1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (572.4 KB, 16 trang )


triển của con người theo một chuỗi liên tiếp như chiếc cầu thang gồm năm bậc từ

thấp đến cao: Nhu cầu sinh lí, nhu cầu an tồn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về

sự tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. Mỗi bậc nhu cầu của con người đều phụ thuộc

vào bậc nhu cầu trước đó, nếu một nhu cầu ở bậc thấp không được đáp ứng cá

nhân đó sẽ khó có thể tiến lên bước phát triển tiếp theo. Theo ông, sau khi nhu cầu

bậc thấp được thỏa mãn thì nảy sinh đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn {32}.

Còn nhà tâm lí học người Mỹ - Herry Murray đã xây dựng bảng phân loại nhu cầu

gồm 20 loại nhu cầu {11, 172}. Ông cho rằng, nhu cầu là một động lực xuất phát

từ cơ thể và sự thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi phải có sự tác động qua lại với các tình

huống xã hội, phải có sự cải tổ nhằm mục đích đạt được sự thích ứng. Tuy chịu

nhiều ảnh hưởng của S.Freud nhưng theo ơng nếu chỉ giải thích như Freud thì quá

đơn giản. Theo thuyết của ông, những nhu cầu tâm lí xác định được ở con người là

những mức độ khác nhau và cường độ mạnh yếu khác nhau ở từng người. Ở người

này có những loại nhu cầu này mãnh liệt nhưng ở người khác lại có những loại nhu

cầu khác. Tuy nhiên ông không hề đả động trực tiếp đến vấn đề nội dung của các

nhu cầu, động cơ của nhân cách, tính quy định xã hội của các nhu cầu và động cơ

gây ra hành động.

Đến nửa cuối thế kỷ XX có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu của con

người được bổ sung và được trình bày trong các cơng trình nghiên cứu của

Mc.Clelland, Carl Rogers, Rom Harré… Các tác giả này đều nhấn mạnh đến tầm

quan trọng của nhu cầu xã hội và khẳng định đây chính là tác nhân tích cực cho sự

phát triển cá nhân.

Trong tâm lí học Xơ Viết, khái niệm nhu cầu giữ vai trò nền tảng trong việc nghiên

cứu chủ thể, khơng có nó thì khơng có cuộc sống. Nhưng để thỏa mãn các nhu cầu

cần phải có hồn cảnh thích hợp, phải có những phương tiện cho phép thỏa mãn

những nhu cầu. Khi đã có sẵn nhu cầu và phương tiện thỏa mãn nhu cầu thì chủ thể

sẽ sẵn sàng thực hiện hành động đưa đến thỏa mãn nhu cầu. Đó chính là tâm thế

thực hiện hành động, nó là một khâu cần thiết với thực tại và các chức năng tâm lí.

Người đầu tiên đề cập một cách khá sâu sắc tới vấn đề nhu cầu và ý nghĩa của nó



đối với hoạt động của con người là D.N.Uznadze trong cuốn sách Tâm lí học đại

cương xuất bản năm 1940. Theo ông, nhu cầu là yếu tố đặc trưng cho một cơ thể

sống, là cội nguồn của tính tích cực và nó phát triển tương ứng với sự phát triển

của con người. Khi có một nhu cầu cụ thể nào đó xuất hiện, chủ thể hướng sức lực

của mình vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Ở con người tồn

tại hai dạng nhu cầu cơ bản: nhu cầu cấp thấp (nhu cầu tồn tại - đói, khát, tình

dục…) và nhu cầu cấp cao (nhu cầu đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ…). Trong những

hành vi hàng ngày của mình con người khơng chỉ mong muốn thỏa mãn những nhu

cầu cấp thấp mà còn mong muốn thỏa mãn những nhu cầu cấp cao và ở mỗi cá

nhân khác nhau mức độ mỗi loại nhu cầu này là khác nhau. Sự chiếm ưu thế của

nhu cầu cấp cao hay cấp thấp ở mỗi cá nhân là do điều kiện sống, điều kiện giáo

dục, phụ thuộc vào ấn tượng, sự thể nghiệm mà con người thấy có ý nghĩa {32}.

