1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 79 trang )


sạn, nhà ga hay các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ 

cho khách hàng của mình theo phương thức của Western Union. 

Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg­It", do  

John Biggins  ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn  

sẽ  được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả  tiền cho nhà kinh  

doanh và sau đó khách hàng trả  tiền cho ngân hàng. Tuy nhiên lúc bấy giờ  loại 

thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân  

hàng.

Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Trong một dịp người đàn ơng  

tên Frank McNamara đi ăn nhà hàng  ở  New York. Khi thanh tốn, Frank nhận ra 

mình khơng mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó, ơng nghĩ ra 

một cách thanh tồn khơng dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ơng lập ra Cơng ty  

Diners Club, phát hành loại thẻ chun dùng để thanh tốn tại các nhà hàng. Chỉ 

trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, 

và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở 

cả  các điểm du lịch, giải trí ngồi lĩnh vực ăn uống. Tới năm 1990,  ước tính có  

6,9 triệu người sử  dụng thẻ  Diners Club trên tồn thế  giới với doanh số  16 tỷ 

USD .

Năm 1960, ngân hàng Bank of America thành lập Cơng ty dịch vụ  Bank  

Americard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ  với 

các ngân hàng thẻ  trên thế  giới. Năm 1966,   Bank of America chính thức trao  

quyền phát hành thẻ BankAmericard của mình cho các ngân hàng khác, thẻ chính  

thức bắt đầu giai đoạn phát triển, nó trở  nên thơng dụng khơng chỉ  đối với giới  

nhà giàu. Cùng với đó là hiệp hội thẻ  Liên ngân hàng Mỹ  ICA ( Interbank Card  

Association)  được thành lập bởi một nhóm 14 ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng  

thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một  

hệ thống mạng lưới thanh tốn được chấp nhận rộng rãi. Năm 1967, 4 ngân hàng 

bang California đổi tên của họ  từ California Bankcard Association thành Western 

State Bankcard Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với 

các tổ chức tài chính khác ở phía Tây nước Mỹ và sản phẩm thẻ của họ là Master 

Charge. Vào năm 1977, thẻ  của Ngân hàng Bank of America mới thật sự  được  

chấp nhận trên tồn cầu, thay vì tên Bank America thì tên thẻ  VISA ra đời. Tới  

năm 1979 Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở  thanh tổ  chức thẻ  lớn  

thứ 2 thế giới sau VISA.



19



 Ngày nay, VISA và Master Card là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngồi  

ra, còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là Amex, JBC, American Express, Diners Club,  

Express Card ... cũng tham gia thị  trường nhưng  ở  quy mơ nhỏ  hơn. Với những  

tiện ích mà nó đem lại, thẻ  thanh tốn đã và đang trở  thành phương tiện thanh 

tốn thu hút sự chú ý của mọi tầng lớp dân cư trên thế giới trong đó có Việt Nam.  

(Anh Đức, Dân trí, 2014)

1.3.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại thẻ thanh tốn

1.3.2.1  Khái niệm thẻ thanh tốn

Qua thời gian dài hình thành và phát triển, có nhiều khái niệm và cách định 

nghĩa khác nhau về thẻ thanh tốn, bởi tùy từng thời điểm mà con người sử dụng  

thẻ  vào những mục đích khác nhau. Một số  khái niệm về  thẻ  thanh tốn được  

nêu ra như sau.

Thẻ  thanh tốn (thẻ  chi trả) là một phương tiện thanh tốn tiền mua hàng 

hố, dịch vụ  hoặc có thể  được dùng để  rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý  

hoặc các máy rút tiền tự động.

Thẻ  thanh tốn là một phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt mà 

người chủ  thẻ  có thể  sử  dụng để  rút tiền mặt hoặc thanh tốn tiền mua hàng  

hố, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh tốn bằng thẻ.

Thẻ  thanh tốn là phương thức ghi sổ  những số  tiền cần thanh tốn thơng 

qua   máy  đọc   thẻ   phối   hợp  với   hệ   thống   mạng  máy  tính   kết  nối   giữa   Ngân 

hàng/Tổ  chức tài chính với các điểm thanh tốn (Merchant). Nó cho phép thực 

hiện thanh tốn nhanh chóng, thuận lợi và an tồn đối với các thành phần tham 

gia thanh tốn.

