1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái niệm các nguyên tắc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam

Khái niệm các nguyên tắc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệm  về  việc xét  xử  vụ  án  về  người  chưa  thành  niên  phạm  tội  gửi 

kèm  Cơng  văn  số  37­ NCPL ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao...



Kể từ khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985) 

và cho  đến  Bộ  luật  hình  sự  hiện  hành  (Bộ  luật  hình  sự  năm  1999  được 

sửa đổi, bổ  sung một số điều năm 2009), các ngun tắc này đã được pháp 

điển hóa và hồn  thiện  nhưng  cho  đến  nay,  trong  khoa  học  luật  hình  sự 

Việt  Nam,  các sách,  báo  chuyên  khảo  hoặc  cơng  trình  nghiên  cứu  mới 

chỉ  phân  tích  các ngun  tắc  cũng  như  đường  lối  xử  lý  người  chưa 

thành  niên  phạm  tội  chứ  chưa  thấy  được  và  chỉ  ra  khái  niệm  khoa  học 

về các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội.

Do  vậy,  ở  trong  phạm  vi  nghiên  cứu  của  luận  văn  này,  chúng  tôi 

xin  đưa  ra  khái  niệm  về  các  nguyên  tắc  xử  lý  người  chưa  thành  niên 

phạm  tội nhưng trước khi đưa ra khái niệm này, theo chúng tôi cần phải 

làm rõ  những  đặc  điểm  đặc trưng của các nguyên tắc xử  lý người chưa 

thành niên phạm  tội như sau:

Thứ  nhất,  các  nguyên  tắc  xử  lý  người  chưa  thành  niên  phạm  tội 

thể  hiện tính nhân đạo sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Điều này được 

thể hiện xuyên  suốt  trong  các  nguyên  tắc  được  ghi  nhận  tại  Điều  69  Bộ 

luật  hình  sự  mà điển hình là ngun tắc thứ  hai ­ người chưa thành niên có 

thể  được  miễn trách  nhiệm  hình  sự  nếu  người  đó  phạm  tội  ít  nghiêm 

trọng  hoặc  tội  nghiêm trọng, gây hại khơng lớn, có nhiều tình tiết giảm 

nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan,  tổ  chức nhận  giám sát, giáo dục.  Đây 

là  nguyên  tắc  thể  hiện  sự  khoan hồng, nhân  đạo  đặc biệt ­ miễn trách 

nhiệm hình sự  đối với người chưa  thành  niên  phạm  tội,  nó  phản  ánh 

chính  sách  nhân  đạo  của  Nhà  nước  ta  đối  với người  phạm  tội  và  hành 

vi  do  họ  thực  hiện,  đồng  thời  nhằm  động  viên, khuyến  khích  họ  lập 

cơng  chuộc  tội,  chứng  tỏ  khả  năng  giáo  dục,  cải  tạo nhanh  chóng,  tái 

hòa  nhập  cộng  đồng  và  trở  thành  người  có  ích  cho  xã  hội. Ngồi  ra, các 

ngun  tắc  về  mục  đích  xử  lý  người  chưa  thành  niên  phạm  tội, về  việc 



áp dụng các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đều 

thể hiện tính nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội.



Thứ  hai,  các  nguyên  tắc  xử  lý  người  chưa  thành  niên  phạm  tội 

trong pháp luật hình sự  Việt Nam thể  hiện tính cụ  thể, nhân văn. Điều này 

được thể hiện ở chỗ khơng phải tất cả những người chưa thành niên phạm 

tội đều xử  lý bằng hình sự. Theo khoa học luật hình sự, tội phạm do người 

chưa thành  niên gây ra khi thỏa mãn năm điều kiện sau:

Một là, phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội;

Hai  là,  do  người  chưa  thành  niên  thực  hiện  hành  vi  phạm  tội  đủ 

tuổi chịu trách nhiệm hình sự  tương ứng với từng loại tội phạm và lỗi gây 

ra;

Ba  là,  có  lỗi,  riêng  đối  với  người  từ  đủ  14  tuổi  đến  dưới  16  tuổi 

phải có lỗi cố ý nếu phạm tội rất nghiêm trọng;

Bốn là,  hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa thành niên 

thực hiện phải được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm

Năm là, người đó thực tế  phải chịu trách nhiệm hình sự  sau khi các 

cơ quan có thẩm quyền cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà 

khơng thể  áp  dụng  các  biện  pháp  tư  pháp  hoặc  các  biện  pháp  khác  để 

quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Do vậy, bên cạnh việc xử  lý hình sự  người chưa thành niên phạm 

tội, pháp  luật  hình  sự  nước  ta  còn  quy  định  các  biện  pháp  xử  lý  khác 

như miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng các biện pháp tư pháp v.v…

