1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động LIDECO

Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động LIDECO

Tải bản đầy đủ - 0trang

quan tâm để có cái nhìn nhận, đánh giá sâu về lĩnh vực mình kinh doanh để đầu tư đúng

hướng và phát triển trong tương lai gần.

3.2.1. Môi trường vĩ mơ

3.2.1.1. Mơi trường kinh tế:

Hiện nay, Đảng và Chính Phủ Việt Nam vẫn đang nỗ lực phát triển “nền kinh

tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa”. Định hướng của Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ XI chỉ ra rằng ưu tiên phát triển kinh tế trên cơ sở ổn định kinh tế

vĩ mô.

Việt Nam tham gia vào khu vực mậu dich tự do của ASEAN (ASEAN Free

Trade Area) hay viết tắt là AFTA năm 1995 và chính thức gia nhập WTO năm 2007

và trở thành nền kinh tế hội nhập quốc tế, chịu tác động lớn từ nền kinh tế thế giới.

Tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế và Khu vực đang hết sức khẩn trương.

Chúng ta đang thực hiện

Tổng sản phẩm quốc nội: Theo tính toán của Người Đồng Hành dựa trên số

liệu của Tổng cục Thống kê (GSO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam

năm 2014 tính theo giá hiện hành đạt 3.937.856 tỷ đồng, tương đương 184 tỷ USD,

tính theo tỷ giá của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước vào ngày 31/12/2014 là

21.400 đồng/USD.

Dựa trên quy mô dân số 90,73 triệu người của năm 2014 (cũng theo số liệu

do GSO cơng bố), GDP bình qn đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028

USD, tương đương 169 USD/tháng.

Thu nhập bình qn của Việt Nam – tính bằng GDP bình qn đầu người

theo giá so sánh – đã tăng với tốc độ bình quân hàng năm là 5,06% thời kỳ 1986 –

1997 (trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính châu Á) và 5,64% thời kỳ 1997 –

2009. Việt Nam nổi lên là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên

thế giới trong giai đoạn này, giúp đưa quốc gia vươn lên gia nhập nhóm nước thu

nhập trung bình thấp lần đầu tiên vào năm 2008 với mức thu nhập bình qn đầu

người lần vượt ngưỡng 1000 đơla Mỹ (USD).



31



Thị trường tài chính, tiền tệ, hệ thống ngân hàng: Chính sách tiền tệ và tài

khóa nới lỏng trong giai đoạn trước năm 2010 làm gia tăng lạm phát. Việc thị

trường bất động sản bùng nổ trong các năm qua, với giá cả leo thang đặc biệt là nhà

đất, kèm theo đó sự tham gia đầu cơ của mọi thành phần kinh tế trong thị trường

này, “bong bóng” thị trường bất động sản đã xảy ra gây rủi ro lớn cho nền kinh tế và

trong giai đoạn 2011 -2013, chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã phải đưa ra nhiều

chỉnh sách để can thiệp, ổn định và tái cơ cấu lại nền kinh tế. Trong đó tập trung vào

tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, điều chỉnh lãi suất, giải quyết vấn đề các tập đồn,

tổng cơng ty nhà nước đầu tư ngồi ngành.

Các biện pháp của Chính phủ trong thời gian qua đã cơ bản kiểm soát tình hình

thị trường tài chính, ngân hàng. Nâng cao năng lực hệ thống ngân hàng bao gồm cả

việc quy định vốn pháp định, tỷ lệ cho vay bất động sản, giải quyết vấn đề nợ xấu và cả

việc mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng cũng đã được triển khai.

Mức lãi suất huy động cho vay hiện đang được NHNN duy trì kiểm sốt

quản lý. Lãi suất huy động bằng VNĐ phổ biến ở mức 5-7%/năm. Lãi suất cho vay

từ 5- đến 12% tùy từng lĩnh vực phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,

xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng

công nghệ cao ở mức 5-8%/năm, lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh

thông thường ở mức khoảng 8-10%/năm đối với ngắn hạn; 10.5-12%/năm đối với

trung và dài hạn. Gói kích cầu thị trường bất động sản 30.000 tỷ đồng được triển

khai từ ngày 1/6/2013, hỗ trợ lãi suất cho các đối tượng mua nhà ở xã hội, các

doanh nghiệp đầu tư xây dựng dự án nhà ở xã hội. Đây có thể được khẳng định là

một giải pháp có tính thực tiễn giúp thúc đẩy thị trường bất động sản phục hồi và