Theo   quy   định   của   ngân   hàng   nhà   nước   (quyết   định   số   371/1999/QĐ­

NHNN1 ngày 19.8.1999) quy định thẻ  ngân hàng được hiểu là “Cơng cụ  thanh  

tốn do ngân hàng phát hành thẻ  cấp cho khách hàng sử  dụng theo hợp đồng ký 

kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ” 

Như   vậy   các   cách   diễn   đạt   trên   đều   phản   ánh   thẻ   thanh   toán   là   một  

phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt hiện đại hơn các phương tiện khác 

được áp dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.

1.3.2.2 Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh tốn

Từ khi ra đời, thẻ ngân hàng có nhiều sự thay đổi lớn về nội dung lẫn hình 

thức nhằm tăng độ an tồn và tính tiện dụng cho khách hàng. Ngày nay, theo quy 

chuẩn quốc tế, thẻ  ngân hàng phải được làm từ  nhựa cứng, hình chữ  nhật có 

20



kích thước chuẩn là 5,50cm x 8,50cm, dày 1mm, có 4 góc tròn. Màu sắc của thẻ 

tùy thuộc thiết kế của từng ngân hàng.

Mặt trước của thẻ  gồm tên nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên chủ  thẻ,  

logo của ngân hàng phát hành, số thẻ, thời gian hiệu lực. Ngồi ra tùy từng ngân 

hàng phát hành mà có thể có hình của chủ thẻ, con chip (đối với thẻ thơng minh),  

hình nổi khơng gian 3 chiều..; Mặt sau thẻ thể hiện dải băng từ  chưa các thơng 

tin đã được mã hóa theo chuẩn thống nhất   như  số  thẻ, tên chủ  thẻ, ngày hết  

hạn, các yếu tố kiểm tra an tồn, bảo mật, số Pin…

Hình 1.6: Ví dụ về thẻ thanh tốn



1.3.2.3  Phân loại thẻ ngân hàng

Theo mức độ  ngày càng đa dạng của thẻ  ngân hàng, rất khó có thể  phân  

biệt các loại thẻ với những đặc tính riêng biệt. Để hiểu rõ hơn về tính năng của 

thẻ thanh tốn ngân hàng, có thể phân loại thẻ thành nhiều loại theo các tiêu chí  

sau đây.

Theo tính chất thanh tốn

Thẻ tín dụng: Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín 

dụng cho phép và chủ thẻ phải thanh tốn ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày  

đến hạn. Thẻ tín dụng được coi là một cơng cụ  tín dụng trong lĩnh vực cho vay 

tiêu dùng đối với các chủ thẻ, là sự kết hợp hài hòa giữa tín dụng và thanh tốn. 

Nghĩa là đối với hình thức tín dụng thì ngân hàng giao cho khách hàng trực tiếp  

sử  dụng một lượng vốn nào đó còn khi ngân hàng cấp cho khách hàng thẻ  tín  

dụng thì chưa có một lượng tiền nào thực tế được vay. Mà ngân hàng chỉ đưa ra  

sự  đảm bảo về  quyền được sử  dụng một lượng tiền với hạn mức nhất định. 

Việc khách hàng có vay hay khơng còn phụ  thuộc vào q trình sử  dụng của  

khách hàng sau đó. Khi khách hàng sử  dụng thẻ  tín dung để  mua hàng hóa, dịch 

21



vụ là họ đang sử dụng dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng. Nhằm mang lại tiện ích 

cho khách hàng, các tổ chức tài chính thường phát hành thẻ tín dụng có tính tuần 

hồn cho phép người sử  dụng mở rộng khả năng tài chính của mình trong ngắn 

hạn

Căn cứ  vào uy tín hay khả  năng đảm bảo chi trả  của từng khách hàng mà 

các tổ  chức tài chính hay ngân hàng phát hành thẻ tín dụng khác nhau. Khả  năng 

này được xác định dựa trên tổng hợp nhiều chỉ tiêu như  thu nhập trung bình, độ 

tuổi, nghề  nghiệp, tình hình chi tiêu, mối quan hệ  sẵn có với các tổ  chức tín  

dụng, địa vị  xã hội… của khách hàng. Do đó mỗi khách hàng có hạn mức tín 

dụng khác nhau, cũng từ  đó các tổ  chức phát hành nhiều loại thẻ  tín dụng khác  

nhau để cạnh tranh và bao phủ được nhiều tầng lớp khách hàng nhất.