Dựa trên quan điểm triết học Mac-Lênin, X.L.Rubinstêin cho rằng, con người có

nhu cầu sinh vật nhưng bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vì

vậy cần xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Ông

nhấn mạnh sự cần thiết của con người về một “cái gì đó” nằm ngồi cơ thể. “Cái gì

đó” chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cầu

thông qua sự hoạt động của chủ thể. Theo ông, nhu cầu là một thành tố của động

cơ, chính là hạt nhân của nhân cách cho nên nhu cầu sẽ xác định những biểu hiện

khác nhau của nhân cách, đó là xúc cảm, tình cảm, ý chí, hứng thú, niềm tin. Vì

vậy thực tế nhu cầu là xuất phát điểm của một loạt các hiện tượng tâm lí, tuy nhiên

khi nghiên cứu về nhân cách chúng ta không nên xuất phát từ nhu cầu mà phải

khám phá ra quá trình nảy sinh và biểu hiện của nhu cầu, đồng thời phải thống nhất

các yếu tố khách quan (thuộc về đối tượng) với yếu tố chủ quan (trạng thái tâm lí

của chủ thể) trong q trình hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu.

Từ quan niệm trên ta thấy, nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực, vừa

mang tính chủ động. Cụ thể: Nhu cầu là sự đòi hỏi cần được thỏa mãn ở chủ thể

nhưng được thỏa mãn hay không thỏa mãn lại phụ thuộc vào hệ thống các đối

tượng trong những điều kiện cụ thể (tính thụ động của nhu cầu); mặt khác nhu cầu



sẽ thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng, phương thức, phương tiện thỏa

mãn nhu cầu – nhu cầu thúc đẩy hoạt động, kích thích hoạt động (tính tích cực của

nhu cầu). Chính từ hai mặt này mà ta thấy được sự hình thành và phát triển của nhu

cầu. Đó là sự vận động bên trong của nhu cầu theo những giai đoạn, cấp độ nhất

định.

Khi đề cập đến nhu cầu A.N.Leonchiev đã xác định hai cấp độ của nó: là trạng

thái tâm lí bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt động. Nó thể hiện trạng thái

thiếu thốn của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng để thỏa mãn nên ở cấp độ này

nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lí và tạo ra sự

kích thích chung. Kết quả, dẫn đến các hành vi tìm tòi vô hướng. Cấp độ thứ hai,

cao hơn, nhu cầu gặp gỡ đối tượng. Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích thích,

hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng: hướng đến đối tượng

thỏa mãn nhu cầu. Như vậy, nhu cầu theo đúng nghĩa tâm lí học (ở cấp độ tâm lí)

phải gắn liền với đối tượng của nó. Nói cách khác nhu cầu phải được “vật hoá”,

“đối tượng hoá” vào trong thực thể khách quan, ở bên ngồi chủ thể, hướng dẫn và

kích thích chủ thể về phía đó. Sự phát triển của nhu cầu là sự phát triển nội dung

đối tượng của nó{25; 589}.

Leonchiev đi sâu phân tích bản chất tâm lí của nhu cầu và đã khẳng định: “Nhu cầu

với tính chất là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động. Nhu

cầu không chỉ là những cái mà chủ thể sinh ra đã có và chi phối hồn tồn hoạt

động của con người mà nó nảy sinh trong q trình hoạt động và sau đó quay trở

lại chi phối hoạt động của con người theo sơ đồ:

Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động

Ông cho rằng, nhu cầu của con người không chỉ được sản xuất ra mà còn được cải

biến ngay trong q trình sản xuất và tiêu thụ và đó cũng chính là mấu chốt để hiểu

được bản chất các nhu cầu của con người.

