1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.46 MB, 76 trang )


5



2.1.3.3. Động cơ thuế

Foley, Hartzell, Titman, and Twite (2007) nhận ra các công ty ở Mỹ gánh chịu

những hậu quả từ thuế liên quan đến chuyển dòng tiền từ nước ngoài về nước sẽ nắm

giữ tiền mặt nhiều hơn. Điều này đặc biệt đúng đối với các chi nhánh mà có thể hậu

quả của thuế chuyển tiền về nước là cao nhất. Do đó, các cơng ty đa quốc gia có nhiều

khả năng tích lũy tiền mặt cao hơn.

2.1.3.4. Động cơ đại diện

Như lập luận của Jensen (1986), các nhà quản lý cố thủ sẽ giữ tiền mặt hơn thay

vì tăng tiền chi trả cổ tức cho các cổ đông khi cơng ty đã có ít cơ hội đầu tư. Những

việc nắm giữ tiền mặt theo ý cá nhân này thường được đánh giá là nắm giữ tiền mặt

quá mức có nguồn gốc từ mơ hình kiểm sốt động cơ giao dịch và động cơ nắm giữ

tiền mặt của công ty. Dittmar và Mahrt-Smith (2007) và Harford, Mansi, và Maxwell

(2008) cung cấp bằng chứng cho thấy các nhà quản lý cố thủ có nhiều khả năng sẽ xây

dựng tiền mặt dư thừa, nhưng chi tiêu tiền mặt dư thừa một cách nhanh chóng.

2.1.4. Sự luân chuyển của tiền mặt trong quá trình sản xuất kinh doanh

Hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp được bắt đầu bằng tiền mặt. Từ đó,

tiền mặt được chuyển đổi thành những loại tài sản khác nhau, tạo ra đòn bẩy hoặc mở

rộng hoạt động kinh doanh với các khoản đi vay và cuối cùng là biến nó trở lại thành

tiền mặt nhưng với số lượng lớn hơn ban đầu.

Sự luân chuyển của tiền mặt có thể được phân tích thành các chu kỳ, có mối

liên hệ chặt chẽ. Kỳ luân chuyển tiền mặt, nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh

nghiệp, là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp

đến khi thực sự thu hồi tiền của khách hàng. Ở đây, ta thấy có sự chênh lệch, một kẽ

hở giữa dòng thu tiền mặt và dòng chi tiền mặt. Chính kẽ hở này là nguyên nhân có thể

khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản.

Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, tất cả các hoạt động này

đều có sự tham gia của tiền mặt. Việc quản lý tiền mặt còn bao gồm quản lý những

dòng thu, chi tiền mặt rất phức tạp trong doanh nghiệp.



6



Hình 2.1 : Dòng tiền và chu kỳ kinh doanh ngắn hạn của một cơng ty sản xuất tiêu

biểu

Mua hàng hóa



Bán sản phẩm



Thời gian

tồn kho



Thời gian

khoản phải thu

Thời



gian

Thời gian

khoản phải trả



Kỳ luân chuyển

tiền mặt



2.1.5. Sự khác nhau giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt

Để phân biệt giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt, ta so sánh hai chỉ tiêu là lợi

nhuận ròng và ngân lưu ròng:

Lợi nhuận ròng = Doanh thu – Chi phí

Ngân lưu ròng = Dòng thu tiền – Dòng chi tiền

Như vậy, ngân lưu ròng dương hay âm khơng có nghĩa là lãi hay lỗ, ngược lại

lãi hay lỗ thì khơng đồng nghĩa là có tiền mặt hay khơng. Về cơ bản, sự khác nhau này

là kết quả của bốn kiểu giao dịch sau đây:

- Giao dịch làm tăng lợi nhuận nhưng chưa làm tăng lượng tiền mặt ngay.

- Giao dịch làm giảm lợi nhuận nhưng chưa làm giảm lượng tiền mặt ngay.

- Giao dịch làm tăng lượng tiền mặt nhưng chưa tác động đến lợi nhuận ngay.

- Giao dịch làm giảm lượng tiền mặt mà chưa tác động đến lợi nhuận ngay.

