu, bàn giao có nhiều tiến bộ tuân thủ theo đúng các quy định của nhà

nước về quản lý đầu tư xây dựng. Công tác lập thẩm định và phê duyệt dự án

tại các huyện cơ bản đúng quy định của Luật Xây dựng và các văn bản hướng

dẫn, thực hiện lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật và lập dự án đầu tư, tổ chức thẩm

định và phê duyệt cơ bản theo trình tự quy định về hướng dẫn một số nội dung

về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cơng trình và quản lý chất

lượng cơng trình, nghiệm thu, thanh tốn, lập hồ sơ hồn cơng thực hiện theo



41



các quy định.

+ Kết quả thực hiện trong giai đoạn (2012 - 2015): Hoàn thành xây

dựng và bàn giao đưa vào sử dụng được 1.178 cơng trình. Trong đó xã khu

vực III là 460 cơng trình (bình qn 1.000 triệu đồng/cơng trình); thơn bản

ĐBKK xã khu vực II là 718 cơng trình (bình qn 200 triệu đồng/cơng trình).

Biểu 3.5: Kết quả và cơ cấu đầu tư xây dựng các cơng trình hạ tầng

Hạng mục

Tổng số

Cơng trình Giao thơng

Cơng trình Thủy lợi

Cơng trình nước sạch

Cơng trình giáo dục

Nhà văn hóa

Cơng trình y tế

Trạm thiết bị truyền thanh

Cơng trình trợ



Số cơng trình

Tỷ trọng cơng trình (%)

1.178

100

745

63,25

201

17,06

20

1,7

55

4,67

123

10,44

16

1,36

1

0,08

16

1,36

Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa.



Qua biểu tổng hợp trên ta thấy tỷ trọng các cơng trình đầu tư trên địa

bàn các xã ĐBKK của Chương trình chủ yếu dành cho giao thơng, thủy lợi,

nhà văn hóa, giáo dục. Trong giai đoạn (2012 - 2015) đã đầu tư được 745

cơng trình giao thơng (chiếm 63,25% cơng trình các loại), tiếp theo là cơng

trình thủy lợi 201 cơng trình (chiếm 17,06% cơng trình các loại), thấp nhất là

cơng trình trạm thiết bị truyền thanh (chiếm 0,08%). Nếu chỉ nhìn vào số liệu

của biểu tổng hợp trên để đánh giá thì sẽ thấy bất hợp lý, song nếu xem xét

trong điều kiện cụ thể về cơ sở hạ tầng thiết yếu của các xã ĐBKK thì ta sẽ

thấy cơ cấu đầu tư trên là đúng mục tiêu và phù hợp với điều kiện thực tế.

Những kết quả trên đã góp phần nâng cao nhanh đời sống kinh tế - xã

hội vùng đồng bào các dân tộc miền núi, vùng ĐBKK. So với mục tiêu



42



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (80 trang)

×