Ở nước ta, những đề tài nghiên cứu về vấn đề nhu cầu tham vấn tâm lí của đối

tượng học sinh THPT đã được một số tác giả thực hiện:



Trong đề tài “Khó khăn tâm lí và nhu cầu tham vấn của học sinh phổ thơng” nhóm

tác giả Dương Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức (2007) đã chỉ ra các khía

cạnh thể hiện khó khăn tâm lí ở học sinh THPT là khó khăn trong việc xác định lựa

chọn nghề nghiệp cho tương lai, khó khăn trong học tập, băn khoăn về sự phát

triển tâm sinh lí của bản thân, khó khăn trong quan hệ với cha mẹ, thầy cô. Nghiên

cứu đã chỉ ra sự cần thiết của hoạt động tham vấn trong nhà trường và những hình

thức tham vấn mà học sinh quan tâm như tham vấn trực tiếp tại trường, qua thư,

qua điện thoại {13}.

Các tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Võ Thị Tích (2004) đã tìm hiểu nhu cầu

về nội dung và hình thức tham vấn trong nhà trường cũng như yêu cầu về phẩm

chất và năng lực của nhà tham vấn, tác giả đã kết luận thành lập phòng tham vấn

trong nhà trường là việc rất cần thiết với yêu cầu phải có chuyên viên tham vấn có

trình độ chun mơn về tâm lí giáo dục và phải có một số phẩm chất cần thiết như:

dễ gần và thân thiện, biết thông cảm và chia sẻ, tơn trọng và giữ bí

mật…{26},{29}.

Nghiên cứu về nội dung tham vấn giới tính của học sinh nhóm tác giả Ngơ Đình

Qua, Nguyễn Thượng Chí (2006) đã đưa ra kết luận là cả học sinh THCS và học

sinh THPT đều có nhu cầu được tư vấn về tâm lí - giới tính, nhưng số học sinh

THPT có nhu cầu chiếm tỉ lệ % cao hơn. Nhu cầu này chưa được người lớn đáp

ứng đầy đủ vì vậy cần phải có phòng tư vấn tâm lí giáo dục đặt tại các trường trung

học {28}.

Tác giả Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng (2006) trong nghiên cứu về tham vấn

học đường nhìn từ góc độ giới đã đề cập đến sự khác biệt về nhu cầu tham vấn của

học sinh nam và nữ. Theo nhóm tác giả, nhà tham vấn học đường cần nắm được

những mối quan tâm khác nhau giữa học sinh nam và học sinh nữ, phân tích được

các tác động của mối quan hệ tham vấn, hiệu quả giữa nhà tham vấn học đường là

nam hay nữ khi làm việc với học sinh là nam hay nữ… Từ đó đề xuất việc nâng

cao nhận thức về giới của các nhà tham vấn học đường thơng qua các khóa học lấy

giới làm trung tâm trong quá trình tham vấn {8}.



Nghiên cứu về “Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinhTHPT tác

giả Nguyễn Hà Thành (2009) đã đưa ra kết luận: Tất cả học sinh THPT đều có nhu

cầu hiểu biết và được giáo dục về sức khỏe sinh sản. Học sinh THPT mong muốn

chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản được chính thức đưa vào trường học {30}.

Tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham vấn tâm lí cho học sinh ở

các trường THPT tác giả Lê Thị Minh Loan (2010) cho biết hiện nay đã có gần 50

trường phổ thơng có phòng tham vấn tâm lí nhưng chủ yếu tập trung ở hai thành

phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên mức độ tiếp cận với hoạt động này

của học sinh còn khá khiêm tốn (chỉ có 0.3% học sinh thường xun đến phòng

tham vấn, số lượng học sinh đến tham vấn ở mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên

chiếm chưa đến 7%). Nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều nhưng có ba

nhóm yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp xuất phát từ bản thân học sinh, những

người làm công tác tham vấn trong trường THPT và từ phía nhà trường, xã hội

{20}.