Thẻ  ghi nợ:  là loại thẻ  phát hành cho khách hàng mở  tài khoản tại ngân 

hàng. Thường thì thẻ ghi nợ khơng có hạn mức tín dụng vì nó phụ  thuộc vào số 

dư có trong tài khoản thẻ. Chủ thẻ chỉ có thể chi tiêu hoặc rút tiền tại các cơ sở 

chấp nhận thẻ hoặc các đại lý rút tiền trong phạm vi tài khoản của mình có. Tuy  

nhiên để  tạo điều kiện cho khách hàng trong q trình giao dịch, một số  ngân  

hàng đã áp dụng hình thức thấu chi, tức là cho khách hàng chi tiêu hoặc rút q số 

tiền trong tài khoản trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào mối quan hệ 

khách hàng. Có hai loại thẻ  ghi nợ  cơ  bản là thẻ  on­line và thẻ  off­line. Đặc  

điểm phân biệt hai loại thẻ này là thẻ on­line sẽ khấu trừ giao dịch ngay lập tức  

vào tài khoản thẻ tại thời điểm giao dịch còn thẻ off­line khấu trừ vào tài khoản 

sau vài ngày kể từ thời điểm giao dịch

Thẻ  ATM:  là một hình thức phát triển đầu tiên của thẻ  ghi nợ, cho phép  

chủ  thẻ  tiếp cận trực tiếp với tài khoản tại ngân hàng thơng qua hệ  thống máy  

rút tiền tự  động. Với tính năng tiện lợi khi chủ  thẻ có thể  thực hiện nhiều giao  

dịch tại các ATM như  rút tiền, vấn tin tài khoản, chuyển tiền, đổi mã PIN…vv. 

Khách hàng có thể sử dụng thẻ 24/24h và tất cả các ngày trong tuần tại các ATM 

khác nhau trên tồn hệ thơng trong nước. Trên thế  giới đã có 2 loại thẻ  ATM là  

ATM Cicrus của MasterCard và Plus của Visa cho phép khách hàng rút tiền chung  

tại ATM trên phạm vi tồn thể giới.

Theo chủ thể phát hành

Thẻ  do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho chủ 

thẻ  dùng để  giao dịch trong phạm vi số  dư  tiền gửi tại ngân hàng hoặc trong 

phạm vi hạn mức tín dụng cho phép. Theo cách phân loại này thì đây là loại thẻ 

22



được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, nó khơng chỉ lưu hành trong phạm vi quốc  

gia mà có thể lưu hành trên tồn cầu như thẻ Visa, MasterCard, JBC…vv

Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ do các tập đồn 

kinh tế, các cơng ty cung  ứng hàng hóa dịch vụ, các cửa hàng, nhà hàng lớn cung 

ứng các hàng hóa, dịch vụ, du lịch, giải trí...vv phát hành cho chủ  thẻ  sử  dụng 

theo nhu cầu của khách hàng. Nhằm mục đích tiện lợi trong việc quản lý cũng 

như tạo thêm tiện ích cho khách hàng, kích thích tiêu dùng. Ví dụ như thẻ Dinner 

Club, Amex

Thẻ đồng thương hiệu (co­brand): Là sản phẩm thẻ được phát hành dựa 

trên thoả  thuận hợp tác giữa ngân hàng phát hành với các đối tác liên kết của  

ngân hàng. Đặc điểm của thẻ đồng thương hiệu là logo của Ngân hàng phát hành 

song hành với Logo của Tổ chức liên kết trên bề mặt thẻ. Khi sử dụng thẻ khách 

hàng nhận được nhiều  ưu đãi từ  ngân hàng phát hành và đối tác đồng thương  

hiệu. Ví dụ  như  thẻ  Co.opmark­ DongA Bank, E­O’CARE, Viettinbank­Metro…

vv

Theo phạm vi lãnh thổ

Thẻ  nội địa: là loại thẻ  chỉ  sử  dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy  

