1. Trang chủ >
  2. Kinh Tế - Quản Lý >
  3. Quản lý nhà nước >

Để xác định sự thay đổi các liên kết trong phân tử gelatin trước và sau khi biến tính, chúng tôi đo phổ hồng ngoại của các mẫu gelatin gồm: GNĐDT, GBE, GBC và GBT. Dựa vào sự thay đổi các peak xuất hiện trên phổ có thể suy ra sự thay đổi các liên kết ...

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (13.04 MB, 275 trang )


Nhìn chung, các phổ trên Hình 3.23 cho thấy, các mẫu gelatin trước và sau

khi biến tính đều có các peak ở số sóng hầu như giống nhau. Tất cả đều có các peak

xuất hiện ở số sóng 1600÷1750 cm-1 (amide I); 1540÷1545 cm-1 (amide II);

1229÷1243 cm-1 (amide III); 3207÷3496 cm-1 (amide A) và 2823÷2943 cm-1 (amide

B) (như phân tích ở mục 3.1.2.5). Tuy nhiên, ở các phổ của GBC, GBT và GBE lần

lượt xuất hiện thêm peak ở số sóng lần lượt là 1742,67 cm-1,1742,91 cm-1 và

1740,86 cm-1 ở vùng amide I và peak ở số sóng 2853,4 cm-1 (GBE); 2853,1 cm-1

(GBC); 2854,4 cm-1 (GBT) ở vùng amide B.

Theo Mourad Jridi và cs. [57] cũng như Benjakul Soottawat và cs [32], peak

ở số sóng 1742,67 cm-1, 1742,91 cm-1 và 1740,86 cm-1 là do dao động C=O kết hợp

với liên kết CN xuất hiện. Trong khi đó, peak ở số sóng lần lượt 2853,4 cm-1

(GBE); 2853,1 cm-1 (GBC); 2854,4 cm-1 do dao động không đối xứng của liên kết

C-H cũng như nhóm NH+3.



3.2.1.8. Đánh giá cảm quan gelatin trước và sau khi biến tính

Kết quả đánh giá cảm quan gelatin sau khi được biến tính được thể hiện ở

Bảng 3.16. Hình ảnh các mẫu sản phẩm gelatin biến tính được trình bày ở Hình 3.24

Bảng 3.16. Kết quả đánh giá cảm quan gelatin sau khi biến tính

Loại

gelatin

Chỉ tiêu



Nguyên liệu Transglutaminase Acid caffeic

(GNĐDT)



(GBE)



Acid tannic



(GBC)



(GBT)



Trạng thái



Hạt mịn



Hạt mịn



Hạt mịn



Hạt mịn



Màu



Trắng sáng



Trắng sáng



Vàng nhạt



Vàng nhạt



Mùi



Khơng mùi



Khơng mùi



Khơng mùi



Khơng mùi



Khi



hòa



nước ở 600C



vào Hút nước và Hút nước và tan Hút nước và Hút nước và

tan



nhanh, chậm, trương nở, tan



chậm, tan



chậm,



trương nở, độ rất dai và dẻo



trương nở, dai trương nở, dai



dai kém



và dẻo



106



và dẻo



GNĐD



GBE



GBC



GBT



Hình 3.24. Gelatin trước và sau khi biến tính bằng transglutaminase, acid

caffeic, acid tannic đã sấy khô

Kết luận 5

1/ Độ nhớt, độ bền gel của gelatin cá Ngừ Đại Dương được biến tính bằng

transglutaminase, acid caffeic, acid tannic đã được cải thiện rõ rệt. Trong đó,

enzyme transglutaminase có tác dụng làm cho độ nhớt, độ bền gel, mức độ liên kết

ngang tăng cao nhất, trong khi acid tannic có tác dụng kém nhất. Độ bền gel của

gelatin được biến tính bởi transglutaminase, acid caffeic, acid tannic đã lần lượt

tăng đến 249,5 g; 165,3 g và 130,2 g so với giá trị 102,8 g của gelatin chưa biến

tính;

2/ Hiệu quả của các q trình biến tính có thể được khẳng định qua:

- Sự thay đổi khối lượng phân tử gelatin theo hướng hình thành các phức có

khối lượng phân tử lớn và mất đi của các polypeptide có khối lượng phân tử nhỏ;

