1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Quản lý >

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 162 trang )


7



Nhà Tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget khi nghiên cứu về sự phát triển các chức

năng kí hiệu, ông chỉ ra rằng những hình ảnh của tưởng tượng không chỉ là sự sao

chép hiện thực một cách đơn thuần mà đó là sự sao sao chép một cách tích cực

những bức tranh tri giác.[24, 6]

Một số tác giả người Đức như Vinhem Serer, Muyle Phraienphen đã đánh

đồng trí nhớ và tưởng tượng. Nhằm mục đích phản bác lại quan điểm xem tưởng

tượng là yếu tố không thể nhận biết được, là yếu tố độc quyền của các thiên tài sáng

tạo. Các tác giả này đã chứng minh tưởng tượng là một hiện tượng đơn giản và phổ

biến thông qua việc coi các hình ảnh của trí nhớ là sự thể hiện thực sự của tưởng

tượng. Serer từng tuyên bố: “Tôi thiên về phía thừa nhận rằng trí nhớ và tưởng

tượng chẳng qua chỉ là một mà thôi, đấy là khả năng gợi lại các biểu tựơng cũ”.

[15, 7]

Sigmund Freud (1856-1939) là nhà Tâm lý học nghiên cứu rất nhiều về giấc

mơ nên cũng quan tâm đến tưởng tượng. Tuy nhiên, ông lý giải cũng như các hiện

tượng tâm lý khác, tưởng tượng có nguồn gốc từ sự dồn nén các bản năng tính dục

khi chúng không được thỏa mãn. Tưởng tượng xuất hiện rất nhiều trong vô thức

giúp thỏa mãn dục vọng. Ông cho rằng chức năng cơ bản của tưởng tượng là bảo vệ

“cái tôi”, điều hòa những cảm xúc bị dồn nén.[15, 6]

L.X.Vưgôtxki với một số tác phẩm như: “Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa

tuổi thiếu nhi”, “Tâm lý học nghệ thuật”, “Sự phát triển của các chức năng tâm lý

cấp cao”, đã xây dựng nên lý thuyết khá hoàn chỉnh về tưởng tượng. Đối với ông,

hoạt động sáng tạo có vai trò to lớn trong sự tồn tại của loài người và cơ sở sáng tạo

chính là tưởng tượng. Theo Vưgôtxki: “Trí tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt

động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau trong mọi phương diện của đời

sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật có khả

năng thực hiện”. Khi nghiên cứu về tưởng tượng sáng tạo ở trẻ em ông đã chỉ ra vai

trò của hứng thú đối với việc hình thành và phát huy khả năng sáng tạo của trẻ em

trong hoạt động tạo hình và ông đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tự do trong hoạt

động nghệ thuật.



8



Nhà Tâm lý học E.P.Torrance đã soạn thảo ra một số Test về tưởng tượng và

tưởng tượng sáng tạo rất có giá trị, được sử dụng đến ngày nay. Test sáng tạo và

tưởng tượng sáng tạo của Torrance được dùng cho nhiều độ tuổi khác nhau từ trẻ

mầm non đến người trưởng thành, đánh giá dựa trên 4 tiêu chí:

+ Tính linh hoạt (Flexibility): thể hiện ở việc đưa ra nhiều phương án, nhiều

cách khác nhau tạo ra sản phẩm.

+ Tính nhanh nhạy (Fluency): thể hiện ở việc nhanh chóng tạo ra sản phẩm.

+ Tính độc đáo (Orginality): thể hiện ở sản phẩm, cách giải quyết vấn đề

khác với người còn lại.

+ Tính tỷ mỷ (Elaborality): thể hiện ở việc sản phẩm tạo ra có nhiều chi tiết

tỷ mỷ, công phu. [15, 19, 20].

Theo một số tác giả như A.N.Leonchiev, X.L.Rubinstein… tưởng tượng là

hoạt động tâm lý nằm trong giai đoạn nhận thức lý tính và gắn liền với hoạt động

sáng tạo.

Nhìn chung, nghiên cứu về tưởng tượng đã được nghiên cứu từ khá lâu, và

ngày nay tưởng tượng sáng tạo đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm

lý học.



