Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Để có cái nhìn tổng thể hơn về “Mức độ thực hiện” đối với thực trạng QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Học viện, chúng tôi tiến hành phép so sánh:

* Để có cái nhìn tổng thể hơn về “Mức độ thực hiện” đối với thực trạng QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Học viện, chúng tôi tiến hành phép so sánh:

Tải bản đầy đủ - 0trang

99

2.1 Chất lượng tuyển sinh đầu vào;

2.2 Chất lượng nội dung chương trình ĐT;

2.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và GS;

2.4 Chất lượng hoạt động giảng dạy;

2.5 Chất lượng tu dưỡng, rèn luyện, học tập của TNS;

2.6 Chất lượng cơ sở vật chất, điều kiện, trang thiết bị dạy học;

3.  Quản lý các điều kiện ĐBCL.

Các tiêu chí có điểm số cao nhất xếp theo thứ bậc giảm lần lượt là:

1. Quản lý hình thành VHCL: ĐTB 2.15;

2. Quản lý xây dựng khung CTĐT: ĐTB 2.03;

3. Quản lý các điều kiện ĐBCL: 1.98.

Điểm TBC cho cả 3 tiêu chí là 2.05 ở mức trên TB

Các mức điểm này cho thấy Mức độ thực hiện từ khoảng TB đến trên 

TB khi QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Học viện. Điều này cho thấy có sự 

khác nhau giữa nhận thức và thực hiện trong thực tế, trong khi Mức cần thiết  

đạt điểm TBC cao hơn: 2.25 trong khoảng TB đến gần Tốt thì Mức độ  thực  

hiện chỉ  đạt điểm 2.05 theo đánh giá của các chủ  thể  liên quan. Đây cũng là 

vấn đề cần lưu ý khi đề xuất các giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách giữa  

nhận thức và thực hiện để  cơng tác QLĐT tại Học viện ngày càng hiệu quả 

theo tiếp cận ĐBCL.

Dựa   trên  kết   quả   thu   được   tại  mục:  2.4.3.2.   Quản  lý   các   điều  kiện 

ĐBCTĐT ­ Xét về  mức độ  đạt được (B) và kết quả  tại Bảng 2.13. Chúng tơi 

nhận thấy vấn đề  này cũng đã được coi trọng tại Học viện, đạt kết quả  khá 

cao. Điều này cho thấy, trong giai đoạn khởi đầu của việc đổi mới cách thức QL  

CLĐT tại Học viện thì việc có thể làm được hơn cả là triển khai thiết lập các  

hệ thống văn bản có tính pháp chế, văn bản truyền thơng, thiết lập mối quan hệ 

để tạo nguồn lực cả về vật chất và kinh nghiệm cho triển khai các hoạt động  

cụ thể tiếp theo trong cơng tác ĐBCL là khả dĩ và cũng là bước đi đúng đắn của 

Học viện.



100

Kết quả  tại Bảng 2.13 cho thấy: Trong khi “Bộ máy tổ  chức QLĐT các 

cấp” và “Sự ủng hộ của các LLXH…” có điểm: 1.95, 1.91 là mức Chưa tốt. Tuy  

nhiên, bộ phận chun trách về đảm bảo CL này góp phần khơng nhỏ trong việc  

góp phần ĐBCTĐT tại Học viện, đây cũng là một thực trạng cần điều chỉnh tại 

HV trong thời gian sắp tới để gắn ĐT với các chủ thể liên quan trong đó có nhà 

quản  lý   và  xã   hội.   Tuy   nhiên   bộ   phận  chuyên   trách   như   đơn   vị:   Khảo  thí,  

ĐBCTĐT của Học viện vẫn chưa được định hình độc lập mà chức năng này đang  

lồng ghép trong Hội đồng điều hành, Lãnh đạo, Phòng ĐT, các Khoa…Điều này 

sẽ khó khăn trong việc đưa ra một đánh giá khoa học nhất, khách quan nhất về 

CTĐT của Học viện, cũng dẫn theo việc cải tiến CL sẽ  giảm tính trọng tâm, 

trọng điểm và chiến lược.

2.4.4. Thực hiện kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng là một vấn đề hồn tồn mới mẻ chưa hiện hữu 

ở   HVPG   VN   về   cả   phương   diện   nhận   thức   và   thực   hiện.   Thực   tế   tại  

HVPGVN, cơng tác đánh giá trong và đánh giá ngồi chất lượng đào tạo tại 

HVPGVN vẫn chưa thống nhất theo mơ hình của khoa học đánh giá, chưa 

phải là cơng tác độc lập tương đối với đào tạo theo đúng nghĩa, mà mới dừng  

lại  ở  việc dự  giờ, thanh tra, đánh giá lẫn nhau thơng qua học tập, trao đổi 

hoặc các diễn đàn chung của các Học viện, bởi lẽ Học viện chưa hình thành 

đơn vị  chun trách thực hiện cơng tác đảm bảo chất lượng nên điều này 

cũng là hệ  quả  tất yếu. Tuy nhiên, để  đảm bảo chất lượng thì theo định kì 

hàng năm, Học viện vẫn chuẩn bị  đón các đồn đánh giá của các cấp như:  

Ban giáo dục tăng ni thuộc Trung  ương Giáo hội PGVN thực hiện các cuộc 

thanh tra, đánh giá tương đương với đồn đánh giá ngồi, cùng với đó là các  

báo cáo thương xun của Hội đồng trị sự Học viện theo qui định có kèm theo  

các minh chứng về số liệu cụ thể để các cấp có thẩm quyền nhận định và có  

biện pháp chỉ đạo sát thực. 