- Ảnh vi cấu trúc của gel gelatin cho thấy cấu trúc sợi của gelatin biến tính

dày hơn, thơ hơn, ít lỗ hổng hơn trong cấu trúc gel;

- Phổ hồng ngoại cho thấy xuất hiện dao động C=O kết hợp với liên kết CN

khi gelatin biến tính bằng transglutaminase, acid caffeic, acid tannic;

- Sự gia tăng của mức độ tạo liên kết ngang được xác định bằng phương

pháp phổ UV-VIS;

3/ Gelatin sau khi biến tính đã có những tính chất cảm quan thay đổi như:

- Hút nước và tan chậm hơn, khi trương nở tạo độ dẻo dai lớn hơn;

- Màu sắc: chuyển sang màu vàng nhạt khi biến tính bằng acid caffeic, acid

tannic và không thay đổi màu khi biến tính bằng transglutaminase.

107



3.2.2. Biến tính bằng polyphenol từ lá chè xanh

3.2.2.1. Thu nhận polyphenol từ lá chè xanh

Polyphenol được thu nhận từ lá chè xanh theo quy trình ở phụ lục 2.1. Chế

phẩm polyphenol thu được có các các chỉ tiêu chất lượng như ở Bảng 3.17

Bảng 3.17. Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng polyphenol thơ chè xanh

TT



Chỉ tiêu



Kết quả



QCVN 8-2:2011/BYT,

mg/kg sản phẩm



1



Polyphenol, % chất khô



64,88



-



2



Độ ẩm, %



6,85



-



3



Cảm quan



Bột mịn, màu vàng nâu,



-



mùi thơm đặc trưng

4



Chì (Pb)



Khơng phát hiện



2,0



5



Arsen (As)



Khơng phát hiện



1,0



6



Thủy ngân (Hg)



31,74 µg/kg



0,05



Hàm lượng polyphenol trong sản phẩm polyphenol thô được chiết xuất từ

chè xanh đạt 64,88%, độ ẩm 6,85%. Polyphenol có màu vàng nâu, mùi thơm đặc

trưng. Một số kim loại nặng như chì, arsen và thủy ngân đều trong giới hạn cho

phép theo QCVN 8-2:2011/BYT. Như vậy, polyphenol thu được từ lá chè xanh như

trên đạt tiêu chuẩn dùng cho thực phẩm.



3.2.2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến sự biến tính của gelatin

Gelatin sau khi biến tính bằng polyphenol chè xanh theo quy trình ở mục

2.3.2.4 đã có sự thay đổi về độ nhớt, độ bền gel và mức độ liên kết ngang theo thời

gian ở các mức nhiệt độ khác nhau như trình bày ở phụ lục 4.3. Kết quả thu được

cho thấy:

- Về độ nhớt: khi tăng thời gian phản ứng, độ nhớt tăng dần đến giá trị cực

đại, sau đó tăng chậm hoặc khơng tăng. Thời gian để độ nhớt đạt giá trị cực đại

khác nhau tuỳ thuộc nhiệt độ phản ứng sử dụng: ở 300C và 350C là 50 phút, ở 400C

là 40 phút và 450C là 30 phút.

- Về độ bền gel: không thể xác định được độ bền gel theo phương pháp

chuẩn vì gelatin trở nên khơng tan sau khi được biến tính và sấy khơ. Do đó,



108



phương pháp xác định độ bền gel được điều chỉnh như sau: sau khi biến tính, dịch

gelatin được pha loãng về nồng độ 6,67%, làm lạnh và đo độ bền gel. Độ bền gel

đạt giá trị lớn nhất khi biến tính ở 300C và 350C là 50 phút, 400C là 40 phút. Ở 450C

dịch gelatin không tạo gel ngay cả khi làm lạnh.

- Về mức độ tạo liên kết ngang: Mức độ liên kết ngang của gelatin được xác

định trực tiếp sau khi biến tính mà khơng qua công đoạn sấy khô. Khi tăng thời gian

phản ứng ở các mức nhiệt độ khác nhau, mức độ liên kết ngang tăng dần đến giá trị

cực đại tương tự như độ nhớt, sau đó giảm dần.