Ngồi ra còn rất nhiều những bài viết trên tạp chí Tâm lí học, các bài tham luận

đăng trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, đề cập đến nhu cầu của tham vấn cũng

như sự cần thiết của chuyên viên tâm lí trong trường học và cách thức tổ chức các

hoạt động tham vấn trong trường {14}, {12}, {7}, {16}, {24}… đã phản ánh phần

nào về nhu cầu tham vấn tâm lí của thanh thiếu niên, đặc biệt các vấn đề tâm lí hay

gặp phải của họ cũng như các hình thức tham vấn phù hợp.

Như vậy, có thể thấy rằng nhu cầu đòi hỏi về tham vấn trong xã hội hiện nay là rất

lớn, nhất là ở lứa tuổi học sinh phổ thông mà hoạt động tham vấn một cách chuyên

nghiệp ở nước ta còn rất mới mẻ cả về nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Đặc biệt là

trên địa bàn huyện vùng sâu vùng xa thì hoạt động tham vấn gần như bị bỏ ngỏ,

các cơng trình nghiên cứu còn rất ít ỏi. Điều đó đang đặt ra cho chúng ta sự nỗ lực

rất nhiều trong nghiên cứu, phát triển tham vấn trên mọi phương diện. Xuất phát từ

hồn cảnh thực tiễn này chúng tơi triển khai đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lí của

học sinh THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu” nhằm đánh giá chính



xác nhu cầu được tham vấn tâm lí của các em nơi đây và để góp phần nâng cao

hiệu quả hoạt động của phòng tham vấn trong các trường phổ thơng hiện nay.

1.2.Lí luận chung về tham vấn tâm lí:

1.2.1. Khái niệm tham vấn và tham vấn tâm lí:



Tham vấn (Counseling) là một thuật ngữ khơng còn xa lạ ở Việt Nam trong khoảng

10 – 15 năm trở lại đây, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn đang tồn tại nhiều cách

hiểu khác nhau liên quan đến thuật ngữ này.

Khơng riêng gì ở Việt Nam mà tại các nước Phương tây và Bắc Mỹ thuật ngữ tham

vấn cũng được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau. Đôi khi, nó dùng để chỉ những hoạt

động của người giúp đỡ thơng thường hoặc của tình nguyện viên, họ được xem

như như là người làm công tác trợ giúp. Hay những người làm công tác tham vấn

chuyên nghiệp tại các bệnh viện, trung tâm, dịch vụ xã hội hoặc các trường học với

nền tảng kiến thức về tâm lí học, cơng tác xã hội hoặc các ngành khác. Dưới đây

có thể dẫn ra một số cách hiểu của các tác giả trong và ngoài nước về khái niệm

này:

Theo hiệp hội tham vấn Hoa Kì (ACA, 1997): Tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc

tâm lí, sức khoẻ tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các

chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi, tập

trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn

đề bệnh lí. Định nghĩa này cũng xác định rằng quá trình tham vấn được hiểu như là

một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng, trong mối quan hệ

này nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình.

P.K.Onner cho rằng, tham vấn là một quá trình vì vậy đòi hỏi nhà tham vấn phải

dành thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ

thân chủ tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho

phép.

Richard Nelsson(1997) cho rằng mục tiêu của tham vấn là hướng tới thay đổi cách

thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ tạo nên một cuộc



sống tốt đẹp hơn. Theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp, giải quyết vấn đề

với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn và

thân chủ. Ông cho rằng tham vấn có thể được sử dụng ở những cấp độ khác nhau,

có thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lí học, cán sự xã

hội hay đơn thuần là một phần công việc của giáo viên, y tá, tình nguyện viên {9}.

Trong Từ điển Tâm lí học, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hiểu tham vấn là q trình

các chun gia chẩn đốn, tìm hiểu căn nguyên và thiết lập cách xử lí đối với

những trẻ em có vấn đề về tâm lí {36}.