phát triển đúng hướng, góp phần hỗ trợ mua nhà, giải quyết nhu cầu nhà ở cho đối

tượng thu nhập trong giai đoạn hiện nay

Kết quả hoạt động kinh doanh của LIDECO có thể bị ảnh hưởng bởi biến động

lãi suất trên thị trường, các biện pháp và chính sách tín dụng thắt chặt, hạn chế tín dụng

phi sản xuất trong khi thị trường khơng có nguồn cung tài chính dồi dào. Trong bối



32



cảnh thị trường bất động sản trầm lắng, đây là cơ hội để các doanh nghiệp có khả năng

tài chính ổn định như giữ vứng tình hình ổn định và vượt qua giai đoạn khó khăn.

Về cán cân thương mại: Đây là yếu tố được quan tâm nhiều người dân và

được các nhà kinh tế phân tích trong thời gian vừa qua. Theo nguồn báo cáo của

Tổng cục Hải quan thì trong 3 năm trở lại đây ( 2012, 2013,2014) Việt nam có sự

thặng dư về cán cân thương mại, giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu đều tăng trưởng

khá qua các năm.

Số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan phổ biến ngày 16/01/2015 cho thấy

trong năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong năm

2014 đạt 298,24 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2013, tương đương tăng 34,17 tỷ

USD về số tuyệt đối. Cán cân thương mại hàng hóa cả nước thặng dư 2,14 tỷ USD,

mức cao nhất từ trước đến nay và là 3 năm thứ 3 liên tiếp.

Việc thông qua nguyên tắc hiệp định Thương mại tự do Việt nam – EU đã

mở ra triển vọng xuất khẩu hàng hóa, tăng giá trị xuất nhập khẩu và là cơ hội cho

Việt nam tăng trưởng xuất khẩu và hội nhập thị trường sâu rộng. Ngoài ra, việc tiếp

tục tham gia đàm phán Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) có

một ý nghĩa quan trọng vào q trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với các nỗ lực bình

ổn kinh tế vĩ mơ của Chính Phủ, cải tổ hệ thống ngân hàng, kiểm soát thị trường bất

động sản nhằm phát triển ổn định đã có tác dụng tốt và dự báo sẽ đưa thị trường bất

động sản, nền kinh tế phát triển ổn định, đúng hướng. Duy trì và lấy lại đà tăng

trưởng của nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng và phát triển một cách ổn định hơn.

3.2.1.2. Môi trường khoa học - công nghệ

Khoa học – công nghệ của thế giới hiện nay phát triển vượt bậc và nó ảnh

hưởng tới toàn bộ các ngành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoa học phát triển

và kéo theo công nghệ trong xây dựng thay đổi nhanh trên thế giới và rất sớm được

ứng dụng vào Việt Nam. Các thay đổi đó thể hiện trong các xu hướng:

1) Phát triển sản xuất và ứng dụng vật liệu xây dựng bền vững, thân thiện

môi trường, tiết kiệm năng lượng và sử dụng ít tài ngun thiên nhiên;



33



2) Cơng xưởng hóa xây dựng nhằm thi công nhanh và giảm giá thành;

3) Phát triển cao tầng và nhiều tầng hầm;

4) Phát triển nhà và căn hộ thơng minh;

5) Chú trọng cơng năng, tiện ích, sử dụng ít năng lượng và tạo dựng khơng

gian sống đẹp, hiện đại, an toàn, bền vững.

Đây là những xu hướng công nghệ xây dựng liên quan đến phát triển bất

động sản. Đây cũng là đòi hỏi đối với các nhà đầu tư và nhu cầu tất yếu của người

tiêu dùng trong bối cảnh thiết hụt năng lượng, ô nhiễm môi trường và nhu cầu ngày

càng cao của khách hàng.

Công nghệ ngày càng đổi mới, con người càng cập nhật nhanh những ứng

dụng mới thì việc áp dụng cơng nghệ càng trở nên vô cùng quan trọng. Cả thế giới

vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các cơng nghệ mới được

ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm dịch vụ.