1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu hoạt động vẽ và tưởng tượng

sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ em

Việc nghiên cứu về hoạt động tạo hình của trẻ em mà đặc biệt là hoạt động vẽ

có một lịch sử khá phức tạp. Lúc đầu, sự lý giải về bản chất của hoạt động này

mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Tiếp đó các cách giải đều mang ảnh hưởng của

các trường phái Tâm lý học như “Tâm lý học ưu sinh”, “Tâm lý học cấu trúc”,

“Phân tâm học” với câu hỏi chính mà các nhà Tâm lý học giải đáp là “Trẻ vẽ gì?”

[30,36]

Các nhà Tâm lý học theo trường phái ưu sinh đã xem xét bản chất hoạt động

vẽ của trẻ từ góc độ sinh học. Đại diện trường phái này, tác giả G.Ke-mschensteiner

cho rằng đứa trẻ vẽ những gì nó biết và cái nó biết theo ông là tiềm năng bẩm sinh.



9



Đồng ý với tác giả trên, W.Stem cũng khẳng định rằng trẻ miêu tả những gì nó nghĩ,

nó biết chứ không phải là cái nó nhìn thấy. Sự phát triển hoạt động tạo hình theo

quan điểm này chính là quá trình tự phát của các khả năng bẩm sinh, là sự kế thừa

một cách tự nhiên những tiềm năng sẵn có của cả loài. [30, 36]

Khác với các nhà Tâm lý học ưu sinh, các đại diện của Tâm lý học hành vi

đánh giá cao vai trò của ảnh hưởng ngoại giới nhưng lại coi thường yếu tố tự nhiên

– một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển khả năng nghệ thuật. Việc tổ

chức dạy học, giáo dục kiểu “chương trình hóa” theo quan điểm này không thể

mang lại kết quả tích cực trong việc phát triển khả năng sáng tạo và giáo dục thẩm

mỹ cho trẻ nhỏ. [30, 36]

Các nhà Tâm lý học cấu trúc cũng đi sâu tìm hiểu hoạt động vẽ của trẻ em và

đã cho rằng “Trẻ vẽ những gì nó nhìn thấy”. Câu trả lời này đã chỉ ra vai trò to lớn

của tri giác và các kinh nghiệm trong quá trình vẽ. Tuy nhiên theo trường phái này,

“nhìn” và nhìn nhiều thôi thì chưa đủ, cần phải biết nhìn trong hoạt động tạo hình

phải là khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp và nhận biết cấu trúc của đối tượng

quan sát như một tổng thể trọn vẹn. Các nhà tâm lý học cấu trúc cho rằng phần lớn

các hiện tượng trong cuộc sống, trong thiên nhiên không thể được miêu tả một cách

chính xác nếu chỉ xem xét theo từng phần riêng lẻ. Họ khẳng định vai trò của tri

giác trọn vẹn trong việc hình thành các tác phẩm nghệ thuật. Hạn chế của họ là quá

thiên về quy luật “bừng sáng” và giải thích các hiện tượng sáng tạo trong hoạt động

vẽ như là kết quả của sự “lóe lên” của “cấu trúc sinh học” mang tính tiền định nên

đã đánh giá thấp vai trò của ý thức trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật. [30, 36]

Tranh vẽ của trẻ em là mối quan tâm đặc biệt của các nhà Phân tâm học, khi lý

giải về bản chất tranh vẽ của trẻ, họ khẳng định rằng “Đứa trẻ vẽ những gì nó cảm

thấy”. Cái “cảm thấy” chính là nhu cầu bản năng vô thức. Với quan điểm của mình

họ đã sinh vật hóa tâm lý con người, làm con người mất đi tính chủ thể, tính tích

cực hoạt động và sáng tạo trong hoạt động vẽ. [30, 37]

Nhìn chung, khi xem xét các quan điểm của những trường phái Tâm lý học

trên có thể nhận thấy chỉ mới dừng lại ở sự phát triển tự phát của trẻ trong hoạt



10



động tạo hình mà không thừa nhận rằng hoạt động tạo hình của trẻ em là kết quả

hoạt động tích cực của chủ thể trên cơ sở sự lĩnh hội và vận dụng sáng tạo các kinh

nghiệm xã hội, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.

Vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 20, một số nhà nghiên cứu đã tổ chức quá

trình quan sát, thực nghiệm nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành

tranh vẽ của trẻ em. G.H.Luquet, J.Piaget đã chỉ ra vai trò của các biểu tượng hình

tượng trong quá trình xây dựng hình vẽ, hay D.N.Unadze cũng đã chứng minh sự

phụ thuộc của những hình ảnh được thể hiện trong tranh vẽ của trẻ em vào khả năng

tri giác và các biểu tượng được hình thành trong quá trình tri giác, tư duy.

Từ những năm 40-50 của thế kỉ 20, dưới ánh sáng của các công trình nghiên

cứu của nhà Tâm lý học Xô-viết lỗi lạc L.X.Vưgôtxki thì cách nhìn nhận về sự phát

triển của hoạt động tạo hình và hoạt động sáng tạo nói chung ở trẻ em đã thay đổi

về căn bản. Khi tìm hiểu xem “Trẻ em vẽ gì”, các nhà Tâm lý học theo quan điểm

duy vật biện chứng đã nhận thấy tranh vẽ của trẻ em thể hiện các kinh nghiệm sau:

- Trước hết và nhiều nhất là các kinh nghiệm tri giác bằng thị giác các sự vật,

hiện tượng, sự kiện trong thế giới xung quanh.

- Tiếp đó là các kinh nghiệm về sự vật xung quanh mà trẻ có cơ hội tiếp xúc,

tiếp nhận bằng các cơ quan cảm giác khác như xúc giác, cảm giác vận động, thính

giác, khứu giác, vị giác.

- Các khuôn mẫu đồ họa mang tính sơ đồ mà trẻ tiếp thu được từ người lớn

trong quá trình giao tiếp.

Sự thể hiện các kinh nghiệm trên có liên quan chặt chẽ với các đặc điểm khả

năng tri giác, tư duy, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm và thái độ rất riêng của từng

đứa trẻ đối với thế giới xung quanh. [29, 15]

Nghiên cứu về đặc điểm hình thành các hình ảnh đồ họa trong trí óc (mô hình

tâm lý) ảnh hưởng đến tranh vẽ của trẻ mầm non, nhà tâm lý học V.X.Mukhina,

L.A.Vengher đã đưa ra hai loại cấu trúc đồ họa mà trẻ thường sử dụng:

Một loại xuất hiện do sự bắt chước một cách máy móc các mẫu đồ họa mà

người lớn cung cấp, và trẻ thường sử dụng chúng như một loại kí hiệu đơn thuần



11



với mục đích biểu đạt. Loại sơ đồ này thường có sức sống dai dẳng, cản trở sự hình

thành và phát triển của các yếu tố sáng tạo nghệ thuật. [30, 40]

- Một loại khác được hình thành trong quá trình đứa trẻ tích cực, độc lập quan

sát, tạo dựng các hình ảnh trên cơ sở phối hợp giữa hình ảnh sơ đồ khái quát (có

nguồn gốc bắt chước) với các biểu tượng phong phú về chính đối tượng thật. Loại

hình ảnh đồ họa này sẽ nhanh chóng được phát triển, sinh động hóa, cụ thể hóa

thành những hình tượng độc đáo, mang tính nghệ thuật.

Theo công trình nghiên cứu về trí tưởng tượng của mình, nhà Tâm lý học

người Pháp T. Ribot đã nhận thấy thời kì tuổi dậy thì trí tưởng tượng có sự đột biến,

sự phá hủy, và việc tìm tòi một sự cân bằng mới. Hoạt động tưởng tượng thể hiện ở

dạng như ở thời thơ ấu giờ đây đã bị thu hẹp lại biểu hiện trẻ không còn ham thích

vẽ nữa, đứa trẻ bắt đầu có thái độ phê phán với những bức tranh của mình ngoại trừ

những trẻ có năng khiếu [46,69]. Trong nghệ thuật tạo hình, năng khiếu và năng lực

biểu lộ trung bình khoảng mười bốn tuổi. [46,76]



1.1.2. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về Tâm lý học trẻ em, vấn đề về tưởng tượng nhất

là tưởng tượng sáng tạo ở trẻ mầm non đang được quan tâm. Tác giả Nguyễn Ánh

Tuyết, Ngô Công Hoàn, Mai Nguyệt Nga… đã đưa ra các đặc điểm tưởng tượng

của trẻ qua các độ tuổi của trẻ mầm non và các biện phát phát triển trí tưởng tượng

sáng tạo ở trẻ.