2.2. Tín dụng thương mại và nắm giữ tiền mặt

2.2.1. Tín dụng thương mại

Lợi thế của việc sử dụng tín dụng thương mại là bên mua khơng cần phải trả

tiền cho hàng hóa khi giao hàng và có thể tận hưởng một khoảng thời gian trì hỗn

ngắn trước khi đến hạn thanh toán. Bên bán hàng cung cấp tín dụng cho bên mua, bên

mua phải trả tiền mặt cho bên bán trong thời gian cấp tín dụng. Như vậy, tín dụng



7



thương mại có thể được coi như một cơng cụ tài chính ngắn hạn. Khoản phải trả vượt

mức có thể tạo ra chi phí khi thiếu hụt tiền. Trong trường hợp này nảy sinh chi phí cơ

hội, một cơng ty có thể nhận một lượng tiền chiết khấu nếu họ thanh toán vào ngay lúc

nhận hàng thay vì thanh tốn hóa đơn vào ngày cuối cùng của kì hạn cấp tín dụng. Nếu

một cơng ty trì hỗn thanh tốn q thời hạn cấp tín dụng do thiếu tiền mặt, họ sẽ phải

chịu một trong những chi phí của việc thanh tốn q hạn tín dụng cho phép, bao gồm

phí phạt thanh tốn chậm hoặc lãi phạt, sự suy giảm xếp hạng tín dụng, và chi phí cơ

hội của việc bỏ qua tiền chiết khấu, nếu có. Do đó, từ quan điểm của động cơ phòng

ngừa, các cơng ty có sử dụng tín dụng thương mại phải nắm giữ thêm một lượng tiền

mặt nhất định để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận cấp tín dụng nhằm được

hưởng một khoản chiết khấu và tránh bị phạt trả chậm.

Khi một nhà cung cấp cung cấp tín dụng thương mại, họ sẽ không nhận được

tiền mặt tại thời điểm cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua. Thay vào đó, do tiền

mặt trở thành một khoản phải thu hoặc ghi nhận phải thu trên bảng cân đối. Tuy nhiên,

các nhà cung cấp hy vọng sẽ thu tiền mặt từ các khoản phải thu tại một số điểm trong

tương lai, hoặc có thể cầm cố chúng (sử dụng chúng như tài sản thế chấp cho các

khoản tài trợ từ ngân hàng). Các khoản phải thu do đó có thể được coi là một khoản

thay thế tiền mặt. Điều này có nghĩa rằng các khoản phải thu tín dụng làm giảm lượng

tiền mặt nắm giữ của công ty.

2.2.2. Tác động của tín dụng thương mại lên nắm giữ tiền mặt – tác động ngược

chiều

Các công ty thường cấp và nhận tín dụng thương mại cùng một lúc. Khoản phải

thu có thể được coi như một khoản thay thế tiền mặt, chúng có thể được sử dụng để

trang trải các khoản phải trả. Điều này có nghĩa rằng các cơng ty có thể giữ ít tiền mặt

dùng để thanh tốn các nghĩa vụ tài chính của họ khi họ có các khoản phải thu trên

bảng cân đối. Tuy nhiên, vấn đề là 1 đồng khoản phải thu không đảm bảo cho việc

thanh tốn tồn bộ 1 đồng khoản phải trả. Khơng có sự chắc chắn về thời gian thu hồi

nợ, và các công ty không phải lúc nào cũng thành công trong việc thu hồi tất cả các

khoản phải thu đầy đủ. Trong thương mại, gần như chắc chắn sẽ xuất hiện một số



8



khoản phải thu mà có thể mất tới vài tháng, vài năm để thu hồi toàn bộ số nợ, hoặc sẽ

khơng bao giờ thu hồi được tồn bộ. Do đó, các khoản phải thu bị chiết khấu (giảm

giá) khi thay thế tiền mặt, và không phải là khoản thay thế hoàn hảo cho tiềặn mt. Tiền

mặt cung cấp thanh khoản vô điều kiện cho các công ty, trong khi các khoản phải thu

ít thanh khoản hơn và chịu rủi ro tín dụng.