Để  có được kết quả  đánh giá về  thực trạng của cơng tác kiểm định 

chất   lượng   tại   các   HVPGVN,   chúng   tôi   đã   tiến   hành   hỏi   ý   kiến   một   số 



101

chun gia là các bậc Tăng tài có chức sắc, học hàm học vị và có kinh nghiệm 

quản lý kiêm giảng dạy khá lâu năm ở Học viện (GS kiêm chức sắc trong Hội  

đồng điều hành của Học viện, Trưởng các khoa chun ngành, chun mơn; 

trưởng các phòng ban chức năng…).

Với câu hỏi: “Xin Q vị  cho biết việc thực hiện kiểm định CL nói 

chung và CTĐT tại Học viện đã được chính thức tiến hành chưa? Cụ  thể 

bằng hình thức nào?” Chúng tơi nhận được câu trả lời như sau:

Cơng tác này  ở  Học viện chưa  được thực hiện. Tuy nhiên đánh giá 

CLĐT vẫn thường được tiến hành theo cách thức truyền thống chủ yếu như:  

Dự  giờ  của GS, đánh giá kết quả  học tập và tu luyện của TNS, lấy ý kiến  

của đồng nghiệp và ý kiến của học viên, nghiên cứu dư luận và đánh giá của 

giới quản lí cấp trên (Trung ương GHPGVN)

Chúng tơi nhận thấy việc đánh giá trong như  vậy tại Học viện cần 

phải có sự  điều chỉnh đồng bộ  theo khung Đảm bảo CL để  đảm bảo tính 

khoa học, tổng thể  và khách quan. Để  tiến tới, khi việc Đánh giá trong vào  

nền nếp và có những thành tựu đáng kể, Học viện có thể tiến hành bước tiếp  

theo là Đánh giá ngồi bằng cách thành lập Hội đồng chun gia (mà trong đó 

có các thành viên của Giáo hội PGVN hoặc các chun gia uy tín về lĩnh vực  

này). Kết quả  đánh giá trong/Tự  đánh giá là khâu căn bản, kết quả  của báo  

cáo TĐG sẽ là căn cứ để đề nghị thành lập Hội đồng KĐCL (đánh giá ngồi),  

khi đó hoạt động KĐCL mới thật sự có cơ hội hiện hữu, tuy nhiên đây là vấn  

đề  thời gian và cần có lộ  trình chuẩn bị bài bản, nhất là hình thành các cơng 

cụ đo lường trong đào tạo của Học viện đòi hỏi có sự đầu tư thiết kế tỉ mỉ và  

chọn lọc.

2.5. Đánh giá chung về quản lý đào tạo ở Học viện Phật giáo Việt 

Nam theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

­ Xét cả về mức độ nhận thức và mức độ thực hiện (câu 2A và câu 2B)



102

So sánh  giữa Mức độ cần thiết và Mức độ thực hiện

trong việc QLĐT theo tiếp cận ĐBCL



3

2.5

2



2.5



2.48



2.38



2.18



2.15



2.13



2.12



1.87



2.07



2.04



2.07



1.96



2.03



1.98



2.06

2.04



7



8



1.5

1

0.5

0



1



2



3



4



5



6



Biểu đồ 2.4: So sánh giữa mức độ cần thiết và mức độ thực hiện tồn bộ câu  

2 trong việc QLĐT theo tiếp cận ĐBCL (xét trên 8 tiêu chí thành phần của 3  

mục lớn trong phần câu 2A và câu 2B)

Chú giải

Mức độ cần thiết

Mức độ thực hiện

1. Quản lý hình thành VHCL

2. Chất lượng tuyển sinh đầu vào

3. Chất lượng nội dung chương trình ĐT

4. Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và GS

5. Chất lượng hoạt động giảng dạy

6. Chất lượng tu dưỡng, rèn luyện, học tập của TNS

7. Chất lượng cơ sở vật chất, điều kiện, trang thiết bị dạy học

8. Quản lý các điều kiện ĐBCTĐT

Nhận xét chung:

Nhìn biểu đồ ta thấy hai đường màu xanh và hồng khơng xa nhau, điều  

này chứng  tỏ  giá trị  về  nhận thức  sự  cần thiết và mức  độ  thực  hiện có 

khoảng cách nhất định nhưng khơng chênh lệch lớn. Đường xanh biểu thị cho 

nhận thức về “Mức độ cần thiết” của việc QLĐT theo tiếp cận ĐBCL có giá 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Để có cái nhìn tổng thể hơn về “Mức độ thực hiện” đối với thực trạng QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Học viện, chúng tôi tiến hành phép so sánh:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×