Một số công trình nghiên cứu về việc nâng cao khả năng sáng tạo, tưởng tượng

sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ mầm non với các tác giả như:

Tác giả Lê Thanh Thủy với đề tài: “Sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ em

trong hoạt động tạo hình” đã đưa ra kết luận rằng cách thức tổ chức hoạt động tạo

hình sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự xuất hiện và phát triển trí tưởng tượng của trẻ

em. Nếu biết cách phối hợp một cách hợp lý giữa các bài tập tạo hình theo mẫu với

các bài tập tạo hình tự do, khéo léo nâng dần yêu cầu sáng tạo từ hình thức tạo hình

theo đề tài bắt buộc đến hình thức theo đề tài tự do, các nhà sư phạm có thể từng



12



bước khơi dậy, phát triển tính tích cực của tư duy sáng tạo và tưởng tượng sáng tạo.

Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của tri giác đến khả năng tạo hình

của trẻ mẫu giáo, đã đưa ra một số biện pháp tổ chức quá trình tri giác cho trẻ.

Vấn đề giáo dục nghệ thuật – giáo dục thẩm mỹ cũng được các nhà giáo dục

quan tâm nghiên cứu như Đặng Thành Hưng, Nguyễn Quốc Toản. Khi nghiên cứu

về hoạt động tạo hình của trẻ mầm non, với đề tài: “Một số biện pháp bồi dưỡng

cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình” tác giả Phan

Việt Hoa đã chỉ ra con đường nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu

giáo.[23, 7]

Tác giả Lê Thị Thanh Bình đã nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm

phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ với đề tài: “Một

số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong giờ

vẽ” [6, 8]

Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài: “Một số biện pháp phát huy tính

tích cực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ” đã đề ra một số biện pháp

như đa dạng hóa nguyên vật liệu và hình thức phân tích nhận xét sản phẩm của trẻ,

khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ của trẻ qua việc cho trẻ trực tiếp quan sát hoạt động vẽ

của họa sĩ, tổ chức cho trẻ xem các tác phẩm nghệ thuật, sử dụng trò chơi đóng kịch

nhằm gây hứng thú trẻ đến với hoạt động vẽ, chuẩn bị tâm thế cho trẻ đến với hoạt

động vẽ, tạo bầu không khí nhẹ nhàng thoải mái trong buổi học.

Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc qua đề tài: “Một số biện pháp gây hứng thú

cho trẻ 4-5 tuổi trong hoạt động vẽ bằng thuốc màu” đã đưa ra một số biện pháp

tạo hứng thú cho trẻ như tận dụng môi trường tự nhiên - xã hội để gây cảm xúc,

hứng thú và làm giàu vốn biểu tượng phong phú về đối tượng tạo hình, tập cho trẻ

biết sử dụng màu sắc như là phương tiện truyền cảm của bức tranh, sử dụng đa dạng

về hình thức của giấy vẽ, sử dụng trò chơi và tạo mối quan hệ thích hợp giữa cô và

trẻ.

Tác giả Lê Thị Kim Thanh trong đề tài: “Nghiên cứu một số biểu hiện tưởng

tượng của trẻ mẫu giáo”, tác giả đưa ra một hệ thống các bài tập thực nghiệm về



13



xếp hình, vẽ tranh, vẽ tranh, kể chuyện để trẻ bộc lộ các đặc điểm tưởng tượng của

mình. Kết quả cho thấy khả năng tưởng tượng của trẻ còn nhiều hạn chế và việc

tăng cường vốn sống, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất cần thiết. [15,11]

Tác giả Mã Thị Khánh Tú với đề tài: “Một số biện pháp phát triển trí tưởng

tượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động nặn” đã đi sâu vào phân tích vai

trò của hoạt động nặn đồng thời đề xuất các biện pháp để tăng cường hiệu quả của

hoạt động này đến sự phát triển tưởng tượng của trẻ. [15,11]