tiền giao dịch phải là đồng bản tệ 

Thẻ  quốc tế: là loại thẻ khơng chỉ dùng được trong phạm vi quốc gia mà 

còn được chấp nhận sử dụng rộng rãi trên phạm vi tồn thể giới. Ngân hàng phát 

hành loại thẻ  này phải là thành viên của các tổ  chức thẻ  quốc tế  như  Visa, 

MasterCard, Amex, JBC, …vv

Theo xu hướng hội nhập thế  giới của tất cả các quốc gia thì thẻ  quốc tế 

phát triển sẽ là xu hướng tất yếu. Thực tế này buộc các ngân hàng thương mại 

Việt Nam phải đối mặt với yêu cầu kết nối các hệ  thống thẻ  để  phù hợp với  

nhu cầu phát triển trên thị  trường. trong thời điểm hiện nay thì đây là một hạn 

chế  đã và đang cản trở  đến sự  phát triển của thẻ  thanh tốn tại các ngân hàng  

thương mại Việt Nam

Theo cơng nghệ sản xuất

Thẻ băng từ (Magnetic stripe): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật 

thư tín với hai băng từ chứa thơng tin ở mặt sau mặt của thẻ, các thơng tin này có 

liên quan đến khách hàng.  Thẻ  băng từ  được sử  dụng phổ  biến trong 20 năm 

qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm:

23



­



Thơng tin ghi trên thẻ khơng tự mã hố được, thẻ chỉ mang thơng tin cố định 



nên người ngồi có thể đọc được thẻ bằng các thiết bị đọc gắn với máy tính.

­



Khơng gian trong thẻ chứa dữ liệu ít, khơng áp dụng được kỹ thuật mã hố 



nên khả  năng bảo mật thơng tin thấp, dễ  bị  lợi dụng. Thực tế  đã có rất nhiều  

trường hợp chủ thẻ bị kẻ gian lợi dụng, lấy cắp tiền.

Thẻ chip theo chuẩn EMV (viết tắt là thẻ Chip) :  là sản phẩm thẻ được 

gắn chip điện tử với bộ vi xử lý như một máy tính thu nhỏ đa chức năng và ứng 

dụng, có khả năng lưu trữ các thơng tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật 

cao. EMV là sản phẩm chung do Europay, MasterCard và Visa cùng phát triển vào 

giữa thập niên 1990 có tính năng mở để đảm bảo khản năng vận hành liên thơng  

giữa các thẻ chip và máy đọc để thanh tốn.

Ngồi ra còn có những cách phân loại khác do khách hàng từ phân loại như:

Căn cứ vào đối tượng sử dụng có thẻ vàng và thẻ chuẩn: Thẻ vàng là loại 

thẻ  phục vụ  thị  trường cao cấp phù hợp với tình hình tài chính và chi tiêu của 

khách hàng có thu nhập cao. Thẻ chuẩn lại mang tính chất đại chúng, hiện nay  

được sử  dụng rộng rãi vì những người có mức thu nhập khá hay trung bình bao  

giờ cũng đơng hơn những người có thu nhập cao trong xã hội.

Căn cứ  vào mục đích sử  dụng có thẻ  cá nhân và thẻ  cơng ty: Thẻ  cá nhân 

dùng cho mục đích thanh tốn của các cá nhân, chịu trách nhiệm thanh tốn bằng 

nguồn tiền của mình thơng qua tài khoản mở  tại ngân hàng. Thẻ  cơng ty được 

phát hành dành riêng cho nhân viên cơng ty phục vụ  mục đích kiểm tra, quản lý  

tình hình chi tiêu của nhân viên. Hàng tháng, q, năm cơng ty sẽ được cung cấp  

những thơng tin về chi tiêu của nhân viên mình trong kỳ.

1.3.3  Lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh tốn ngân hàng

Thẻ thanh tốn ngân hàng trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong 

thanh tốn, vậy những lợi ích mà nó đem lại cho con người và tồn xã hội là gì?

