1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.55 MB, 135 trang )


14



nhân trực tiếp xây lắp và tiền cơng th ngồi để thực hiện khối lượng xây lắp .

Ba là, Chi phí sử dụng máy thi cơng : là chi phí sử dụng máy thi cơng để hồn

thành sản phẩm xây lắp bao gồm 6 tiểu khoản: Chi phí nhân cơng; Chi phí vật liệu;

Chi phí dịch vụ sản xuất; Chi phí khấu hao máy thi cơng; Chi phí dịch vụ mua

ngồi; Chi phí bằng tiền khác để sử dụng máy thi cơng.

Bốn là, Chi phí sản xuất chung: là những chi phí là những chi phí quản lý,

phục vụ sản xuất và những chi phí ngồi sản xuất bao gồm 5 khoản mục: Chi phí

nhân viên phân xưởng; Chi phí vật liệu; Chi phí dụng cụ sản xuất; Chi phí khấu hao

TSCĐ; Chi phí dịch vụ mua ngồi ở phân xưởng sản xuất phục vụ cho nhu cầu sản

xuất chung của các đội sản xuất và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản

xuất của cơng nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công , nhân viên

phân xưởng. Chi phí sản xuất chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh

chi phí. Nếu trong doanh nghiệp có nhiều đội xây dựng thì phải mở sổ chi tiết để tập

hợp chi phí sản xuất chung cho từng đội xây dựng.

Cuối tháng, chi phí sản xuất chung được tập hợp kết chuyển để tính giá thành

sản phẩm, cơng việc của đội xây dựng đó. Trường hợp đội xây dựng trong kỳ có

xây dựng nhiều cơng trình, hạng mục cơng trình thì phải phân bổ chi phí sản xuất

chung cho các cơng trình, hạng mục cơng trình có liên quan.

Phân loại chi phí theo đúng mục đích và cơng dụng kinh tế có tác dụng phục

vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc

tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.

Ngoài cách phân loại trên trong doanh nghiệp còn phân loại chi phí theo mối

quan hệ với đối tượng chịu chi phí:

Thứ nhất, Chi phí trực tiếp: là những chi phí có liên quan trực tiếp với quá

trình sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định bao gồm nguyên vật

liệu xây dựng, tiền lương cơng nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi cơng.

Thứ hai, Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản

xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc thường phát sinh ở bộ phận quản lý. Vì

vậy, kế tốn phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan theo một tiêu thức

thích hợp.



15



Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định

phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách chính xác và

hợp lý.

Bên cạnh đó một số doanh nghiệp còn phân loại chi phí sản xuất theo yếu

tố: Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế được

xếp chung vào một yếu tố, khơng kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào những

mục đích gì trong quá trình sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp có các yếu tố

chi phí sau:

- Chi phí ngun vật liệu : xi măng, thép, cát, gạch.......

- Chi phí cơng cụ, dụng cụ : cuốc, xẻng, cốp pha, máy dầm, máy bơm......

- Chi phí tiền lương của cơng nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động th ngồi và

trích BHXH, BHYT, KPCĐ

- Chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị .

- Chi phí dịch vụ mua ngồi .

- Chi bằng tiền khác.

Việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố cho biết kết cấu tỷ trọng từng yếu

tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự tốn chi phí sản

xuất, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quĩ lương, kế hoạch về vốn

giúp cho việc thực hiện cơng tác kế tốn và cơng tác quản lý được chặt chẽ .

2.1.1.3. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp

Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ các hao phí về

lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra để tiến hành sản xuất khối lượng sản phẩm

xây lắp hoàn thành.

Giá thành sản phẩm xây lắp là tồn bộ chi phí chi ra như như chi phí nguyên

liệu, chi phí máy thi cơng… tính bằng tiền để hồn thành một khối lượng sản phẩm

xây lắp nhất định, có thể là một hạng mục cơng trình hay một cơng trình hồn thành

tồn bộ.

Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng

hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong

quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực

hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với



16



chi phí ít nhất và hạ giá thành.

Giá thành sản phẩm xây lắp gồm 4 khoản mục sau:

- Khoản mục chi phí vật liệu.

- Khoản mục chi phí nhân cơng.