Tác giả Dương Thị Thanh Thủy trong đề tài: “Một số biện pháp phát triển trí

tưởng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ” đã đưa ra một hệ

thống các biện pháp như cung cấp biểu tượng thế giới xung quanh, hình thành lòng

say mê, sự ham thích được vẽ, thường xuyên tổ chức hoạt động vẽ dưới nhiều hình

thức phong phú, sử dụng sản phẩm của trẻ vào đời sống sinh hoạt. [15,11]

Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, nhất là ở độ 5 - 6 tuổi, việc nâng cao mức độ

tưởng tượng sáng tạo của trẻ thông qua hoạt động tạo hình là vấn đề mang ý nghĩa

thực tiễn cao. Trẻ phải được sống trong môi trường, được hướng dẫn, tổ chức các

hoạt động và được thể hiện những ước mơ, suy nghĩ của mình một cách sáng tạo.

Đó cũng là một đóng góp nhỏ trong công cuộc góp phần xây dựng thế hệ tương lai

cho đất nước.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về tưởng tượng sáng tạo và các biện

pháp nâng cao tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ là

rất hiếm, vì vậy chúng tôi hy vọng đề tài của mình bên cạnh việc khảo sát mức độ

tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, góp phần tìm ra một số biện pháp tác

động có hiệu quả đối việc với nâng cao mức độ tưởng tượng sáng tạo cho trẻ.



14



1.2. Lý luận về tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo

1.2.1. Tưởng tượng

1.2.1.1. Khái niệm về tưởng tượng

Các nhà tâm lý học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về tưởng tượng.

Chẳng hạn, nhà tâm lý học Sigmund Freud cho rằng tưởng tượng chính là việc thực

hiện cái mong muốn, là sửa chữa cái hiện thực đang không làm thỏa mãn mình,

không phải những người may mắn mà những người thiếu thốn, không thỏa mãn mới

tưởng tượng.

P.Aruđich cho rằng: “Tưởng tượng là một hoạt động có ý thức, trong quá trình

tưởng tượng con người xây dựng những biểu tượng mới mà trước đây chưa bao giờ

có, bằng cách dựa vào những hình ảnh qua cuộc sống đã được giữ lại trong ký ức

của người ta và được cải tạo biến đổi thành một biểu tượng mới.” Ruđich xem

tưởng tượng là một quá trình nhận thức trong đó có sự xây dựng những biểu tượng

mới trên cơ sở chế biến lại những biểu tượng đã có. [15,12]

Một quan điểm khác về tưởng tượng“Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận

thức mà trong quá trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình

huống trong ý nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những biểu tượng còn giữ lại trong

ký ức từ kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy”. Với

quan điểm này, tưởng tượng là kết quả của quá trình cảm giác, quá trình tri giác

trước đây nhưng có sự cải biến.

Nhìn từ bản chất xã hội, M.Gorki cũng khái quát: “Trong cuộc đấu tranh để

sống, bản năng sinh tồn phát triển trong con người hai sức sáng tạo mãnh liệt:

nhận thức và tưởng tượng. Nhận thức là khả năng quan sát, so sánh, nghiên cứu

những hiện tượng thiên nhiên và những sự kiện trong sinh hoạt xã hội, nói gọn hơn:

nhận thức là tư duy. Xét về bản chất, tưởng tượng cũng là tư duy về vũ trụ, nhưng

phần lớn tư duy bằng hình tượng, đó là một “tư duy nghệ thuật”. M.Gorki đã nhìn

nhận tưởng tượng là nơi ký thác tâm sự, ước mơ cuộc đời phong phú và đẹp đẽ hơn.



15



Theo Từ điển Giáo dục học của tác giả Đậu Mạnh Trường, nhà xuất bản Từ

điển Bách khoa: “Tưởng tượng là quá trình tâm lý phức tạp thể hiện ở sự tạo ra

những ý nghĩ và hình ảnh không có trước mặt hoặc chưa hề có trên cơ sở các kinh

nghiệm từng trải”. Tưởng tượng vẫn phản ánh hiện thực khách quan mặc dù cái đó

có vẻ như đã thoát khỏi những gì cho ta trực tiếp cảm nhận để phóng tầm suy nghĩ

vào tương lai thành những ý đồ tạo ra những tình huống sinh hoạt mới, những phát

minh khoa học, những sáng chế kĩ thuật hoặc những hình tượng nghệ thuật mới.