Các cơng ty phải chịu nhiều chi phí liên quan đến chậm thanh tốn. Một số

cơng ty thích thanh tốn sớm hơn để được hưởng một khoản chiết khấu. Để đảm bảo

hoạt động của mình, các công ty thường giữ một lượng tiền mặt cần thiết để trang trải

các khoản phải trả của họ. Nếu một cơng ty sử dụng các khoản phải thu thay vì tiền

mặt để trả các khoản phải trả, chủ nợ sẽ yêu cầu các khoản phải thu với mệnh giá lớn

hơn số tiền còn nợ. Như vậy, từ quan điểm nắm giữ tiền mặt, các khoản phải trả và

phải thu có tác động nghịch chiều nhau đến nắm giữ tiền mặt, trong đó 1 đồng các

khoản phải thu khơng đủ thanh tốn hồn tồn 1 đồng các khoản phải trả.

Trong cơng trình nghiên cứu đã tham khảo của nhóm tác giả Wenfeng Wu,

Oliver M. Rui và Chongfeng Wu (2012) xem xét tác động của tín dụng thương mại

đến nắm giữ tiền mặt. Họ nhận thấy rằng, các công ty Trung Quốc nắm giữ thêm $0,71

tiền mặt để trang trải cho $1 khoản phải trả, nhưng $1 các khoản phải thu chỉ được

dùng để thay thế cho $0,15 tiền mặt.

2.3. Các học thuyết về nắm giữ tiền mặt

Phần này bài nghiên cứu sẽ thảo luận về ba mơ hình lý thuyết, những mơ hình

này có thể giúp xác định những đặc điểm của công ty quyết định việc nắm giữ tiền

mặt. Từ đó xác định mối tương quan kì vọng của bài nghiên cứu này về sự tác động

của những đặc điểm của công ty đến việc nắm giữ tiền mặt. Đồng thời ở phần này

cũng chỉ ra rằng, những ảnh hưởng từ đặc điểm của công ty đến việc nắm giữ tiền mặt

có sự khác nhau giữa các mơ hình.

2.3.1. Thuyết đánh đổi

Thuyết đánh đổi lập luận rằng các công ty tối đa hóa giá trị của mình bằng cách

xem xét các chi phí cận biên và lợi ích cận biên của việc nắm giữ tiền mặt. Lợi ích

biên của việc nắm giữ tiền mặt là giảm nguy cơ kiệt quệ tài chính, cho phép cơng ty



9



thực hiện chính sách đầu tư mục tiêu của mình, và tránh (giảm) chi phí liên quan đến

huy động nguồn vốn từ bên ngoài hay thanh lý tài sản. Vì cơng ty hoạt động trong thị

trường khơng hồn hảo, nên hoặc họ có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn

vốn bên ngồi, hoặc họ phải chịu một chi phí cao. Việc nắm giữ tiền mặt như là một

tấm đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của cơng ty. Chi phí cận biên của việc nắm giữ

tiền mặt là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn.

Keynes (1936) đã đưa ra hai động cơ chính là động cơ giao dịch và động cơ

phòng ngừa. Với động cơ giao dịch, Keynes (1936) cho rằng những cơng ty có thể tiến

hành gia tăng tính thanh khoản của công ty theo nhiều cách khác nhau, như huy động

vốn, cắt giảm chi trả cổ tức hoặc giảm đầu tư, hoặc bán những tài sản có tính thanh

khoản. Tuy nhiên, tất cả đều có chi phí. Như vậy, tiền mặt có thể được sử dụng như

một tấm đệm để chống lại vấn đề thanh toán ngắn hạn và khả năng từ chối những dự

án có giá trị. Chi phí thanh khoản cao hơn tạo áp lực cho nắm giữ tiền mặt nhiều hơn.

Ngoài ra, Keynes (1936) cho rằng nắm giữ tiền mặt giúp các cơng ty an tồn khi đối

mặt với nhu cầu chi tiêu bất ngờ hoặc không dự kiến trước mà không cần phải bán tài

sản hoặc huy động vốn bên ngoài, đây là động cơ phòng ngừa.