- Khoản mục chi phí máy thi cơng

- Khoản mục chi phí sản xuất chung.

2.1.1.4. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp

Xét theo thời điểm và nguồn và nguồn số liệu :

Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được xác định trên cơ sở chi phí

sản xuất kế hoạch và số lượng kế hoạch. Việc tính giá thành do bộ phận kế hoạch

của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu sản xuất, chế tạo

sản phẩm. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp

và là cơ sở phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp.

Giá thành kế hoạch được xác định theo cơng thức:

Giá thành kế hoạch =



Giá thành dự tốn - Mức hạ giá thành



công tác xây lắp



công tác xây lắp



kế hoạch



(Tính cho từng cơng trình, hạng mục cơng trình)

Giá thành dự toán: được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm

Giá thành dự tốn của

từng cơng trình hạng

mục cơng trình



=



Giá trị dự tốn của từng

cơng trình hạng mục

cơng trình



Lợi nhuận

chịu thuế tính

trước



Trong đó : Lợi nhuận chịu thuế tính trước là số phần trăm trên giá thành xây

lắp do Nhà Nước qui định đối với từng loại xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây

lắp cụ thể.

Thông qua giá thành dự tốn của cơng tác xây lắp người ta có thể đánh giá

được thành tích của đơn vị. Giá thành dự tốn là hạn mức chi phí cao nhất mà đơn

vị có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn để đơn vị xây lắp phấn đấu hạ giá

thành thực tế và là căn cứ để chủ đầu tư thanh toán cho doanh nghiệp khối lượng

hoàn thành đã nghiệm thu. Mặt khác, giá trị dự tốn của từng cơng trình, hạng mục

cơng trình được xác định theo các định mức ( vật liệu, nhân cơng, máy......) đơn giá



17



của các cơ quan có thẩm quyền ban hành và sát được giá trị thực tế, không phản ánh

được giá trị thực chất của cơng trình. Do vậy doanh nghiệp phải lập giá thành kế

hoạch để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành.

Giá thành thực tế: Sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tất cả chi phí

sản xuất thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây

dựng nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế tốn cung cấp. Giá thành thực tế

khơng chỉ bao gồm những chi phí thực tế phát sinh như : mất mát, hao hụt vật tư....

do những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.

Muốn đánh giá chính xác chất lượng hoạt động sản xuất thi công của tổ chức

công tác xây lắp đòi hỏi chúng ta phải so sánh các loại giá thành trên với nhau

nhưng với điều kiện đảm bảo tính thống nhất về thời điểm và cách tính tốn trong

quá trình so sánh, đồng thời sự so sánh này phải thể hiện trên cùng một đối tượng

xây lắp.

Xét theo đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản nhằm đáp ứng yêu cầu của

công tác quản lý về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây

dựng.Giá thành cơng tác xây lắp còn được xác định theo hai loại là: giá thành của

khối lượng hoàn chỉnh và giá thành của khối lượng qui ước.

Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh: là giá thành của cơng trình, hạng

mục cơng trình đã hồn thành đảm bảo chất lượng và kỹ thuất đúng thiết kế, đúng

hợp đồng bàn giao ; được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ

tiêu này cho phép ta đánh giá một cách chính xác và tồn diện hiệu quả sản xuất thi

cơng trọn vẹn cho một cơng trình, hạng mục cơng trình.

Giá thành khối lượng xây lắp hồn thành qui ước phản ánh kịp thời chi phí

sản xuất cho đối tượng xây lắp trong q trình thi cơng, xây lắp. Từ đó giúp cho

doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện

pháp quản lý phù hợp, cụ thể. Tuy nhiên chỉ tiêu này lại có nhược điểm khơng phản

ánh một cách tồn diện chính xác giá thành tồn bộ cơng trình, hạng mục cơng

trình. Do đó, trong việc quản lý giá thành đòi hỏi phải sử dụng hai chỉ tiêu trên để

đảm bảo các yêu cầu quản lý về giá thành.



18



e) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ biện chứng với

nhau trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Chúng đều giới hạn để tập hợp chi

phí cho cơng tác quản lý, phân tích và kiểm tra công tác giá thành.

Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau bên trong nó là chi phí

sản xuất và lượng giá trị sử dụng cấu thành trong khối lượng sản phẩm, cơng việc

đã hồn thành. Hơn nữa chi phí biểu hiện về mặt hao phí còn giá thành biểu hiện về

mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình. Vì

vậy chúng giống nhau về bản chất.

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều bao gồm các hao phí về

lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản

xuất sản phẩm. Tuy nhiên do bộ phận chi phí sản xuất khơng dều nhau nên chi phí

sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau về lượng. Điều đó thể hiện trên sơ đồ

sau:



CPSXDDĐK



Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ



A



B



C



D



Tổng giá thành sản phẩm



CPSXDDCK



Qua sơ đồ trên ta thấy: AC = AB + BD - CD

Hay:

Chi phí sản xuất

Tổng giá thành = sản phẩm xây lắp +

dở dang đầu kỳ



Chi phí sản xuất



Chi phí sản xuất



sản phẩm xây lắp + sản phẩm xây lắp

phát sinh trong kỳ



dở dang cuối kỳ



Như vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong một

thời kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tập hợp những chi phí chi ra gắn liền

với việc sản xuất và hồn thành một khối lượng cơng việc xây lắp nhất định được

nghiệm thu bàn giao, thanh toán. Giá thành sản phẩm khơng bao hàm những chi phí



19



cho khối lượng dở dang cuối kỳ, những chi phí khơng liên quan đến hoạt động sản

xuất, những chi phí sinh ra nhưng chờ phân bổ cho kỳ sau. Nhưng chi phí sản xuất

lại bao gồm những chi phí sản xuất kỳ trước chuyển sang, những chi phí trích trước

vào giá thành nhưng thực tế chưa phát sinh và những chi phí của kỳ trước chuyển

sang phân bổ cho kỳ này.

2.1.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp và giá

thành sản phẩm xây lắp

2.1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nơi phát sinh và chịu chi phí. Tuỳ theo

yêu cầu quản lý, yêu cầu tính giá thành mà đối tượng tập hợp chi phí có thể được

xác định là từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng phân xưởng sản xuất hay từng

giai đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm.

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong xây lắp là phạm vi giới hạn sản phẩm

xây lắp, nhằm phục vụ cho thơng tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm.

Giới hạn tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh chi phí, có thể là đối tượng chịu chi

phí. Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nơi phát sinh

chi phí và đối tượng chịu chi phí. Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí

sản xuất cần căn cứ vào:

+ Đặc điểm và cơng dụng của chi phí sản xuất

+ Cơ cấu tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình cơng nghệ sản xuất

+ Yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, yêu cầu hạch toán kinh

doanh của doanh nghiệp.

Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ sở

để tổ chức kế tốn tập hợp chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ

chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết… Các chi phí phát sinh, sau

khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng cơng tác kế tốn chi phí sản xuấtsẽ

là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.

Đối tượng kế tốn tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp có

thể là:



20



+ Cơng trình

+ Hạng mục cơng trình

+ Đơn đặt hàng

+ Khối lượng cơng việc hồn thành

+ Bộ phận thi cơng

2.1.2.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

Để tính giá thành sản phẩm trước tiên phải xác định được đối tượng tính giá

thành. Trong hoạt động xây lắp đối tượng tính giá thành thường là cơng trình, hạng

mục cơng trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành.

Đặc điểm của hoạt động thi công xây lắp là thời gian thi công dài, giá trị cơng

trình lớn. Vì vậy ngồi việc phải xác định giá thành cơng trình, hạng mục cơng trình

theo đúng thiết kế dự toán được chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh tốn,

trong kỳ báo cáo có thể có một bộ phận cơng trình hoặc khối lượng cơng việc hay

giai đoạn cơng việc hồn thành nghiệm thu bàn giao cho người nhận thầu và được

thanh toán. Điều này đòi hỏi phải tính được giá thành của khối xây lắp hoàn thành

quy ước.

Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng xây lắp hoàn thành đến

một giai đoạn nhất định thỏa mãn các điều kiện sau:

+ Phải nằm trong thiết kế và phải đảm bảo chất lượng

+ Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý

2.1.2.3. Mối quan hệ giữa đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá

thành sản phẩm

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có nội dung khác với đối tượng tính giá

thành sản phẩm xây lắp. Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để tổ

chức ghi chép ban đầu, mở các sổ chi tiết, tập hợp chi phí sản xuất chi tiết cho từng

đối tượng, thực hiện chế độ hạch toán kế toán trong nội bộ doanh nghiệp.

Việc xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp là căn cứ để kế tốn

lập bảng tính giá thành sản phẩm, tổ chức công tác giá thành theo từng đối tượng,

phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, tính tốn xác định



21



kết quả.

Dù vậy, giữa đối tượng cơng tác kế tốn chi phí sản xuấtvà đối tượng tính giá

thành sản phẩm lại có mối quan hệ mật thiết, thể hiện:

- Một đối tượng cơng tác kế tốn chi phí sản xuất tương ứng với một đối tượng

tính giá thành liên quan.

- Một đối tượng công tác kế tốn chi phí sản xuất tương ứng với nhiều đối

tượng tính giá thành liên quan.

Nhiều đối tượng cơng tác kế tốn chi phí sản xuất tương ứng với một đối

tượng tính giá thành liên quan. Số liệu về chi phí được tập hợp trong kỳ theo từng

đối tượng tập hợp chi phí là cơ sở và căn cứ tính giá thành sản phẩm xây lắp cho

từng đối tượng tính giá thành có liên quan.

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

giống nhau ở bản chất chỗ chúng đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập

hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho cơng tác quản lý, phân tích kiểm

tra chi phí, giá thành sản phẩm.

2.1.3. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp

Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và

phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế tốn

chi phí. Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi

phí sau:

Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo cơng trình, hạng mục cơng trình:

chi phí sản xuất liên quan đến cơng trình, hạng mục cơng trình nào thì tập hợp cho

cơng trình, hạng mục cơng trình đó.

Phương pháp hạch tốn chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phát

sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng

đó. Khi đơn đặt hàng hồn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ

khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.

Phương pháp hạch tốn chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phương

pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khốn.

Đối tượng hạch tốn chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ đội sản xuất hay



22



các khu vực thi công. Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đối

tượng tập hợp chi phí như hạng mục cơng trình.

Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một

số phương pháp hạch toán trên. Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phí phát

sinh liên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các khoản chi phí

này một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng.

2.2. Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp theo chuẩn

mực kế toán Việt Nam

2.2.1. Chuẩn mực số 02 – “Hàng tồn kho”

Chuẩn mực số 02 – “Hàng tồn kho” được ban hành và công bố theo Quyết

định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính. Theo chuẩn mực kế tốn VAS 02, Hàng tồn kho trong kế tốn chi phí sản

xuất và giá thành sản phẩm xây lắp theo chuẩn mực kế toán Việt Nam như sau:

- Hàng tồn kho là nguyên vật liệu, cơng cụ dụng cụ, hàng hóa được ghi nhận

khi thỏa mãn cả hai điều kiện: thủ tục nhập kho và bộ chứng từ mua hàng đã được

hoàn tất.

Hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực

hiện được thấp hơn giá gốc thì hàng tồn kho được tính theo giá trị thuần có thế thực

hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi

phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng

thái hiện tại.

- Chi phí sản xuất kinh doanh được tập hợp theo từng hợp đồng ký với chủ đầu

tư. Đối với các cơng trình mà các doanh nghiệp tự thực hiện, chi phí sản xuất kinh

doanh dở dang là chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh tại phân xưởng được doanh

nghiệp chấp nhận thanh tốn. Đổi với các cơng trình th ngồi thực hiện, chi phí

sản xuất kinh doanh dở dang được ghi nhận khi hạng mục cơng trình đã được

nghiệm thu và khối lượng thực hiện đă được chấp nhận thanh tốn. Chi phí sản xuất

kinh doanh dở dang là chi phí của các cơng trình, hợp đồng đang thực hiện dở dang

hoặc đã hoàn thành nhưng chưa được chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.