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: Tham vấn tâm lí là một hoạt động mà nhà chuyên

môn bằng kiến thức, hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình, thấu hiểu những

cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của đối tượng (cá nhân, gia đình hay nhóm), giúp họ

khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giải quyết {22}.

TS Trần Thị Giồng thì định nghĩa: “Tham vấn là sự tương tác giữa nhà tham vấn

và thân chủ, trong quá trình này nhà tham vấn sử dụng các kỹ năng chuyên mơn

giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải”.

PGS.TS Trần Tuấn Lộ cho rằng, Tham vấn là tham vấn với chính thân chủ đang có

vấn đề cần tìm cách giải quyết phù hợp.

TS. Trần Thị Minh Đức đã đưa ra khái niệm khá tồn diện, phản ánh nhiều góc độ.

Theo tác giả, tham vấn là một tiến trình tương tác giữa người làm tham vấn - người

có chun mơn và kỹ năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và

được pháp luật thừa nhận, với thân chủ - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lí

cần được giúp đỡ. Thơng qua các kỹ năng trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình, giúp

thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải

quyết vấn đề của chính mình {9}. Như vậy, q trình tham vấn nhằm giúp cho thân

chủ tự chịu trách nhiệm với cuộc đời mình, tự tìm cách giải quyết các vấn đề của

mình, nhà tham vấn chỉ là người soi sáng vấn đề, giúp về mặt thông tin, giải tỏa

các xúc cảm gây ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định của thân chủ chứ không

đưa ra lời khuyên hay quyết định hộ vấn đề cho thân chủ. Tham vấn là tiến trình



giúp đỡ chứ khơng làm hộ cho thân chủ, q trình tự quyết sẽ giúp thân chủ mạnh

lên, giám nghĩ và đương đầu với vấn đề khó khăn của chính mình.

Từ những khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của tham vấn như sau:

 Tham vấn là một tiến trình có mở đầu, diễn biến, kết thúc và phải mang tính

liên tục. Một q trình tham vấn bao gồm các giai đoạn cụ thể khác nhau có

thể kéo dài trong một vài ngày, một tuần, một tháng, thậm chí một vài năm.

Thơng thường một ca tham vấn có thể diễn ra với 5 giai đoạn sau:

• Giai đoạn 1: Thiết lập quan hệ.

• Giai đoạn 2: Thu thập, xử lí thơng tin, đánh giá vấn đề.

• Giai đoạn 3: Tìm kiếm cách giải quyết và giúp thân chủ lựa chọn giải

pháp thích hợp nhất.

• Giai đoạn 4: Giám sát và trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp.

• Giai đoạn 5: Kết thúc tham vấn.

Tham vấn là một hoạt động diễn ra trong một quá trình với các hoạt động xây dựng

mối quan hệ, khai thác tìm hiểu xác định vấn đề, giải quyết vấn đề.

 Tham vấn là sự trợ giúp: Trợ giúp trong quá trình tham vấn là giúp thân chủ

những công cụ, phương tiện tâm lí để họ tự giúp chính bản thân mình, củng

cố lại cái tơi của họ từ đó có đủ tự tin trong việc ứng phó với những khó

khăn trong cuộc sống. bản chất của tham vấn là phương pháp trợ giúp người

có vấn đề tự giải quyết vấn đề của chính mình chứ khơng phải là đưa ra lời

khun mà chúng ta thường hiểu. Nhiệm vụ của nhà tham vấn phải làm là

một chỗ dựa tinh thần để thân chủ có cơ hội và có đủ tự tin nhìn lại mình

một cách khách quan.