Lideco đã đưa vào ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại trong quản lý và thi

cơng như : cơng nghệ Top-down, các máy móc phần mềm quản lý BĐS trong quản

lý văn phòng cho thuê,…

3.2.1.3. Mơi trường văn hóa xã hội

Người Việt Nam có câu “An cư, Lạc nghiệp” hàm ý rằng cần nơi ở (nhà) tốt

thì mới có thể tạo dựng sự nghiệp tốt. Sở hữu nhà đối với đại đa số người Việt là

cực kỳ quan trọng và nó là mối quan tâm rất lớn của mọi người, trong cả đời người.

Ngoài việc đáp ứng nhu cầu để ở với những công năng sử dụng cơ bản nó còn là nơi

thờ cúng tổ tiên và đáp ứng nhiều yếu tố “phong thủy” khác nữa để giúp gia chủ

làm ăn phát đạt, may mắn, hạnh phúc. Trước đây nhiều gia đình có trên hai thế hệ

cùng chung sống, ngày nay quy mơ gia đình nhỏ (có khơng q hai thế hệ) ngày

càng phổ biến tại các thành thị.

Nhà đất đối với người Việt Nam hiện tại và tương lai rất được quan tâm do

quan niệm, sở thích ở “độc lập”, ngồi ra nó còn là đối tượng đầu tư có lời.



34



Các thế hệ trẻ tại các thành phố lớn, với tích lũy có hạn và với tư tưởng mới,

họ sẵn sàng ở nhà chung cư, ở nhà cho thuê. Nhu cầu nhà ở chung cư giá rẻ và trung

bình còn cao và nhà ở cho thuê là xu hướng tiềm năng trong tương lai.

Đòi hỏi về dịch vụ ở ngày càng cao do quy mơ các hộ gia đình nhỏ ngày

càng gia tăng, các khu đô thị mới, đồng bộ hạ tầng đô thị và và hạ tầng xã hội với

dịch vụ đô thị và dịch vụ ở tốt sẽ phát triển trong tương lai.

Qua phân tích trên có thể thấy các cơ hội phát triển thị trường về nhà ở, phát

triển đô thị đồng bộ, nhà chung cư giá trung bình và giá rẻ, nhà ở cho thuê gắn với

các tiện ích cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là rất lớn, các doanh

nghiệp có nhiều sự lựa chọn đầu tư. Thêm vào đó là việc phát triển về dịch vụ đơ thị

và các loại hình dịch vụ nhà ở phát triển trong tương lai là xu thế tất yếu và ngày

càng thỏa mãn nhu cầu nhà ở và các dịch vụ đi kèm.

3.2.1.4. Môi trường nhân khẩu học

Theo Tổng cục Thống kê công bố kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ

năm 2014. Theo đó, tính đến thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2014, dân số Việt Nam là

90,493 người, trong đó nữ chiếm 50,7%, nam chiếm 49,3%.

Về nhà ở, kết quả thống kê đến năm 2014 cho thấy, diện tích nhà ở bình

qn đầu người của cả nước là 20,6 m2, tăng 3,9 m2/người so với năm 2009, trong

đó thành thị là 23 m2, nơng thơn 19,5 m2. Đồng bằng sơng Hồng có diện tích ở

bình qn cao nhất với 22,4 m2 và thấp nhất là Tây Nguyên 18,3 m2.

Điều kiện sinh hoạt của người dân đang được cải thiện với 46,6% hộ sinh

sống trong nhà kiên cố, 43% sống trong nhà bán kiên cố, 3,7% hộ có nhà đơn sơ…

Số liệu này cho thấy tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiến cố tăng lên 6,1% và nhóm nhà

ở đơn sơ giảm 4% so với năm 2009…/.