Lợi ích đối với chủ thẻ ( Cardholder)

Linh hoạt, hiện đại trong thanh tốn ở trong và ngồi nước. Chủ thẻ có thể 

sử dụng thẻ để thanh tốn hàng hóa, dịch vụ mà khơng cần sử dụng tiền mặt, có 

thể rút tiền mặt tại bất cứ đơn vị chấp nhận thẻ nào trên tồn thế  giới. Đem lại 

nhiều tiện lợi cho chủ  thẻ khi đi du lịch hay cơng tác xa đặc biệt ở  nước ngồi 

khơng cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, khơng phụ  thuộc vào khối  

lượng tiền cần thanh tốn vẫn có thể  thanh tốn cho mọi nhu cầu chi tiêu của 

mình, có thể dùng thẻ ngân hàng để rút tiền mặt tại mọi thời điểm

24



An tồn trong thanh tốn: Việc sử  dụng thẻ  sẽ  an tồn hơn nhiều so với 

các hình thức thanh tốn khác như tiền mặt, séc… Khi thẻ bị mất, người cầm thẻ 

cũng khó sử  dụng được vì ngân hàng sẽ  bảo mật cho chủ  thẻ  bằng mã số  PIN, 

ảnh và chữ  ký trên thẻ. Trong trường hợp mất thẻ, chủ  thẻ  chỉ  cần thơng báo  

đến ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng đại lý để khóa thẻ và có thể được cấp  

lại thẻ  khác. Trong q trình sử  dụng thẻ  để  mua hàng nếu hàng đã mua khơng  

đủ  tiêu chuẩn chất lượng thì chủ  thẻ  có thể  u cầu được ngân hàng phát hành 

bảo vệ, thậm chí có thể được bồi thường.

Tiết kiệm thời gian: Thẻ ngân hàng giúp tiết kiệm được thời gian chờ đợi 

trong giao dịch thanh tốn hàng hóa, dịch vụ  vì giảm được thời gian kiểm đếm 

khi mua hàng hóa giá trị  lớn mà phải thanh tốn bằng tiền mặt. Hoặc khi muốn  

thanh tốn các cước phí dịch vụ Internet, cước điện thoại, điện lực, tiền nước…

chủ thẻ khơng phải mất thời gian đi đến các quầy giao dịch, khơng phải chờ đợi 

thứ  tự  giao dịch bởi chủ thẻ có thể  thực hiện tất cả  các giao dịch thanh tốn đó 

tại máy ATM hoặc trên máy tính cá  nhân thơng qua các dịch vụ Internet Banking

Được cấp tín dụng tự động tức thời: Đối với thẻ tín dụng, chủ thẻ được 

cấp hạn mức tín dụng ngân hàng, chi tiêu trước, trả tiền sau. Khi đến hạn thanh 

tốn (thường là một tháng) chủ thẻ chỉ cần thanh tốn số tiền tối thiểu (hiện quy  

định 20% trên số tiền đã sử dụng), số nợ còn lại chủ  thẻ  có thể  trả  sau và phải 

chịu lãi theo mức lãi suất cho vay tiêu dùng. Như  vậy thẻ tín dụng là một dạng 

cho vay thanh tốn, là một dịch vụ mà ngân hàng ứng trước tiền cho các giao dịch 

của khách hàng, cung cấp cho khách hàng một khả năng mở rộng các giao dịch tài 

chính. Ngồi ra, thủ  tục phát hành thẻ  đơn giản giúp cho khách hàng khơng còn 

tâm lý e ngại khi đến ngân hàng làm thủ tục xin vay

Lợi ích đối với đơn vị phát hành.

Hơn ai hết, ngân hàng hay các tổ chức tín dụng chính là người được hưởng  

lợi từ hoạt động phát hành thanh tốn thẻ, được thể hiện ở các mặt sau

Tăng lợi nhuận ngân hàng:   Hoạt động kinh doanh thẻ  mang lại nhiều  

nguồn thu nhập cho ngân hàng thơng qua việc thu phí và lãi từ  hoạt động này. 

Các khoản thu bao gồm: Đối với thẻ  tín dụng: ngân hàng sẽ  thu phí phát hành,  

phí thường niên, phí chuyển đổi ngoại tệ  từ  tổ  chức thẻ  quốc tế, phí rút tiền 

mặt, phí chuyển tiền, phí thanh tốn, lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ  thẻ 

chậm thanh tốn… Đối với thẻ  ghi nợ, thẻ  ATM: ngân hàng sẽ  thu phí phát 



25



hành , phí thường niên, phí giao dịch…Tuy nhiên các phí này có thể  được miễn 

giảm tùy theo chính sách của mỗi ngân hàng. 