Theo Dittmar và các cộng sự (2003) và Miller và Orr (1966); Tobin (1956) các

công ty dự trữ tiền mặt khi chi phí tăng và chi phí cơ hội liên quan tới thiếu tiền mặt

cao hơn. Với động cơ phòng ngừa xây dựng dựa trên tác động của thơng tin bất đối

xứng về huy động vốn, có ý kiến cho rằng ngay cả khi các cơng ty có thể huy động

vốn từ thị trường vốn bên ngoài, họ vẫn có thể miễn cưỡng làm như vậy bởi vì các vấn

đề thị trường (ví dụ khi thị trường đang định giá thấp chứng khốn cơng ty dự kiến

phát hành). Thêm vào đó, thuyết đánh đổi nhấn mạnh rằng cơng ty có dự trữ tiền mặt

lớn có thể đạt được chính sách đầu tư tối ưu ngay cả khi họ gặp khó khăn tài chính.

Miller và Orr, 1966;. Kim và các cộng sự (1998) đã phát triển thuyết đánh đổi để xác

định mức tối ưu nắm giữ tiền mặt bằng cách cân bằng chi phí khánh kiệt tiền mặt và

các chi phí nắm giữ tiền mặt khơng hưởng lãi. Opler và các cộng sự (1999) xác định sự

phổ biến của mức tối ưu tiền mặt mà tại đó chi phí biên của tình trạng thiếu tiền mặt

ngang bằng với chi phí biên nắm giữ tiền mặt. Ferreira và Vilela (2004 ) lập luận rằng



10



nắm giữ tiền mặt nhằm giảm xác suất của khủng hoảng tài chính do những khoản lỗ

bất ngờ.

Dưới đây là một số đánh giá ngắn gọn về những đặc điểm công ty liên quan đến

thuyết đánh đổi ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty.

 Tài sản thanh khoản thay thế (LIQUID và LIQUID2)

Bài nghiên cứu này xác định tài sản thanh khoản thay thế là hàng tồn kho,

khoản phải thu, tài khoản phải trả và các mục trong vốn lưu động được sử dụng để

thay đổi lượng tiền mặt. Thuyết đánh đổi dự đoán một mối tương quan âm giữa nắm

giữ tiền mặt và tài sản thanh khoản thay thế bởi vì chúng có thể dễ dàng chuyển đổi

thành tiền mặt và do đó lượng tài sản thanh khoản thay thế thể làm cho lượng tiền mặt

nắm giữ giảm. Bates và các cộng sự (2009), Opler và các cộng sự (1999), Ferreira và

Vilela (2003) và Tong (2006) nhận thấy có một mối tương quan âm giữa các tài sản

thanh khoản thay thế và nắm giữ tiền mặt. Lee và Song (2007) tìm thấy hệ số tương

quan âm đáng kể các khoản thay thế tiền mặt ở các công ty sau khi khủng hoảng tài

chính châu Á. Bigelli và Vidal (2009) thấy rằng vốn lưu động ròng trong một cơng ty

tư nhân càng cao, cơng ty này nắm giữ càng ít tiền mặt.

Đề tài này cũng kì vọng có một mối tương quan âm giữa tài sản thanh khoản

thay thế với nắm giữ tiền mặt vì các tài sản thanh khoản thay thế có thể chuyển đổi

thành tiền mặt dễ dàng nên làm giảm lượng tiền mặt nắm giữ.

 Qui mô công ty (SIZE)

Theo thuyết đánh đổi, qui mô công ty và nắm giữ tiền mặt có một mối tương

quan âm bởi vì các cơng ty lớn có thể dễ dàng tiếp cận với các nguồn tài trợ giá rẻ

(Ferri và Jones, 1979). Ngoài ra còn có một mối tương quan âm giữa qui mô công ty

và các thông tin bất đối xứng (Harris và Raviv, 1990), đây là lý do tại sao các cơng ty

lớn khơng cần tích lũy tiền mặt để tránh việc đầu tư vào các dự án không hiệu quả như

các cơng ty nhỏ làm.

 Đòn bẩy tài chính (LEV)

Theo thuyết đánh đổi, Caglayan - Ozkan và Ozkan (2002) và Diamond (1984)

cho rằng nợ có thể thay thế cho nắm giữ tiền mặt vì nợ làm giảm rủi ro đạo đức và linh



11



hoạt hơn. Tuy nhiên, Ferreira và Vilela (2003) cho rằng thuyết đánh đổi cũng có thể

dự đốn một mối tương quan dương giữa đòn bẩy và nắm giữ tiền mặt vì đòn bẩy làm

tăng xác suất phá sản và do đó các cơng ty giữ tiền mặt nhiều hơn để giảm xác suất

kiệt quệ tài chính. Vì vậy, mối quan hệ ở đây là không rõ ràng.

