Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG

Tải bản đầy đủ - 0trang

20

doanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có đủ số

vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây khơng chỉ

gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của các chủ

doanh nghiệp). Rồi để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thuê nhà

xưởng, mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thuê lao động... tất cả

những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành và duy trì những hoạt

động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Khơng chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bất

kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần có vốn. Vốn là

yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, quyết

định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn đứng

vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng

vốn đó khơng những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

diễn ra liên tục mà còn phải dùng để cải tiến máy móc thiết bị, hiện đại hố cơng

nghệ. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận. Lợi nhuận là

khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu

nhập đó từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó đưa lại. Trong nền kinh tế thị

trường các doanh nghiệp không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn có sự cạnh tranh gay

gắt với nhau. Nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng xuất lao động thấp, thu nhập thấp,

doanh nghiệp sẽ càng tụt lùi vì vòng quay của vốn càng ngắn lại thì quy mơ của

doanh nghiệp càng co lại. Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp có một lượng vốn tương

đối thì doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn những phần sản xuất kinh

doanh hợp lý, hiệu quả, đảm bảo an toàn tổ chức, hiệu quả vốn nâng cao, huy động

tài trợ dễ dàng, khả năng thanh toán đảm bảo, có đủ tiềm lực khắc phục khó khăn và

một số rủi ro trong kinh doanh. Vốn là yếu tố quyết định doanh nghiệp nên mở rộng

hay thu hẹp phạm vi hoạt động của mình.Thật vậy, khi đồng vốn của doanh nghiệp

càng sinh sơi nảy nở, thì doanh nghiệp sẽ mạnh dạn mở rộng phạm vi hoạt động vào

các tiềm năng mà trước đó doanh nghiệp chưa có điều kiện thâm nhập và ngược lại



21

khi đồng vốn bị hạn chế thì doanh nghiệp nên tập trung vào một số hoạt động mà

doanh nghiệp có lợi thế trên thị trường.

Đối với các doanh nghiệp tiếp nhận vốn nước ngoài, ngoài việc sử dụng vốn

này, họ còn có thể tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý cũng như kỹ năng, kỹ

sảo và công nghệ hiện đại, thông tin cập nhật hằng ngày. Hơn nữa, họ còn có thể rút

ngắn thời gian tích luỹ vốn ban đầu và thu một phần lợi nhuận của các cơng ty nước

ngồi.

Trong doanh nghiệp, vốn là cơ sở để mua sắm các trang thiết bị, máy móc, nhà

xưởng, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động.

Ngồi ra, vốn còn được sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì

tiềm lực sẳn có và tạo tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

Vốn, với đặc trưng của nó là phải vận động để sinh lời, do vậy, một khi đã tồn

tại được trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải ngày càng phát triển, tức là đồng

vốn của doanh nghiệp ngày càng tăng theo thời gian sản xuất kinh doanh.

1.1.2. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi

tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hố lợi nhuận hay nói cách khác

là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp .Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp

phải tìm các biện pháp nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn

lực bên trong và ngồi doanh nghiệp .Chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn phải được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu , đó là mục tiêu trung gian tất

yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng bởi vốn có vai trò mang tính quyết định đối với

quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng trước khi thực

hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp cần phải

hiểu hiệu quả, hiệu quả sử dụng vốn là gì ,nó bao gồm những yếu tố nào :

Hiệu quả là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt

được hiệu quả đó,bao gồm hai mặt : hiệu quả kinh tế và hiệu qủa xã hội.



22

Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động

kinh doanh. Nó mơ tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt

được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó(Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp

thương mại (2012), PGS.TS. Phạm Cơng Đồn, TS. Nguyễn Cảnh Lịch). Đại lượng

biểu hiện lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp

trong từng thời kỳ. Nếu doanh nghiệp lấy mục tiêu chiếm lĩnh thị trường làm trọng

tâm thì có thể đó là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động bán

hàng của doanh nghiệp. Nhưng nếu mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi

nhuận thì đó là lợi nhuận đạt được từ vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp trong một

thời kỳ nhất định. Thực chất hiệu quả kinh tế là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết

kiệm thời gian, nó biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để

thực hiện các mục tiêu đã xác định. Quy luật tiết kiệm thời gian là một quy luật tồn

tại trong nhiều phương thức xã hội khác nhau. Mọi hoạt động của con người đều

tuân theo quy luật đó. Nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo

điều kiện phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời sống của loài người qua

mọi thời đại.