 Tham vấn là trợ giúp, khai thác tiềm năng của thân chủ để thân chủ tự giải

quyết vấn đề của mình. Khả năng thích ứng ở mỗi con người là rất lớn và

bản thân thân chủ đến với nhà tham vấn cũng có khả năng này nhưng chưa ý

thức được hoặc cố tình khơng ý thức được. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là

giúp thân chủ nhìn thấy tiềm năng của chính mình, đánh thức và sử dụng



chúng để xử lí tình huống mà họ đang gặp phải. Những khó khăn của thân

chủ là những vấn đề mang tính chất riêng tư và chính họ là người trong cuộc,

là người trực tiếp cảm nhận, trải nghiệm, đánh giá hậu quả của tình huống và

trực tiếp lượng giá những tác động tích cực hoặc tiêu cực do việc giải quyết

tình huống mang lại. Vì vậy chỉ có thân chủ mới là người hợp lí và có đủ

điều kiện để thực thi các chiến lược cải thiện cuộc sống cho chính bản thân

họ. Tất nhiên họ khơng thể làm việc một cách độc lập mà cần có sự giúp đỡ

của nhà tham vấn nhưng quyền quyết định và đứng ra thực hiện cuối cùng

phải là thân chủ. Họ phải tích cực, chủ động giải quyết vấn đề và cải thiện

tình trạng cho chính bản thân mình. Với ý nghĩa này tham vấn có tác dụng là

giúp thân chủ nâng cao khả năng đối phó với vấn đề trong cuộc sống.

Như vậy, có thể nhận thấy hoạt động tham vấn được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ

giao tiếp đặc biệt, đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa người làm tham vấn và đối

tượng. Người làm tham vấn là người được trang bị các giá trị, thái độ đạo đức nghề

nghiệp, những tri thức hiểu biết về tâm lí con người và các kỹ năng tham vấn để

thấu hiểu đối tượng, giúp đối tượng vượt lên chính mình. Còn đối tượng được tham

vấn do nhiều ngun nhân khác nhau trở nên mất cân bằng về tâm lí, khó khăn

trong thích nghi, hồ nhập xã hội.

Trong đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lí

của học sinh THPT. Từ những phân tích ở trên chúng tơi quan niệm rằng: Tham

vấn tâm lí là một tiến trình trợ giúp đối tượng(người đang có khó khăn về tâm lí

cần được giúp đỡ) nâng cao nhận thức, duy trì sự thăng bằng tâm lí, tăng cường

khả năng ứng phó với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của bản thân, ra quyết

định phù hợp với hồn cảnh của mình và thực hiện quyết định một cách hiệu quả.

1.2.2. Tham vấn và các khái niệm liên quan:

1.2.2.1. Tư vấn và tham vấn:



Tư vấn – trong tiếng Anh là consultation - được xem như quá trình tham khảo về

lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyết định.



Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Tư vấn là sự phát biểu ý kiến về những vấn đề

được hỏi đến nhưng khơng có quyền quyết định. Hoạt động này phần nhiều diễn ra

dưới dạng hỏi - đáp.

Cho đến hiện nay ở Việt nam vẫn còn nhiều tranh luận về cách gọi tên tham vấn

hay tư vấn. PGS.TS Trần Tuấn Lộ cho rằng, tham vấn là tham vấn với chính thân

chủ đang có vấn đề cần tìm cách giải quyết phù hợp, còn tư vấn chỉ là sự cung cấp

kiến thức, thông tin, hoặc cách giải quyết đã có sẵn cho thân chủ mà thơi, khơng

đòi hỏi phải tìm hiểu thân chủ, khơng đòi hỏi phải cùng thân chủ tìm cách giải

quyết phù hợp {4}.

Thực tế cho thấy hoạt động của các trung tâm tư vấn hiện nay phần lớn hoạt động

theo phương thức hỏi - đáp, trao đổi ý tưởng, cung cấp thơng tin và có thể là đưa ra

lời khuyên để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng chức năng của tham

vấn không phải là đưa ra lời khuyên, do vậy có sự khác biệt giữa tham vấn và tư

vấn ở những điểm sau:

- Về mục tiêu: Tư vấn chủ yếu hướng đến giải quyết vấn đề hiện tại còn hoạt

động tham vấn hướng tới mục tiêu lâu dài hơn, đó là giúp cá nhân nâng cao

khả năng tự giải quyết vấn đề sau khi được tham vấn.