Đồng quan điểm với thuyết đánh đổi, Caglayan - Ozkan và Ozkan và Diamond

bài nghiên cứu này kì vọng có mối tương quan âm giữa đòn bẩy tài chính và nắm giữ

tiền mặt.

 Nợ dài hạn (DEBTM)

Tác động của nợ dài hạn lên việc nắm giữ tiền mặt là không rõ ràng. DEBTM

liên quan đến rủi ro thanh khoản, khi các yếu tố khác không đổi, các khoản nợ dài

hạn đến hạn làm tỷ số thanh toán nhanh cũng như tỷ số thanh tốn hiện hành giảm do

nợ ngắn hạn của cơng ty gia tăng đột ngột, dẫn đến rủi ro thanh khoản cao. Chính vì

vậy, các cơng ty có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn khi có tỷ lệ nợ dài hạn cao.

Tuy nhiên, Barclay và Smith (1995) cung cấp bằng chứng cho thấy cơng ty với rủi ro

tín dụng cao nhất và thấp nhất sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn trong khi với cơng ty

có rủi ro tín dụng trung bình thì sử dụng nợ dài hạn. Nếu xem xét rằng cơng ty có

xếp hạng tín dụng cao có khả năng vay mượn tốt hơn, thì ta mong chờ rằng các cơng

ty này sẽ giữ ít tiền hơn, điều này làm nợ dài hạn sẽ có tương quan âm với việc giữ

tiền.

Bài nghiên cứu này kì vọng sẽ tìm thấy một mối tương quan dương giữa nắm

giữ tiền mặt với nợ dài hạn.

 Cơ hội tăng trưởng (GROWTH)

Theo thuyết đánh đổi, Opler và các cộng sự (1999) và Harris và Raviv (1990)

tình trạng các cơng ty có cơ hội đầu tư hơn có thể phải đối mặt với chi phí từ nguồn tài

trợ bên ngồi cao hơn do chi phí cao hơn từ chi phí đầu tư khơng hiệu quả và chi phí

kiệt quệ tài chính. Do đó, để giảm chi phí kiệt quệ tài chính, những công ty này dự

kiến sẽ giữ lượng tiền mặt lớn hơn để phòng ngừa rủi ro, làm nảy sinh một mối tương

quan dương dự kiến giữa nắm giữ tiền mặt và cơ hội tăng trưởng.



12



Bài nghiên cứu này sử dụng tốc độ tăng trưởng hằng năm của tổng tài sản để

xác định cơ hội tăng trưởng theo bài nghiên cứu của Shah (2011). Đồng thời cũng kì

vọng sẽ tìm thấy một mối tương quan dương giữa nắm giữ tiền mặt và cơ hội tăng

trưởng.

 Chi tiêu vốn (CAPEX)

Thuyết đánh đổi, Opler và các cộng sự (1999) cho rằng có một mối tương quan

dương giữa chi tiêu vốn và nắm giữ tiền mặt bởi vì các cơng ty có chi tiêu vốn cao giữ

tiền mặt như một lá chắn chống lại chi phí giao dịch liên quan đến vốn và chi phí cơ

hội của việc khơng đủ nguồn lực tài chính.

 Dòng tiền hoạt động (CASHFLOW)

Thuyết đánh đổi dự đốn một mối tương quan âm giữa dòng tiền hoạt động và

nắm giữ tiền mặt bởi vì các cơng ty có dòng tiền đủ lớn để tránh các vấn đề đầu tư

không hiệu sẽ nắm giữ tiền mặt ít hơn.

Đồng quan điểm với thuyết đánh đổi, bài nghiên cứu này kì vọng có một mối

tương quan âm giữa lợi nhuận và nắm giữ tiền mặt.