Kết quả sự thay đổi độ nhớt, độ bền gel và mức độ liên kết ngang cực đại ở

các mức nhiệt độ phản ứng khác nhau được thể hiện ở Bảng 3.18.

Bảng 3.18. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ nhớt, mức độ liên kết ngang và độ

bền gel gelatin

Nhiệt độ phản ứng,

0

C



30



35



40



45



Chỉ tiêu

Mức độ tăng độ nhớt, %

31,7±1,2d 48,9±1,4b 55,3±1,1a

40,6±0,99c

Mức độ liên kết ngang, %

10,4±0,35d 13,9±0,40c 15,8±0,30a 14,2±0,44b

Mẫu không sấy 106,6±1,8b 110,5±2,0b 114,8±1,8a trạng thái lỏng

Độ bền

tan không

gel, g

Mẫu sấy

không tan không tan

không tan

hoàn toàn

(Các chữ cái khác nhau trên cùng một hàng thể hiện sai khác có ý nghĩa với p<0,05)

(Mẫu khơng sấy: gelatin sau khi biến tính, đưa về nồng độ 6,67% và làm lạnh;

Mẫu sấy: gelatin sau khi biến tính, sấy khơ sau đó hòa vào trong nước ở 600C).

Kết quả Bảng 3.16 cho thấy: khi biến tính gelatin bằng polyphenol từ lá chè

xanh, độ nhớt và mức độ liên kết ngang đạt giá trị cao nhất ở nhiệt độ 400C ở thời

gian biến tính 40 phút. Kết quả này cũng giống kết quả của Li Jian-Hua và cs. [70]

trong nghiên cứu biến tính gelatin bởi hợp chất chống oxy hóa tự nhiên và kết quả

của chúng tơi khi biến tính gelatin bằng acid caffeic và acid tannic (mục 3.2.1). Do

đó, nhiệt độ 400C và thời gian 40 phút được chọn cho các nghiên cứu tiếp theo.



3.2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng polyphenol

Kết quả đo độ nhớt, mức độ liên kết ngang và độ bền gel được trình bày ở

Bảng 3.19.

109



Bảng 3.19. Ảnh hưởng của hàm lượng polyphenol đến độ nhớt, mức độ liên kết

ngang và độ bền gel gelatin

Hàm lượng polyphenol,

mg/g gelatin

10

15

20

25

Chỉ tiêu

Độ nhớt, cP

66,8±1,95c 71,3±1,82b 75,8±1,1a 73,6±1,2ab

Mức độ liên kết ngang, %

11,7±0,8c

12,9±0,9b 15,9±1,1a

13,2±06b

Mẫu không

108,6±1,4c 113,9±1,0b 117,2±1,3a đặc sánh

sấy

Độ bền gel, g

tan không

Mẫu sấy

không tan không tan khơng tan

hồn tồn

(Các chữ cái khác nhau trên cùng một hàng thể hiện sai khác có ý nghĩa, p<0,05)

(Mẫu khơng sấy: gelatin sau khi biến tính, đưa về nồng độ 6,67% và làm lạnh;

Mẫu sấy: gelatin sau khi biến tính, sấy khơ sau đó hòa vào trong nước ở 600C).

Từ Bảng 3.17 có thể thấy rằng:

- Đối với độ nhớt và mức độ liên kết ngang: khi tăng hàm lượng polyphenol

độ nhớt và mức độ liên kết ngang đều tăng, tuy nhiên mức độ thấp hơn so với biến

tính bằng acid caffeic, acid tannic. Độ nhớt và mức độ liên kết ngang cao nhất đạt

lần lượt là 75,8 cP và 15,9%. Nguyên nhân có thể do khi tăng hàm lượng

polyphenol, tương tác giữa polyphenol và protein xảy ra dễ dàng hơn, tạo nhiều liên

kết giữa các phân tử protein và polyphenol, làm cho mạng lưới phân tử proteinpolyphenol càng lớn dẫn đến độ nhớt và mức độ liên kết ngang tăng dần [110]. Tuy

nhiên, hàm lượng polyphenol nhiều quá có thể gây kết tủa protein, dẫn đến hạn chế

sự tạo liên kết ngang giữa chúng làm cho độ nhớt và mức độ liên kết ngang không

tăng [124].