Mật độ dân số của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất trên thế giới, theo số liệu

điều tra dân số sơ bộ 2009 là 260 người/km2 trung bình cả nước. Mật độ dân số các

thành phố lớn rất cao, ví dụ tại Hà Nội (2009) là 1.935 người/km2; Thành phố Hồ

Chí minh là 3.419 người/km2. Tốc độ phát triển dân số hiện nay mặc dù có giảm

dần, song vẫn ở mức cao 1,06%, trong đó, tăng dân số tại thành thị 3,21% ở nông



35



thôn là 0,18%. Dự kiến, dân số Việt Nam sẽ đạt 100 triệu vào năm 2024. Sự chuyển

dịch dân số đến các đô thị trong bối cảnh phát triển đô thị chậm so với nhu cầu thực

tế. Sự dịch chuyển này làm tăng đáng kể nhất đối với nhu cầu nhà ở mới.

Dân số tăng, đặc biệt dân số trong độ tuổi lao động tăng. Đây là nhóm dân số

tiềm năng của thị trường nhà ở vì họ có nhu cầu và thu nhập. Dịch chuyển dân số cơ

học di cư từ nông thôn ra thành phố đã góp phần chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ

dân cư đô thị từ 29.6% năm 2009 lên 30,6 % năm 2014 đòi hỏi nhu cầu về nhà ở

cao và hơn thế nữa là nhu cầu về mở rộng các khu đơ thị tại Hà Nơi, thành phố Hồ

Chí minh và một số trung tâm kinh tế khác nữa cũng rất cao. Điều kiện kinh tế ổn

đinh và phục hồi sau khủng hoảng đảm bảo cơ hội mở rộng nhà ở và nâng cao chất

lượng cuộc sống.

Từ số liệu về môi trường nhân khẩu học cho thấy thị trường nhà ở phát triển

tại các thành phố lớn đặc biệt là thủ đô Hà Nội và các trung tâm kinh tế lớn còn lại

của cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng , Hải Phòng, Thanh Hóa, là có

tiềm năng phát triển mạnh. Mật độ dân số cao tại các thành phố lớn tạo nhu cầu về

nhà ở cao chủ yếu do quỹ đất hạn chế. Yếu tố dân số gia tăng nhưng quỹ đất không

tăng cũng là nguyên nhân làm cho thị trường bất động sản luôn có đầu ra để phát

triển các sản phẩm đa dạng.

3.2.1.5. Mơi trường chính trị - pháp luật

Trong phân tích này, tác giả sử dụng các đánh giá tổng quan về thể chế chính

trị và hệ thống pháp luật Việt Nam được nêu trong “Báo cáo năng lực canh tranh

của Việt Nam năm 2010”.

Về thể chế chính trị: 1) Mức độ ổn định chính trị cao; 2) Hiệu quả của hệ

thống chính trị ở mức trung bình; 3) Mức độ phân cấp cao là một trong những

nguyên nhân dẫn đến phân tán quyền lực giữa các cơ quan Chính phủ và các địa

phương và tình trạng áp dụng chính sách và quy định không nhất quán giữa các

cấp và các địa phương .

Về Hệ thống pháp luật: 1) Chất lượng của các văn bản Luật tương đối tốt so

với trình độ phát triển hiện nay, nhưng hiệu quả và hiệu lực của hệ thống pháp luật

còn thấp; 2) Tính minh bạch của các quy định và tình trạng phải trả các chi phí

36



khơng chính thức của doanh nghiệp chậm được cải thiện; 3) Tình trạng tham nhũng

vẫn còn phổ biến và chưa được cải thiện.

Ổn định chính trị cao và với sự cải thiện của hệ thống pháp luật trong cả chất

lượng và thực thi, lĩnh vực bất động sản dự kiến sẽ phát triển theo xu hướng minh bạch

hơn. Khách hàng có cơ hội tiếp cận và lựa chọn sản phẩm. Các chủ đầu tư có nhiều cơ

hội tiếp cận đất đai, vốn hơn và do đó áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ lớn dần.

Tuy nhiên, hiện tại và tương lai, trong lĩnh vực bất động sản, đất đai là yếu tố

quyết định thành công. Một trong các yếu tố quan trọng nhất để có được đất đai

hiện nay là “quan hệ” và tại mỗi địa phương, không phải doanh nghiệp nào cũng có

cơ hội như nhau để tiếp cận được nguồn tài nguyên này. Bởi vậy cạnh tranh nhóm

doanh nghiệp trong vùng thị trường sẽ là phổ biến.