23



- Hàng gửi bán được sử dụng để theo dõi:

+ Hàng bán đã chuyển đi cho đối tác nhưng chưa hoàn thành thủ tục bàn giao

nghiệm thu và chưa được chấp nhận thanh tốn;

+ Cột bê tơng th sản xuất đã giao cho chủ đầu tư nhưng chưa hoàn thành thủ

tục bàn giao nghiệm thu và chưa được chấp nhận thanh toán.

- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được áp dụng theo Thơng tư số

228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính về việc trích lập các khoản dự

phòng, theo đó dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm cuối năm

tài chính là số chênh lệch giữa giá gốc hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể

thực hiện được.

2.2.2. Chuẩn mực số 15 – “Hợp đồng xây dựng”

Theo chuẩn mực kế toán số 15 – Hợp đồng xây dựng ban hành theo QĐ số

165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã nêu chi phí

trực tiếp liên quan đến từng hợp đồng xây dựng bao gồm:

- Chi phí nhân cơng tại cơng trường, bao gồm cả chi phí giám sát cơng trình.

- Chi phí ngun liệu, vật liệu, bao gồm cả thiết bị cho cơng trình.

- Khấu hao máy móc, thiết bị và tài sản cố định khác sử dụng để thực hiện hợp

đồng.

- Chi phí vận chuyển, lắp đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị và ngun liệu, vật

liệu đến và đi khỏi cơng trình.

- Chi phí th nhà xưởng, máy móc, thiết bị để thực hiện hợp đồng.

- Chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp tới hợp đồng.

- Chi phí dự tính để sửa chữa và bảo hành cơng trình.

- Các chi phí liên quan trực tiếp khác.

- Chi phí liên quan trực tiếp của từng hợp đồng sẽ được giảm khi có các khoản

thu nhập khác khơng bao gồm trong doanh thu của hợp đồng. Ví dụ các khỏan thu

từ việc bán nguyên liệu, vật liệu thừa, thu thanh lý máy móc, thiết bị thi cơng khi

kết thúc hợp đồng.

Có thể nói về bản chất của chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp hay chi

phí của hợp đồng xây dựng là chi phí phát sinh trong khâu sản xuất và cấu thành

nên giá thành sản phẩm xây lắp do doanh nghiệp xây lắp thực hiện.

2.3. Kế tốn chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp theo quan



24



điểm kế tốn tài chính

2.3.1. Kế tốn chi phí sản xuất xây lắp

Đối với doanh nghiệp xây lắp, cơng tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành sản phẩm được căn cứ vào các yếu tố để tạo nên chi phí và giá thành đó là

hàng hóa, vật tư mua vào, giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ bán ra,

các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Vì vậy chứng từ kế

tốn được sử dụng là:

- Với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: chứng từ kế tốn là các hóa đơn bán

hàng, phiếu nhập kho, xuất kho, biên bản giao nhận vật tư hàng hóa…

- Với chi phí nhân cơng trực tiếp: chứng từ kế tốn bao gồm các bảng chấm

cơng, bảng thanh tốn tiền lương, bảng trích bảo hiểm, tiền thưởng, hợp đồng giao

khốn, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc cơng việc hồn thành, phiếu báo làm việc

ngoài giờ và biên bản điều tra tai nạn lao động.

- Với chi phí máy thi công: chứng từ là các phiếu theo dõi ca xe, ca máy thi

công, thẻ tài sản, bảng chấm công giờ làm của máy.

- Với chi phí chung thì chứng từ chủ yếu là các hố đơn dịch vụ mua ngồi,

bảng chấm công, phiếu thu, chi biên bản đánh giá lại tài sản.

Ngồi các chứng từ nói trên thì hoạt động tính chi phí và giá thành của sản

phẩm xây lắp còn có thêm các chứng từ liên quan khác được sử dụng theo quy định

hiện hành của Nhà Nước.

Để phản ánh tình hình tập hợp chi phí và tính giá thành của hoạt động xây lắp,

các doanh nghiệp xây lắp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên và sử dụng

các tài khoản.

TK621 - Chi phí NVL trực tiếp

TK622 - Chi phí nhân cơng trực tiếp

TK623 - Chi phí máy thi cơng

TK627 - Chi phí sản xuất chung

TK154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

2.3.1.1. Kế tốn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (135 trang)

×