- Đối với độ bền gel: Độ bền gel chỉ xác định được đối với mẫu khơng sấy và

biến tính ở hàm lượng polyphenol 10-20 mg/g gelatin. Với hàm lượng polyphenol

25 mg/g dịch gelatin mất khả năng tạo gel. Với kết quả thu được như trên chúng tôi

chọn hàm lượng polyphenol 20mg/g cho nghiên cứu tiếp theo.



3.2.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ gelatin

Kết quả theo dõi sự thay đổi độ nhớt, mức độ liên kết ngang và độ bền gel



110



khi thay đổi nồng độ gelatin được thể hiện ở Bảng 3.20.

Bảng 3.20. Ảnh hưởng của nồng độ gelatin đến độ nhớt, mức độ liên kết ngang

và độ bền gel gelatin

Nồng độ gelatin, %



10

15

20

25

Chỉ tiêu

Mức độ tăng độ nhớt, %

89,6±2,3d 125,5±2,4b 177,7±2,2a 106,6±2,1c

Mức độ liên kết ngang, %

11,0±0,81c 13,6±0,63b 15,7±0,72a 15,2±0,80a

Mẫu không

108,6±1,5c 112,9±1,7b 116,4±1,9a đặc sánh

Độ bền gel, g sấy

Mẫu sấy

ít tan

khơng tan không tan không tan

(Các chữ cái khác nhau trên cùng một hàng thể hiện sai khác có ý nghĩa với p<0,05)

(Mẫu khơng sấy: gelatin sau khi biến tính, đưa về nồng độ 6,67% và làm lạnh;

Mẫu sấy: gelatin sau khi biến tính, sấy khơ sau đó hòa vào trong nước ở 600C).

Kết quả Bảng 3.18 cho thấy:

Ở nồng độ 20% q trình biến tính cho gelatin có độ nhớt và mức độ liên kết

ngang cao nhất, đạt lần lượt 177,5% và 15,3%. Kết quả này cũng phù hợp với kết

quả biến tính gelatin bằng acid caffeic, acid tannic (mục 3.2.1.3).

Đối với mẫu khơng sấy, độ bền gel có tăng khi tăng nồng độ gelatin đến 20%,

ở nồng độ gelatin 25% gelatin khơng có khả năng tạo gel khi làm lạnh. Với mẫu sấy,

độ bền gel khơng xác định được vì gelatin khơng tan hoặc ít tan trong nước.

Tóm lại:

Gelatin biến tính bằng polyphenol có độ nhớt, mức độ liên kết ngang tăng

nhẹ, khả năng hoà tan trong nước giảm. Đối với mẫu khơng sấy sau khi biến tính,

độ bền gel tăng nhẹ khi nồng độ gelatin, hàm lượng polyphenol thấp, thời gian biến

tính ngắn. Khi tăng nồng độ gelatin, hàm lượng polyphenol cao, thời gian biến tính

dài gelatin mất khả năng tạo gel. Quá trình sấy làm thay đổi lớn khả năng hồ tan

của gelatin sau khi biến tính.

Điều kiện biến tính gelatin bằng polyphenol để có sự thay đổi lớn nhất về độ

nhớt và khả năng tạo gel như sau: polyphenol 20 mg/g gelatin; nồng độ gelatin

20%; thời gian biến tính 40 phút; nhiệt độ 400C; pH 9.



111



3.2.2.5. Khối lượng phân tử gelatin biến tính bằng polyphenol chè xanh

Khối lượng phân tử gelatin trước và sau khi biến tính được xác định bằng

phương pháp điện di SDS-PAGE với các mẫu được ký hiệu như sau:

- GNĐDT: Gelatin tự nhiên thu nhận từ da cá Ngừ Đại Dương;

- GBP: Gelatin được biến tính bằng polyphenol

- MK: Mẫu chuẩn marker đã biết trước khối lượng phân tử.

Kết quả được trình bày ở Hình 3.25.