Đa dạng hóa dịch vụ  ngân hàng: Dịch vụ  thẻ  ra đời làm phong phú thêm 

các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, cung cấp cho khách hàng sản phẩm thanh  

tốn tiện ích, an tồn, hiện đại đáp  ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách  

hàng. Khơng chỉ có vậy, ngân hàng có cơ hội phát triển các dịch vụ khác như giao  

dịch ngân hàng qua internet, qua điện thoại, đầu tư tài chính..

 Tăng nguồn vốn cho ngân hàng: Dịch vụ  thẻ  phát triển, đặc biệt là thẻ 

ghi nợ đã giúp cho ngân hàng thu hút được khách hàng mở tài khoản, thu hút được 

dòng tiền gửi vào ngân hàng gồm số  lượng tiền gửi của khách hàng để  thanh  

tốn thẻ, số lượng tiền ký quỹ duy trì tài khoản, số tiền khách hàng nộp vào thẻ 

nhưng chưa sử dụng đến. Các tài khoản này sẽ giúp cho ngân hàng có được một  

nguồn vốn huy động đáng kể  với lãi suất thấp (lãi suất tiền gửi khơng kỳ  hạn) 

để có thể phục vụ cho các mục đích kinh doanh khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Hiện đại hóa ngân hàng: Khi phát triển thêm một phương thức thanh tốn 

mới phục vụ  khách hàng bắt buộc ngân hàng phải khơng ngừng hồn thiện đầu  

tư thêm thiết bị kỹ thuật cơng nghệ, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên để cung  

cấp cho thị trường những sản phẩm tốt, khách hàng có được những điều kiện tốt 

nhất trong thanh tốn đảm bảo uy tín, an tồn, hiệu quả  trong hoạt động kinh 

doanh.

Thúc đẩy hội nhập hợp tác quốc tế: Khi trở thành thành viên của một tổ 

chức thẻ quốc tế như Visa hay MasterCard, ngân hàng thành viên dù là nhỏ nhất  

cũng có thể cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh tốn quốc tế  trong  

chuỗi dịch vụ tồn cầu. Bởi ngân hàng thành viên có thể thanh tốn cho các giao  

dịch thanh tốn bằng thẻ tín dụng của nhiều ngân hàng trên thế giới thơng qua tổ 

chức thẻ  quốc tế  Visa/MasterCard và các tổ  chức thẻ  Visa/Master sẽ  có trách 

nhiệm phân bổ  đến các ngân hàng có liên quan trong việc thanh tốn. Như  vậy  

tham gia thị  trường thẻ  đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tham gia vào  

q trình tồn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng quốc tế. 

Lợi ích đối với đơn vị chấp nhận thẻ

Tăng lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường và tăng doanh số: Các đơn 

vị  kinh doanh là cơ  sở  chấp nhận thẻ  như  cửa hàng, nhà hàng, khách sạn… khi 

chấp nhận thanh tốn bằng thẻ  sẽ  tăng thêm lợi thế  cạnh tranh cho mình do đã  

cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh tốn nhanh chóng, tiện lợi. Do 

26



vậy, khả năng thu hút khách hàng của các cơ sở chấp nhận thẻ sẽ tăng lên. Đặc 

biệt với khách du lịch, các nhà đầu tư nước ngồi có thói quen sử dụng thẻ thanh 

tốn thì việc có nhiều cơ sở chấp nhận thẻ càng thu hút họ nhiều hơn bởi yếu tố 

tiện lợi, doanh số  bán hàng hóa, dịch vụ  của các cơ  sở  này nhờ  đó cũng lớn 

mạnh. Ngồi ra, khi thanh tốn bằng thẻ  sẽ  giúp các cơ  sở  nhanh thu hồi vốn.  