Hiệu qủa xã hội:Là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội

của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của doanh

nghiệp đến xã hội và môi trường (Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mại

(2012), PGS.TS. Phạm Cơng Đoàn, TS. Nguyễn Cảnh Lịch). Hiệu quả xã hội của

các doanh nghiệp thường được biểu hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và

tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động, cải thiện và

bảo vệ môi sinh.

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết. Đạt được hiệu

quả kinh tế là tiền đề để thực hiện hiệu quả xã hội, đến lượt mình hiệu quả xã hội

đạt được sẽ thúc đẩy đạt được hiệu quả kinh tế. Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được

nếu thực hiện được mục tiêu kinh tế với sự tiết kiệm chi phí đồng thời phải đạt được

mục tiêu xã hội nhất định



23

Từ phân tích trên có thể hiểu: Hiệu quả sử dụng vốn là tương quan so sánh

giữa kết quả đạt được và lượng vốn bỏ ra để đạt được kết quả đó: Hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn

của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với sự

tiết kiệm vốn.



24

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp được đánh giá qua hệ thống các chỉ

tiêu bao gồm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh, hiệu

quả sử dụng vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn lưu động

a. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tồn bộ vốn kinh doanh

(1) Vòng quay tồn bộ vốn kinh doanh

Vòng quay tồn bộ vốn



Doanh thu thuần bán hàng đạt được trong kỳ

Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ

kinh doanh

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này phản ánh vốn kinh doanh trong kỳ chu chuyển được bao nhiêu

vòng hay mấy lần. Chỉ tiêu này đạt cao, hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng cao.

(2) Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (hay tỷ suất

sinh lời của tài sản)

Lợi nhuận trước lãi vay và trước thuế

X100%

Vốn kinh doanh bình qn sử dụng trong kỳ

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình



ROAE



=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn kinh doanh,

khơng tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh

doanh.

(3) Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn kinh doanh

Tỷ suất lợi nhuận

trước thuế vốn kinh =



Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp

Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ



X100%



doanh

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế với vốn kinh doanh bình quân sử

dụng trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng

trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.

(4) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh



25

Tỷ suất lợi nhuận sau



Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

X100%

Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ

thuế vốn kinh doanh

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn kinh doanh bình quân sử

dụng trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng

trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

(5) Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận vốn



Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

x100%

Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ

chủ sở hữu

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ

tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu.

Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, một mặt phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng

vốn kinh doanh hay phụ thuộc vào trình độ sử dụng vốn. Mặt khác, hiệu quả sử

dụng vốn còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức nguồn vốn của doanh nghiệp. Để đánh

giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của một doanh nghiệp cần phải xem xét trên

cơ sở phân tích tình hình và phối hợp các chỉ tiêu để đánh giá.

b. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

(1) Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Hiệu suất sử dụng vốn



Doanh thu thuần trong kỳ

Số vốn cố định bình qn sử dụng trong kỳ

cố định

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra bao

nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ.

Để đánh giá đúng mức kết quả quản lý và sử dụng vốn cố định của từng thời

kỳ, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định cần phải được xem xét trong mối liên hệ

với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

(2) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng tài sản



=



Doanh thu thuần trong kỳ



26

cố định

Nguyên giá tài sản cố định bình quân trong kỳ

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Nguyên giá tài sản cố định có tính chất sản xuất bình qn được tính theo

phương pháp bình quân số học và tùy theo số liệu đã có để có cách tính thích hợp.

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo ra bao

nhiêu đồng doanh thu thuần. Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phép đánh giá trình

độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.