95 kDa

72 kDa

55 kDa

43 kDa



34 kDa

GNĐDT



GBP



MK



Hình 3.25. Ảnh điện di các mẫu gelatin và mẫu chuẩn marker

So với mẫu gelatin khơng biến tính (GNĐDT), trên băng điện di của mẫu

gelatin sau khi biến tính bằng polyphenol (GBP) có xuất hiện thêm vệt protein nằm

ở khoảng khối lượng 55÷72 kDa. Đồng thời, vệt protein với khối lượng phân tử

thấp trong khoảng 34÷43 kDa ở mẫu GNĐDT khơng còn xuất hiện. Tuy nhiên vệt

protein xuất hiện mới trên băng mẫu GBP có kích thước nhỏ hơn so với mẫu gelatin

được biến tính bằng acid caffeic; acid tannic. Điều đó chứng tỏ khi gelatin được

biến tính bằng polyphenol có xảy ra phản ứng tạo liên kết ngang giữa protein và

polyphenol làm cho khối lượng phân tử gelatin tăng lên. Theo Vichasilp Chaluntorn

và cs. [120], phân tích hình ảnh điện di của gelatin được biến tính bằng dịch chiết

polyphenol từ hạt nhãn và chè xanh cho thấy có sự khác biệt nhưng không lớn về

khối lượng phân tử khi gelatin được biến tính từ 2 loại dịch chiết trên so với gelatin



112



chưa biến tính. Tác giả cho rằng tương tác giữa protein với polyphenol từ dịch chiết

hạt nhãn và chè xanh thông qua các liên kết yếu như liên kết hydro hoặc tương tác

kỵ nước.



3.2.2.6. Xác định cấu trúc của gelatin

Ảnh vi cấu trúc của gelatin được biến tính bằng polyphenol với độ phóng đại

50.000 lần được trình bày ở Hình 3.26.



GNĐDT



GBP



Hình 3.26. Ảnh vi cấu trúc gelatin trước và sau khi biến tính bằng polyphenol

Ảnh vi cấu trúc gelatin Hình 3.26 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa cấu

trúc của gelatin trước và sau biến tính. Ở mẫu gelatin biến tính, khơng còn cấu trúc

sợi rõ ràng như ở gelatin tự nhiên, thay vào đó có vẻ polyphenol đã bao phủ khắp

các sợi, khác hẵn so với cấu trúc gelatin được biến tính bằng transglutaminase, acid

caffeic, acid tannic. Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu của Kaewdang Onouma

và cs. [58] khi biến tính gelatin da cá Ngừ bằng polyphenol từ vỏ dừa, Wattana

Temdee và cs. [117] biến tính gelatin bằng polyphenol từ cây điều đều cho cấu trúc

gel protein dày đặc hơn so với gelatin chưa biến tính.



3.2.2.7. Xác định phổ hồng ngoại gelatin biến tính bằng polyphenol

Phổ hồng ngoại của gelatin trước (GNĐDT) và sau khi biến tính bằng

polyphenol (GBP) được thể hiện ở Hình 3.27.



113



Đỉnh peak ở số

sóng 3426,55cm-1



GNĐDT

GBP



Hình 3.27. Phổ hồng ngoại của gelatin biến tính bằng polyphenol

Có thể quan sát được sự thay đổi nhỏ về cường độ hấp thụ ở mỗi đỉnh peak

trong các phổ của mẫu trước và sau khi biến tính bằng polyphenol. Trong đó có sự

giảm rõ nhất về cường độ hấp thụ của mẫu gelatin biến tính bằng polyphenol (GBP)

so với mẫu chưa biến tính (GNĐDT) ở vùng amid B ứng với đỉnh peak ở số sóng

3422,76 cm-1 (GBP) so với đỉnh peak ở số sóng 3426,55 cm-1 (GNĐDT). Theo

Vichasilp Chaluntorn và cs. [120], sự giảm cường độ hấp thụ ứng với ở các đỉnh

peak ở vùng amide B cho thấy có sự tác tương tác của nhóm –NH3 giữa các chuỗi

peptid với polyphenol. Cũng theo tác giả, sự thay đổi nhỏ về cường độ hấp thụ của

các đỉnh peak ở vùng amid I, amide II, amide III và amide A cho thấy có sự tương

tác của nhóm kỵ nước của các hợp chất polyphenol với phân tử protein.