 Chi trả cổ tức(DIVIDEND)

Khi các công ty cần tiền mặt và gặp khó khăn trong việc huy động nợ nhiều

hơn, hoặc vì họ bị hạn chế về tài chính hoặc bởi vì đòn bẩy nợ của họ đã quá cao, họ

có thể cố gắng tăng lợi nhuận giữ lại bằng cách cắt giảm các khoản thanh toán cổ tức .

Chính vì vậy, các cơng ty đang bị hạn chế tài chính chỉ có thể đạt được lượng tiền mặt

mục tiêu bằng cách cắt giảm chi trả cổ tức (Fazzari và các cộng sự, 1988). Opler và

các cộng sự (1998) nhận định rằng nếu cơng ty có một sự thiếu hụt của tài sản lưu

động, cơng ty có thể đối phó với sự thiếu hụt bằng cách giảm đầu tư hoặc giảm chi trả

cổ tức, hoặc bằng cách huy động vốn bên ngồi thơng qua phát hành chứng khốn

hoặc bán tài sản.

Đề tài này kì vọng có một mối tương quan âm giữa chi trả cổ tức và nắm giữ

tiền mặt vì chi trả cổ tức trực tiếp làm giảm tiền mặt.



13



2.3.2. Thuyết trật tự phân hạng

Thuyết này cho rằng khơng có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho một công ty.

Myers và Majluf (1984), cho rằng các công ty giữ tiền mặt để tài trợ cho các dự án

mới và cơ hội mới. Theo thuyết này, phát hành cổ phiếu mới sẽ rất tốn kém do vấn đề

thông tin bất cân xứng, để giảm thiểu các chi phí liên quan đến vấn đề này, các cơng ty

sử dụng tiền mặt như một cơng cụ có sẵn đầu tiên, họ chuyển sang sử dụng nợ, chứng

khoán an toàn và cổ phiếu được dùng như là một phương án cuối cùng. Theo nhận

định trên, các công ty không có một mức tiền mặt mục tiêu, nhưng thay vào đó họ sử

dụng tiền mặt như một bộ đệm giữa thu nhập và đầu tư.

Theo Dittmar và các cộng sự (2003), quan điểm hệ thống trật tự phân hạng cho

thấy rằng khơng có mức tối ưu tiền mặt, cũng như khơng có mức tối ưu của số dư tiền

nợ. Số dư bằng tiền mặt chỉ đơn giản là kết quả của các quyết định đầu tư và tài trợ

thực hiện bởi các cơng ty. Các cơng ty có dòng tiền lớn sẽ trả cổ tức, trả nợ và tích lũy

tiền mặt. Các cơng ty có dòng tiền thấp sẽ giảm lượng tiền mặt của họ, phát hành nợ

để tài trợ cho dự án đầu tư, nhưng họ sẽ hạn chế phát hành cổ phiếu bởi vì khá tốn

kém.

 Tài sản thanh khoản thay thế (LIQUID và LIQUID2)

Opler và các cộng sự (1999) phát biểu rằng khơng có mối quan hệ được dự

đoán giữa tài sản thanh khoản thay thế và nắm giữ tiền mặt theo thuyết trật tự phân

hạng.

 Qui mô công ty (SIZE)

Ngược lại thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng dự đốn mối quan hệ giữa

qui mơ công ty và nắm giữ tiền mặt tương quan dương bởi vì các cơng ty lớn thường

thể hiện tốt hơn so với các cơng ty nhỏ và do đó cần phải có nhiều tiền mặt (Opler và

các cộng sự, 1999.

Đồng quan điểm với thuyết trật tự phân hạng, bài nghiên cứu này kì vọng sẽ tìm

thấy một mối tương quan dương giữa nắm giữ tiền mặt với qui mô công ty.



14



 Đòn bẩy tài chính (LEV)

Tương tự như thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng, Opler và các cộng sự

(1999 ) phát biểu rằng các cơng ty có sử dụng lượng tiền mặt dư thừa, hoặc là để trả nợ

nổi bật hoặc là tiếp tục tích lũy tiền mặt, và mặc dù các cơng ty có thể có một mức nợ

mục tiêu, tiền vẫn được sử dụng theo thuyết trật tự phân hạng.