Chẳng hạn, trường hợp khách hàng muốn thanh tốn bằng séc cho một món hàng 

có giá trị lớn hơn mức đảm bảo của tờ séc thì cửa hàng đó sẽ đứng trước sự lựa 

chọn khó khăn, hoặc là chấp nhận thanh tốn séc với số  tiền lớn hơn hạn mức  

được đảm bảo và chiụ  rủi ro nếu ngân hàng phát hành từ  chối thanh tốn, hoặc 

sẽ khơng bán được hàng, doanh số bán sẽ giảm. Nếu sử dụng thẻ thanh tốn,cơ 

sở  chấp nhận thẻ  có thể  n tâm là sẽ  được ghi có vào tài khoản ngay khi dữ 

liệu về giao dịch thẻ được truyền đến ngân hàng hoặc cơ sở chấp nhận thẻ nộp  

hóa đơn thanh tốn thẻ  cho ngân hàng. Số  tiền này họ  có thể  sử  dụng ngay vào  

kinh doanh để quay vòng vốn hoặc các mục đích khác.

An tồn, bảo đảm: Khi thanh tốn bằng thẻ  sẽ  hạn chế được hiện tượng  

khách hàng sử dụng tiền giả, hạn chế được tình trạng mất cắp do sự thiếu trung 

thực của nhân viên hoặc kẻ trộm, đồng thời cũng hạn chế được vấn đề mất cắp  

tiền mặt của bản thân khách hàng.

Rút ngắn thời gian giao dịch với khách hàng: Sử  dụng thẻ  thanh tốn sẽ 

giúp rút ngắn được thời gian giao dịch với khách hàng hơn so với khi giao dịch  

tiền mặt, do được thực hiện thơng qua máy móc thiết bị chuyển ngân điện tử tại 

các điểm bán hàng, giảm bớt thời gian kiểm đếm tiền, ghi chép sổ  sách cho các 

cơ  sở  chấp nhận thẻ. Vì vậy, q trình xử  lý giao dịch được nhanh chóng, an 

tồn, chính xác hơn.

Giảm chi phí giao dịch: Việc thanh tốn thẻ  sẽ  giúp cho các cơ  sở  chấp 

nhận thẻ giảm chi phí bán hàng do giảm được đáng kể các chi phí cho việc kiểm 

đếm, bảo quản tiền, và quản lý tài chính, ngồi ra việc tham gia chấp nhận thẻ 

cũng tạo điều kiện cho các cơ  sở  chấp nhận thẻ  được hưởng lợi từ  chính sách  

khách hàng của ngân hàng, bên cạnh việc được cung cấp đầy đủ  các máy móc 

thiết bị  cần thiết cho việc thanh tốn, các cơ  sở  chấp nhận thẻ  còn nhận được  

ưu đãi về tín dụng, về dịch vụ thanh tốn từ ngân hàng thanh tốn.

Lợi ích đối với nền kinh tế.



27



Trong q trình phát triển của ngân hàng cùng sự  phát triển của thẻ  thanh  

tốn, những vai trò to lớn mà thanh tốn thẻ  đem lại cho nền kinh tế  được thể 

hiện ở những mặt sau:

Tăng hoạt động thanh tốn khơng dùng tiền mặt: Thẻ  thanh tốn là một 

phương tiện thanh tốn tiện lợi, dễ dàng, và hấp dẫn người dân sử dụng. Thanh  

tốn bằng thẻ  làm giảm bớt các giao dịch thủ  cơng, tiếp cận với một phương  

tiện thanh tốn hiện đại của thế giới. Với những lợi ích của phương tiện thanh  

tốn khơng dùng tiền mặt sẽ  nâng cao độ  an tồn xã hội, cải thiện mơi trường 

tiêu dùng, xây dựng  nền văn minh thanh tốn, tạo cơ sở để Việt Nam hội nhập 

quốc tế.

Giảm lưu thơng bằng tiền mặt: Khi số  người sử  dụng dịch vụ thẻ thanh 

tốn tăng lên làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thơng, từ  đó tiết kiệm 

được chi phí sản xuất, vận chuyển, bảo quản, và kiểm đếm tiền mặt.