Quá trình tưởng tượng thể hiện bằng việc phân tách các hình ảnh, các quan hệ của

sự vật có trước, rồi lại tiến hành chắp nối, lắp ghép chúng lại thành một kiểu khác

để thành một liên tưởng mới.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản

ánh những cái mới những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng

cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có”. Đây là

định nghĩa được nhiều nhà Tâm lý học ở Việt Nam thừa nhận, chúng tôi đồng ý với

quan điểm này. Từ định nghĩa này chúng ta có thể phân tích bản chất của tưởng

tượng như sau:

Về nội dung phản ánh: tưởng tượng phản ánh cái mới, cái mới có thể đối

với cá nhân hoặc đối với xã hội.

Về phương thức phản ánh: tưởng tượng tạo ra cái mới từ các biểu tượng đã

có và thực hiện nhờ các phương thức hành động: chắp ghép, liên hợp, điển hình

hóa…

Về cơ chế sinh lí: là sự phân giải các hệ thống liên hệ thần kinh tạm thời đã

có và kết hợp thành những hệ thống mới trên não.

Trong quá trình hình thành lịch sử, trí tưởng tượng nảy sinh khi con người có

khát vọng chinh phục thiên nhiên. Như vậy, về điều kiện xuất hiện tưởng tượng nảy

sinh khi gặp hoàn cảnh “có vấn đề” mang tính bất định, quá trình tưởng tượng phụ

thuộc vào nhu cầu và hứng thú của con người. Nhu cầu càng bức thiết thì sự hình

dung càng rõ ràng và chi tiết. Và nếu công việc được thực hiện trong điều kiện có

hứng thú cao thì tưởng tượng càng có điều kiện kích thích và phát triển mạnh mẽ.



16



Nói về ý nghĩa của tưởng tượng trong cuộc sống, Pauxtôpxki cho rằng “Trí tưởng

tượng cho con người những gì mà thực tại chưa kịp cho hoặc không thể cho con

người. Trí tưởng tượng lắp đầy chỗ trống trong đời sống con người.”

Hoạt động của con người càng mang tính chất sáng tạo bao nhiêu, càng ít lặp

lại lối mòn đơn điệu trong tư duy và nhận thức bao nhiêu thì tưởng tượng càng có

giá trị và ý nghĩa to lớn bấy nhiêu.



1.2.1.2. Các giai đoạn của quá trình tưởng tượng

Dưới góc độ hoạt động, có thể xem mỗi hành động tưởng tượng là một quá

trình nhằm giải quyết một nhiệm vụ nào đó nảy sinh từ quá trình nhận thức hay

trong hoạt động thực tiễn. Hành động tưởng tượng thường trải qua các giai đoạn

sau:

+ Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề:

Hoàn cảnh có vấn đề là hoàn cảnh chứa đựng những mâu thuẫn, những vấn

đề mới đòi hỏi con người phải khám phá, giải quyết. Tuy nhiên chỉ có những hoàn

cảnh có tính chất bất định, không xác định rõ ràng, không đủ điều kiện để tư duy thì

trí tưởng tượng của con người mới hoạt động. Khi hoàn cảnh có vấn đề được xác

định, nó sẽ quyết định toàn bộ tiến trình hoạt động của tưởng tượng. Đây là giai

đoạn đầu tiên và cũng là giai đoạn quan trọng nhất, định hướng cho hoạt động

tưởng tượng hướng tới sự sáng tạo có mục đích.

+ Huy động các biểu tượng của trí nhớ, các kinh nghiệm mà cá nhân đã tích

luỹ để chuẩn bị xây dựng biểu tượng của tưởng tượng:

Trong giai đoạn này, tùy thuộc vào việc xác định nhiệm vụ của tưởng tượng,

cá nhân sẽ huy động trong kho tàng trí nhớ và kinh nghiệm của mình những biểu

tượng, những ký ức, những rung cảm… mà họ đã trải qua để thiết lập mối liên

tưởng giữa chúng với nhiệm vụ của tưởng tượng, tạo cơ sở cho sự hình thành biểu

tượng.

+ Sàng lọc các liên tưởng và hình thành biểu tượng của tưởng tượng:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (162 trang)

×