3.2.1.6. Mức độ hội nhập của Việt nam

Quá trình mở cửa nền kinh tế Việt Nam để hội nhập sâu với kinh tế và

thương mại toàn cầu bắt đầu từ việc chính thức gia nhập Khu vực mậu dịch tự do

ASEAN (AFTA) vào năm 1996, nhưng thực sự chứng kiến cú hích mạnh mẽ sau khi

ký Hiệp định thương mại tự do với Hoa Kỳ (US BTA) năm 2001. Quá trình mở cửa

và hội nhập đầy đủ, toàn diện được đánh dấu bằng việc gia nhập Tổ chức Thương

mại Thế giới (WTO) năm 2007.

Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất, cả về thương

mại và đầu tư, trong khu vực ASEAN. Việt Nam đã dỡ bỏ nhiều rào cản về đầu tư

trong quá trình thực hiện các cam kết hội nhập. Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm

2005 đã điều chỉnh những nội dung cũ và đặt tất cả các loại hình doanh nghiệp

(doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp tư nhân trong nước và DNNN) trên cùng một

mặt bằng pháp lý chung. Trong một số trường hợp, đặc biệt ở cấp tỉnh, các doanh

nghiệp FDI còn nhận được nhiều ưu đãi và đối xử ưu đãi đặc biệt hơn các doanh

nghiệp tư nhân địa phương (như những ưu đãi về thuế và tiếp cận với đất đai).

Việc hoàn thiện dần các cam kết khi gia nhập AFTA, lộ trình cắt giảm thuế

đang đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức.

Việc đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên thái bình dương

TPP có ý nghĩa quan trọng mở ra cánh cổng tham gia vào tổ chức thương mại tự do



37



cho các nước quanh khu vực Châu á Thái Bình Dương góp phần đẩy mạnh phát

triển kinh tế.

Những nhận định trên cho thấy cơ hội đầu tư bất động sản của các nhà đầu tư

nước ngoài với vốn lớn cùng lợi thế công nghệ và kinh nghiệm quản lý chuyên

nghiệp, đặc biệt trong thiết kế và cung cấp dịch vụ. Các nhà đầu tư trong nước trong

lĩnh vực bất động sản có thể phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế đặc biệt trong phân

khúc thị trường nhà ở, căn hộ, khách sạn và văn phòng cho th cao cấp.

Hơi nhập, trên một khía cạnh khác là cơ hội cho các doanh nghiệp kinh

doanh bất động sản tiếp cận, học hỏi và áp dụng các công nghệ mới trong thiết kế,

xây dựng và cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực bất động sản. Đây là cơ hội tốt để các

doanh nghiệp học hỏi phát triển nâng cao năng lực điều hành, quản lý và nâng cao

các chất lượng dịch vụ.

3.2.2. Môi trường vi mơ

Trong phân tích này tác giả sử dụng mơ hình năm lực lượng cạnh tranh của

giáo sư Michael E. Porter để tìm ra các cơ hội và nguy cơ mà LIDECO phải đương

đầu trong ngành kinh doanh bất động sản.

Theo Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến

năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ( theo quyết định 2127/QĐ-TTg) .

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015, diện tích nhà ở bình qn tồn quốc đạt

khoảng 22m2 sàn/người, phấn đấu đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở tối thiểu 6m2

sàn/người; giai đoạn 2011-2015 phấn đấu xây dựng tối thiểu khoảng 10 triệu mét

vuông nhà ở xã hội để giải quyết chỗ ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô

thị; đáp ứng 60% số sinh viên, học sinh và 50% công nhân lao động tại các khu

công nghiệp có nhu cầu về chỗ ở; hỗ trợ cho khoảng 400 nghìn hộ gia đình (theo

chuẩn nghèo mới) tại khu vực nông thôn cải thiện nhà ở. Tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn

quốc đạt khoảng 62%, tỷ lệ nhà ở chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại Hà

Nội và TP Hồ Chí Minh đạt trên 80%, đô thị từ loại I đến loại II đạt trên 50%, đô thị

loại III đạt trên 30% tổng số đơn vị nhà ở xây dựng mới...

Mục tiêu đến năm 2020, diện tích nhà ở bình qn tồn quốc đạt khoảng



38



25m2 sàn/người, phấn đấu đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở tối thiểu 8m2 sàn/người.