Điều hòa lưu thơng tiền tệ trong nền kinh tế: Với việc sử dụng thẻ thanh 

tốn sẽ làm tăng lượng tiền giao dịch qua ngân hàng tạo điều kiện cho Nhà nước 

quản lý và đánh thuế  thu nhập của người dân, làm tăng hệ  số tiền tệ  cũng như 

làm cho chính sách tiền tệ  của chính phủ  có hiệu quả  hơn. Trong tương lai, thẻ 

thanh tốn còn là cơng cụ  quản lý của Nhà nước đối với người dân, góp phần 

minh bạch tài chính, giảm thiểu những tác động tiêu cực của các hoạt động kinh 

tế ngầm, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh 

tế và điều hành các chính sách tài chính quốc gia

Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh tốn trong nền kinh tế: Hiện 

nay hầu hết các giao dịch thẻ  trong phạm vi quốc gia hay tồn cầu đều được  

thực hiện trực tuyến (on­line), vì vậy tốc độ chu chuyển thanh tốn nhanh chóng 

hơn nhiều so với các phương tiện thanh tốn khác như  séc,  ủy nhiệm chi,  ủy  

nhiệm thu.

Về   phương   diện   quản   lý   của  Nhà   nước:  Phát   triển   thẻ   là   một   trong 

những công cụ  hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của Nhà  

nước. Do sự  tiện lợi mà thẻ  mang lại cho người sử  dụng, các cơ  sở  chấp nhận  

thẻ cũng như với các ngân hàng khiến cho ngày càng nhiều người ưa chuộng sử 

dụng thẻ hơn, tăng cường chi tiêu bằng thẻ, tạo lập một xu hướng tiêu dùng mới 

“tiêu dùng trước, trả  tiền sau” làm tăng cầu tiêu dùng nhiều hơn nữa. Điều này  

cũng tạo nên một kênh cung ứng vốn hiệu quả cho các ngân hàng thương mại ở 

trong nước.

28



1.3.4  Những nhân tố   ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ  của ngân 

hàng.

1.3.4.1  Các nhân tố nội bộ ngân hàng

Điều kiện khoa học cơng nghệ:

Các  ứng dụng của tin học đã tạo nên những tiện ích kỳ  diệu của thẻ.  

Thanh tốn thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nên nếu hệ thống này 

có trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong tồn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ,  

ngân hàng phải đảm bảo một cơng nghệ thanh tốn hiện đại theo kịp u cầu của  

thế giới. Hơn nữa, chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo dưỡng,  

duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát hành, thanh tốn thẻ mới có hiệu quả, từ 

đó thu hút thêm người sử dụng nó.

Khả năng về vốn

Hoạt động thẻ đòi hỏi một chi phí đầu tư cao cho việc lắp đặt những thiết  

bị  và cơng nghệ  hiện đại như  máy ATM, máy thanh tốn thẻ  tại các điểm bán 

hàng (POS). Vì vậy, vốn đầu tư là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với  

ngân hàng trong bước đầu triển khai dịch vụ  thẻ  trên thị  trường và đầu tư  đổi 

mới cơng nghệ thẻ bắt kịp với những tiến bộ trên thế giới.

Nguồn nhân lực

Là một phương tiện thanh tốn hiện đại, thẻ mang tính tiêu chuẩn hố cao 

độ  và có quy trình vận hành thống nhất. Thẻ  đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân 

lực có khả  năng, trình độ  và kinh nghiệm tiếp cận, đáp  ứng đầy đủ, thơng suốt 

và hiệu quả quy trình hoạt động, đảm bảo cho thẻ phát huy được những tiện ích  

vốn có của nó.

Tóm lại, thẻ  chịu tác động của nhiều yếu tố  và giữa chúng có mối quan 

hệ chặt chẽ với nhau tác động một cách tổng hợp đến sự phát triển của phương  

tiện thanh tốn hiện đại này. Đối với Việt Nam, phát triển thẻ  còn yếu và thiếu 

rất nhiều điều kiện, đòi hỏi các ngân hàng phải nỗ  lực rất nhiều để  khắc phục  

những hạn chế và tự tìm ra hướng đi, giải pháp cho mình.

1.3.4.2. Các nhân tố từ bên ngồi.

Các điều kiện về mặt xã hội

Sự  phát triển và mức độ  phát triển thanh tốn thẻ  tại mỗi quốc gia phụ 

thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của xã hội đó. Nó gồm có những nội dung  

chính sau:

29



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

×