GNĐDT



GBP



Hình 3.28. Gelatin trước và sau khi biến tính bằng polyphenol chè xanh

Kết luận 6

1/ Gelatin sau biến tính có độ nhớt, mức độ liên kết ngang, khối lượng phân



114



tử lớn hơn so với gelatin chưa biến tính nhưng thấp hơn so với biến tính bằng

transglutaminase, acid caffeic, acid tannic;

2/ Độ bền gel của gelatin tăng nhẹ sau biến tính đối với mẫu không được sấy;

mẫu sau khi sấy khô rất ít tan hoặc không tan trong nước ấm;

3/ Phổ hồng ngoại của gelatin sau biến tính hầu như khơng cho thấy sự xuất

hiện các nhóm liên kết mới một cách rõ ràng mà chỉ thấy sự thay đổi cường độ hấp

thụ ở đỉnh peak vùng amide B. Điều đó chứng tỏ tương tác giữa polyphenol với

gelatin thơng qua các nhóm chức năng xảy ra yếu hơn so với enzyme

transglutaminase, acid caffeic, acid tannic.



3.2.2.8. Đề xuất quy trình biến tính gelatin

a/ Sơ đồ quy trình



Gelatin



Chuẩn bị dung dịch gelatin

Phản ứng:

pH 7, 400C,

khuấy đảo



Vơ hoạt enzyme



Acid caffeic,

acid tannic,

polyphenol



Enzyme

transglutaminase



Sấy



Để nguội, bao gói



Gelatin

thành phẩm

Hình 3.29. Quy trình biến tính gelatin



115



Phản ứng:

Sục oxy,

pH 9, 400C



b/ Thuyết minh quy trình

b.1. Chuẩn bị dung dịch gelatin

Mục đích: Hòa tan gelatin thành dung dịch để chuẩn bị cho quá trình phản

ứng tạo liên kết ngang.

Tiến hành: Ngâm gelatin trong nước cất ở nhiệt độ phòng để gelatin hấp thụ

nước và trương nở. Lượng nước bổ sung vào đảm bảo nồng độ gelatin đúng theo

yêu cầu đạt 18% (biến tính bằng enzyme transglutaminase), 15% (biến tính bằng

acid caffeic) và 20% (biến tính bằng acid tannic và polyphenol). Khuấy dung dịch

gelatin ở 40oC để cho gelatin hoà tan hoàn toàn. Sau đó, dùng NaOH 1N điều chỉnh

dung dịch gelatin đến pH 7 khi biến tính bằng enzyme transglutaminase và pH 9 khi

biến tính bằng acid caffeic, acid tannic và polyphenol, điều chỉnh nhiệt độ ở 40oC.

b.2. Phản ứng

Mục đích: Tạo liên kết ngang giữa các phân tử protein.

Tiến hành: Cho transglutaminase, acid caffeic, acid tannic, polyphenol đã

hòa tan trong nước vào dung dịch gelatin đã chuẩn bị. Để phản ứng xảy ra trong

thời gian 80 phút đối với enzyme transglutaminase, 90 phút đối với acid caffeic, 60

phút đối với acid tannic, 40 phút đối với polyphenol. Trong quá trình phản ứng, tiến

hành khuấy đảo liên tục, riêng biến tính bằng acid caffeic, acid tannic, polyphenol

phải sục khí liên tục.

b.3. Vơ hoạt enzyme

Mục đích: Ngừng phản ứng tạo liên kết ngang giữa các phân tử gelatin do

enzyme xúc tác để đảm bảo gelatin thu được có các tính chất theo u cầu.

Tiến hành: Sau khi kết thúc phản ứng, mẫu được cho vào bể nước đang sơi ở

100oC trong vòng 1 phút, sau đó lấy ra và để nguội.

b.4. Sấy, đóng gói

Mục đích: Làm giảm lượng nước để tạo sản phẩm gelatin khơ dạng bột.

Tiến hành: Q trình sấy phun được tiến hành trên máy sấy hiệu BUCHI

Mini Spray Dryer B-290. Sau khi sấy sản phẩm gelatin ở dạng bột có độ ẩm 4÷5%.

Gelatin thành phẩm được đóng gói chân khơng và bảo quản ở nhiệt độ thường.



116



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (275 trang)

×