Trong giai đoạn 2016-2020, phấn đấu xây dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu mét

vuông nhà ở xã hội; đáp ứng nhu cầu cho khoảng 80% số sinh viên, học sinh và

khoảng 70% công nhân lao động tại các khu cơng nghiệp có nhu cầu được giải

quyết chỗ ở, hỗ trợ cho khoảng 500 nghìn hộ gia đình (theo chuẩn nghèo mới) tại

khu vực nơng thơn cải thiện nhà ở... Tỷ lệ nhà ở kiên cố tồn quốc đạt khoảng 70%,

xóa hết nhà ở đơn sơ trên phạm vi toàn quốc; tỷ lệ nhà ở chung cư trong các dự án

phát triển nhà ở tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đạt trên 90%, đơ thị từ loại I đến

loại II đạt trên 60%, đô thị loại III đạt trên 40% tổng số đơn vị nhà ở xây dựng

mới... Đến năm 2030, phấn đấu đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình qn tồn quốc

khoảng 30m2 sàn/người, diện tích nhà ở tối thiểu đạt 12m2 sàn/người.

Tình hình thị trường bất động sản trải qua giai đoạn trầm lắng từ 2011-2013

cho đến năm 2014 đã có nhiều diễn biến tích cực. Các giao dịch tăng lên trong khi

mơi trường kinh doanh được Chính phủ, ngân hàng nhà nước, bộ xây dựng quan

tâm tháo gỡ khó khăn.

Trong quý 2/2015, hơn 4.630 căn hộ đã được bán, trong cả 6 tháng đầu năm

2015 có hơn 10.000 căn hộ đã được giao dịch, con số này bằng cả năm 2014 với

11.450 giao dịch thành công và gần gấp đôi giao dịch thành cơng trong năm 2013.

Như vậy có thể nhận định, qua giai đoạn trầm lắng từ 2011-2013, giai đoạn 2014 –

và 6 tháng đầu năm 2015, thị trường căn hộ đã có những dấu hiệu tích cực phục hồi

theo đà phát triển. Hàng tồn kho bất động sản đang được giải quyết và trong các

giao dịch thành công còn có các dự án mới chào bán.

Đầu tư và kinh doanh bất động sản ở Việt Nam là ngành kinh doanh có điều

kiện, chủ yếu là ràng buộc về vốn pháp định và vốn đối ứng cho dự án theo luật

định. Trên thực tế, ngoài vốn chủ đầu tư cần phải có quan hệ tốt với địa phương để

có được đất đai (quan trọng nhất), quan hệ tốt với các ngân hàng để có thể vốn đầu

tư (đầu tư bất động sản cần vốn rất lớn và thường kéo dài nhiều năm cho một dự

án), uy tín cũng là điều cần có để đảm bảo kinh doanh tốt cũng như các dịch vụ đô

thị và dịch vụ ở kèm theo.



39



Luật nhà ở mới có hiệu lực từ 01/7/2015 cho phép cá nhân, tổ chức người

nước ngoài mua nhà và sở hữu nhà ở đã mở ra một cánh cửa mới, giúp cho thị

trường bất động sản có cơ hội phát triển mạnh trong tương lai gần.

3.2.2.1. Phân tích đối thủ tiềm năng

bất động sản về cơ bản vẫn là ngành có tỷ suất sinh lời cao trong những năm gần

đây, bởi vậy nó có sức hút vơ cùng lớn đối với các doanh nghiệp, các đối thủ tiềm

năng là rất lớn. Có thể kể ra các đối thủ tiềm năng trong thị trường này trước hết là

các doanh nghiệp nhà nước lớn (các tổng công ty 90, 91 của Nhà Nước) do họ có

lợi thế về vốn và các ưu đãi của Nhà nước trong tiếp cận đất đai và ưu tiên trong cơ

chế chính sách.

Các tập đồn kinh doanh bất động sản nước ngoài cũng đang đầu tư mạnh

vào thị trường Việt Nam như: Sama Dubai, Capitalland, Kepple Land, Lotte, Tung

shing, Keagnam, Gamuda, ... đây là những đối thủ rất mạnh vì họ có sức mạnh tài

chính, kinh nghiệm, cơng nghệ và tính chun nghiệp cao. Họ thường liên kết với

các doanh nghiệp trong nước để triển khai dự án và đi theo họ là các công ty chuyên

về tư vấn thiết kế; quản lý dự án; thi công; marketing, dịch vụ thâm nhập thị trường.