Khi sử dụng hai công thức đánh giá hiệu suất sử dụng vốn cố định và hiệu suất

sử dụng tài sản cố định cần chú ý: Nếu để so sánh các thời kỳ khác nhau thì doanh

thu thuần bán hàng phải được điều chỉnh theo giá cố định, tức là phải loại trừ các

yếu tố trượt giá.

(3) Hệ số huy động vốn cố định

Hệ số huy động vốn cố định



Số vốn cố định đang dùng trong hoạt động

=



kinh doanh

Số vốn cố định hiện có của doanh nghiệp

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình



trong kỳ



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Số vốn cố định được tính trong cơng thức trên được xác định bằng giá trị còn

lại của tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vơ hình của doanh nghiệp tại thời

điểm đánh giá phân tích. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định hiện

có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1

thì cần tìm nguyên nhân từ các TSCĐ đã có nhưng chưa sử dụng .

(4) Hệ số hao mòn tài sản cố định

Số khấu hao lũy kế của tài sản cố định tại thời

Hệ số hao mòn tài sản cố định



=



điểm đánh giá

Tổng nguyên giá của tài sản cố định tại thời



điểm đánh giá

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định trong

doanh nghiệp, mặt khác nó phản ánh tổng qt tình trạng về năng lực còn lại của tài



27

sản cố định ở thời điểm đánh giá. Nếu hệ số này quá cao chứng tỏ DN sử dụng tài

sản cố định đã quá cũ, chậm được thay thế. Nếu hệ số hao mòn tài sản cố định dần

tiến đến 1 chứng tỏ tài sản cố định của doanh nghiệp đã cũ và lạc hậu. Nếu hệ số

hao mòn tài sản cố định dần tiến đến 0 chứng tỏ tài sản cố định của doanh nghiệp

còn mới và hiện đại.

c. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

(1) Số lần luân chuyển vốn lưu động (hay là số vòng quay của vốn lưu động)

Số lần luân chuyển vốn lưu



Tổng mức luân chuyển của vốn lưu động ở

=



trong kỳ

Vốn lưu động bình quân được sử dụng ở trong kỳ

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình



động ở trong kỳ



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Hiện nay, tổng mức luân chuyển của vốn lưu động được xác định bằng doanh

thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ.

Chỉ tiêu số lần luân chuyển vốn lưu động ở trong kỳ phản ánh số lần luân

chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một

thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Số lần luân chuyển vốn lưu động càng cao thì

hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao

(2) Kỳ luân chuyển vốn lưu động

Số ngày trong kỳ

Số lần luân chuyển vốn lưu động

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình



Kỳ ln chuyển vốn lưu động



=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày,

một tháng là 30 ngày. Kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày bình quân

cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một lần luân chuyển hay độ dài thời gian

một vòng quay của vốn lưu động ở trong kỳ.

Kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ nghịch với số lần luân chuyển của vốn lưu

động. Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ ln chuyển thì sẽ tăng số vòng quay

vốn lưu động. Từ cơng thức tính kỳ ln chuyển vốn lưu động cho thấy: Thời gian



28

luân chuyển vốn lưu động phụ thuộc vào số vốn lưu động bình quân đang sử dụng

trong kỳ và tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ. Vì vậy, việc tiết kiệm số

vốn lưu động hợp lý và nâng cao tổng mức luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa

quan trọng đối với việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và nâng cao hiệu suất

sử dụng vốn lưu động.

(3) Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động

Tỷ suất lợi nhuận vốn



Lợi nhuận trước thuế

x100%

Vốn lưu động bình qn trong kỳ

lưu động

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động bình quân được sử dụng trong

kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ

việc sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả.

(4) Vòng quay hàng tồn kho

Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình qn

(Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, PGS.TS. Nguyễn Đình

Vòng quay hàng tồn kho



=



Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển)

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng

quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình qn luân chuyển trong kỳ.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình

qn hàng tồn kho. Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các

năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số

này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại,

nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho

mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là

tốt, mức tồn kho cao là xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy

doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho khơng bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là

doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính

có giá trị giảm qua các năm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×