- Về tiến trình: Tư vấn thường là cung cấp thông tin hay đưa ra lời khuyên do

vậy nó diễn ra trong một thời gian ngắn, giải quyết vấn đề tức thời. Còn

tham vấn diễn ra trong thời gian có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm

chí hàng năm.

- Về mối quan hệ: Trong tư vấn, có thể là mối quan hệ trên dưới giữa một

người được xem là “uyên bác” với những thông tin chun mơn, còn bên kia

là người “thiếu hiểu biết” về vấn đề nào đó, bên cạnh mối quan hệ ở đây

khơng đòi hỏi sự tương tác rất tích cực từ phía đối tượng. Trong khi đó ở

tình huống tham vấn, mối quan hệ mang tính ngang bằng, bình đẳng và đòi

hỏi có sự tương tác rất chặt chẽ và hợp tác tích cực giữa hai bên, có thể nói

mối quan hệ này đóng vai trò như một cơng cụ quan trọng cho sự thành công

của ca tham vấn.



- Về cách thức tương tác: Cách thức can thiệp của tư vấn chính là cung cấp

thơng tin và lời khun bổ ích từ người tư vấn với đầy đủ kiến thức chuyên

sâu về vấn đề cần tư vấn. Trong tham vấn, sự thành công phụ thuộc vào kỹ

năng tương tác của nhà tham vấn để thân chủ tự nhận thức, hiểu chính mình

và hồn cảnh của mình để chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp và thực hiện

nó.

Xét về phương diện khái niệm, nhiều người đồng tình theo hướng nên dùng thuật

ngữ tham vấn để tránh ngộ nhận về việc chỉ nghe rồi khuyên theo khuynh hướng

cả tham vấn viên và thân chủ cùng tìm cách giải quyết vấn đề {12}.

1.2.2.2. Trị liệu tâm lí và tham vấn:



Trị liệu – tiếng Anh là therapy được lấy từ gốc Hy Lạp là therapia có nghĩa là chữa

trị, làm lành. Trị liệu tâm lí là (psychotherapy) có nghĩa là sự xóa bỏ rắc rối, những

bệnh lí mang tính tâm lí. Cho đến nay cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa hai

thuật ngữ này vẫn chưa kết thúc. Hiện có hai nhóm quan điểm khác nhau trong

việc phân biệt tham vấn và trị liệu tâm lí:

- Nhóm quan điểm cho rằng khơng có sự khác biệt rõ ràng giữa tham vấn và

trị liệu tâm lí. Điển hình như Carl Rogers(1952), C.Btruax và R. Carkhuff

(1967), C.H Patteenson(1974,1986), G.Corey(1991) đều xem tham vấn và trị

liệu tâm lí như nhau bởi theo họ cả hai hoạt động này đều là q trình tâm lí

nhấn mạnh nhu cầu của đối tượng, cùng sử dụng những kỹ năng giống nhau

như lắng nghe tích cực, thấu hiểu những điều đối tượng nói và thúc đẩy khả

năng tự giúp, tính trách nhiệm của cá nhân.{23}

- Nhóm quan điểm cho rằng có sự khác biệt giữa tham vấn và trị liệu tâm lí.

Điển hình như: F.Robinson(1950), C.Thorne(1950), P.Blos(1946),

L.Tyler(1958). Các tác giả này cho rằng, trị liệu tâm lí chú trọng tới thay đổi

nhân cách còn tham vấn hướng việc giúp đối tượng sử dụng nguồn lực sẵn

có để đối phó với vấn đề trong cuộc sống tốt hơn. Trong tham vấn yếu tố

được xem như trọng tâm là bản thân đối tượng và mối quan hệ đầy tính nhân



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

×