Thực tế hiện nay và cả tương lai, dự báo nhóm đối thủ tập trung vào nhóm sản

phẩm cao cấp vì khả năng tiếp cận đất đai, giải quyết thủ tục hành chính nhanh sẽ

thu hút khách hàng . Yếu tố các tập đoàn Bất động sản nước ngoài đang và sẽ gây

áp lực lớn cho các doanh nghiệp bất động sản trong nước có tiềm lực tài chính yếu

và chưa chun nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.

Một trong những rào cản quan trọng nhất đối với sự gia nhập của các đối thủ

tiềm tàng là các quy định của Chính Phủ trong việc phê duyệt quy hoạch, phê duyệt

dự án đầu tư( đấu thầu dự án), thiết kế, cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng

(hoặc đấu thầu dự án, hiện rất ít xẩy ra) và rất nhiều thủ tục khác liên quan đến đầu

tư kinh doanh bất động sản như vốn pháp định, bảo lãnh bán hàng…

3.2.2.2. Cường độ cạnh tranh trong ngành.

Thị trường bất động sản với đà phát triển mạnh mẽ, số lượng đối thủ cạnh

tranh trên thị trường là rất lớn và cường độ cạnh tranh dự báo ngày càng cao.



40



Về cấu trúc cạnh tranh, quy mô của các công ty trong ngành tuy có khác

nhau song khơng có sự độc tơn của một số công ty bởi lý do tiềm lực kinh tế có hạn,

sự phân bố và khả năng tiếp cận đất đai cũng như triển khai dự án có liên quan

nhiều đến quan hệ từng địa phương cụ thể. Trong bất động sản rào cản nhập cuộc

cao và sản phẩm tự nó hàm chứa sự khác biệt đáng kể nên cạnh tranh trong ngành

thấp trong phạm vi rộng. Tuy nhiên trong cùng khu vực, cạnh tranh có xu hướng

cao hơn trong khn khổ một nhóm các cơng ty.

Về nhu cầu đối với bất động sản ngày càng tăng do tăng quy mơ dân số (đặc

biệt là do nhóm dân số di cư cơ học đến các thành thị và trung tâm kinh tế) và nhu

cầu nhà ở xã hội đang cao trong giai đoạn nghiên cứu góp phần làm dịu di sự cạnh

tranh ở mảng nhà ở xã hội và thương mại giá rẻ.

Rào cản rời khỏi ngành cao do các chi phí trước và trong q trình đầu tư

buộc các cơng ty phải theo đuổi đến cùng. Điều này góp phần là tính cạnh tranh

trong thị trường dự báo sẽ cao khi mà một số sản phẩm trở nên bão hòa thị trường

như nhà ở chung cư và văn phòng cho thuê tại Hà Nội hiện nay.

Về đối thủ cạnh tranh, riêng thị trường Hà Nội và miền Bắc (thị trường chính

của LIDECO) có thể kể ra đây 10 doanh nghiệp có lượng hàng lớn nhất trong

những năm gần đây: 1) Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Việt Nam HUD

(http://www.hud.com.vn); 2) Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng

Việt NamVINACONEX(http://www.vinaconex.com.vn); 3) Công ty cổ phần

VINCOM (http://www.vincom.com.vn); 4) Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị

và khu công nghiệp Sông Đà – SUDICO (http://www.sudicosd.com.vn); 5) Tổng

công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - UDIC (http://www.udic.com.vn); 6) Tổng

công ty VIGLACERA (http://www.viglacera.com.vn); 7) Công ty cổ phần xuất

nhập khẩu tổng hợp Hà Nội – GELEXIMCO (http://www.geleximco.vn); 8) Công

ty cổ phần tập đồn Nam Cường Hà Nội (http://www.namcuong.com.vn); 9) Cơng

ty TNHH –TM – địa ốc Việt Hân (http://viethangroup.vn; 10) Công Ty cổ phần tập

đoàn Mường Thanh(http://muongthanh.vn/).



41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động LIDECO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×