 Cơ hội tăng trưởng (GROWTH)

Thuyết trật tự phân hạng dự đoán một mối tương quan dương giữa các cơ hội

tăng trưởng và nắm giữ tiền mặt như dự đoán của thuyết đánh đổi, kể từ khi các cơng

ty có cơ hội đầu tư cao về mặt lý thuyết có thể sinh lợi nhiều hơn và do đó có nhiều

tiền mặt hơn.

 Chi tiêu vốn (CAPEX)

Ngược lại với thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng kì vọng có một mối

tương quan âm giữa chi tiêu vốn và nắm giữ tiền mặt bởi vì chi tiêu vốn rõ ràng trực

tiếp làm giảm tiền mặt của công ty.

Trong bài nghiên cứu này cũng kì vọng chi tiêu vốn sẽ có tương quan âm với

nắm giữ tiền mặt bởi vì chi tiêu vốn làm giảm tiền mặt.

 Dòng tiền hoạt động (CASHFLOW)

Ngược lại với thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng kì vọng có một mối

tương quan dương giữa dòng tiền hoạt động và nắm giữ tiền mặt bởi vì các cơng ty có

dòng tiền lớn vẫn muốn nắm giữ tiền mặt nhiều hơn như một tấm đệm chống các biến

động mạnh của nền kinh tế, đảm bảo uy tín cho cơng ty.

2.3.3. Thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ

quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó.

Chủ sở hữu của các cơng ty cổ phần ngày nay có xu hướng sẽ thuê một giám đốc đại

diện cho mình điều hành cơng ty, người giám đốc điều hành này sẽ phải đáp ứng các

yêu cầu mà các cổ đông đề ra như: được đào tạo một cách chun nghiệp, có năng lực

điều hành cơng ty với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các cổ đơng, có đạo đức nghề

nghiệp để khơng trục lợi cho bản thân,…



15



Ngược lại, hợp đồng đại diện này sẽ mang lại cho các giám đốc – người làm

thuê những lợi ích không nhỏ, họ được quyền ra quyết định và thực hiện các hoạt động

mà được cho là sẽ đem lại lợi ích cho các cổ đơng, họ được hưởng lương và các khoản

lợi tức khác từ công việc quản trị cơng ty, họ có cơ hội nâng cao uy tín quản trị của

mình khi cơng ty hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao vị thế của mình trong thị trường

lao động,… Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở

hữu - của công ty mong muốn mọi hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích

tối đa hố giá trị tài sản của công ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức.

Trong khi đó, người đại diện – nhà quản trị của công ty lại có những lợi ích cá nhân

riêng biệt, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các lý do khiến cho các cổ

đông không thực hiện đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại

rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho

công ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho riêng họ, hay thậm chí với những thơng tin và

quyền lực có được từ việc điều hành cơng ty, họ có thể giúp ví tiền của thân nhân họ

nhiều thêm mà không cần quan tâm đến lợi nhuận hay những hậu quả mà công ty sẽ

phải gánh chịu. Những mâu thuẫn trong lợi ích của hai chủ thể này cho ta thấy rất rõ

sự tồn tại của vấn đề đại diện trong công ty cổ phần. Nguyên nhân thứ hai phát sinh

chi phí đại diện là sự tư lợi của người đại diện.

Lý thuyết đại diện cho rằng, khi thị trường lao động và thị trường vốn là khơng

hồn hảo, người đại diện sẽ tìm cách tối đa lợi ích cá nhân của họ với chi phí do cổ

đơng gánh chịu. Những người làm th này có khả năng làm việc vì lợi ích bản thân

hơn là vì lợi ích cao nhất của doanh nghiệp là do tình trạng bất cân xứng thông tin

(chẳng hạn nhà quản trị biết rõ hơn các cổ đơng là liệu họ có khả năng đạt được những

mục tiêu của các cổ đông hay không) và do sự không rõ ràng. Bằng chứng về sự tư lợi

của nhà quản trị bao gồm cả việc tiêu dùng nguồn lực của doanh nghiệp dưới hình

thức hưởng bổng lộc và cả hành động trốn tránh rủi ro của họ, bằng cách đó các nhà

quản trị khơng thích rủi ro sẽ quyết định bỏ qua các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cao mà

các cổ đơng muốn họ đầu tư.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

×