Bên  cạnh  đó,  trong  q  trình  giải  quyết  vụ  án  có  người  chưa 

thành niên phạm tội, các cơ  quan tiến hành tố  tụng ngoài việc điều tra, xác 

minh sự  thật  khách  quan  quy  định  tại  Điều  63  Bộ  luật  tố  tụng  hình  sự 

còn  phải  "xác định  khả  năng  nhận  thức  của  họ  về  tính  chất  nguy  hiểm 

cho  xã  hội  của  hành  vi phạm tội, nguyên nhân và  điều kiện gây ra tội 

phạm" [54], để  từ  đó đưa  ra biện pháp xử  lý mang lại hiệu quả  giáo dục 

tốt nhất cho người chưa   thành niên phạm tội hoặc kiến nghị  phòng ngừa 



tội phạm. Khi áp dụng chế tài xử  lý đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm 

tội, những người tiến hành tố tụng  chỉ



được  áp  dụng  hình  phạt  nếu  thấy  thực  sự  cần  thiết  và  đặc  biệt  phải 

"hạn chế hình  phạt  tù.  Khi  áp  dụng  hình  phạt  tù  có  thời  hạn,  Tòa  án  cho 

người  chưa thành  niên  phạm  tội  được  hưởng  mức  án  nhẹ  hơn  mức  án 

áp  dụng  đối  với người  đã  thành  niên  phạm  tội  tương  ứng"  [54,  Điều 

69].  Điều  này  đòi  hỏi những người tiến hành tố  tụng phải hiểu và đồng 

tình với quan niệm nhà tù  là lựa chọn cuối cùng để xử lý người chưa thành 

niên phạm tội. Và đương nhiên, khi  không  phải  lựa  chọn  một  biện  pháp 

nào  để  xử  lý  người  chưa  thành  niên phạm tội mới là  điều tốt lành khơng 

là  lý  tưởng  mà  còn  là  những  hành  động chiến lược lâu dài và rất cụ  thể 

của tất cả chúng ta.

Thứ  ba,  các  nguyên  tắc  xử  lý  người  chưa  thành  niên  phạm  tội 

trong pháp  luật  hình  sự  Việt  Nam  đều  nhằm  mục  đích  giáo  dục,  tái  hòa 

nhập  cộng  đồng  đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm  tội.  Nhấn  mạnh 

điều  này,  các  nhà làm luật đã quy định ngay tại nguyên tắc đầu tiên trong 

Điều 69 Bộ  luật  hình sự  ­ Việc xử  lý người chưa thành niên phạm tội chủ 

yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ  họ  sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và 

trở  thành cơng dân có ích cho xã  hội.  Nó  cho  thấy  các  biện  pháp  áp  dụng 

người  chưa  thành  niên  phạm  tội chủ  yếu nhằm giáo dục họ  thấy  được 

tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã  hội của tội phạm, sự nghiêm minh của 

pháp luật và giúp  đỡ  họ  trở  thành cơng  dân có ích. Việc quy  định án  đã 

tun đối với người chưa thành niên phạm tội  khi chưa  đủ  16  tuổi  khơng 

được  tính  để  xác  định  tái  phạm,  tái  phạm  nguy  hiểm cũng thể  hiện đặc 

điểm này, việc quy định như  vậy đã tạo điều kiện để  người chưa  thành 

niên  có  thể  tái  hòa nhập  cộng  đồng, phát triển lành  mạnh  về  thể chất  và 

tinh  thần,  cũng  như  tránh  mặc  cảm  tội  lỗi  của  bản  thân  người  chưa 

thành  niên  và  cái  nhìn  thiếu  thiện  cảm,  dị  nghị  của  xã hội  đối  với  người 

đó sau nay khi đã trở thành người thành niên.

Ngồi  ra,  các  ngun  tắc  xử  lý  người  chưa  thành  niên  phạm  tội 

phản ánh tính hướng thiện của người chưa thành niên. Người chưa thành 



niên là  đối tượng chưa phát triển đầy đủ  về  mặt thể  chất cũng như  tâm, 

sinh lý nên họ   dễ



bị  lơi kéo, kích động vào hành vi phạm tội, tuy nhiên họ  cũng dễ  thay đổi, 

cải tạo, trở  thành người lương thiện và cơng dân có ích cho xã hội nếu 

được  quan tâm, giáo dục  đúng phương pháp trong một mơi trường sinh 

hoạt lành  mạnh. Nhận thức được điều này, các nhà làm luật đã quy định 

các ngun tắc xử  lý người  chưa  thành  niên  phạm  tội  trong  Bộ  luật 

hình  sự  nhằm  đề  cao  tính hướng thiện, tự hồn thiện bản thân của người 

chưa thành niên.

Thứ  tư, các ngun tắc xử  lý người chưa thành niên phạm tội hạn 

chế  sử  dụng  biện  pháp  cưỡng  chế  nghiêm  khắc  đối  với  người  chưa 

thành  niên phạm  tội.  Người  chưa  thành  niên  phạm  tội  có  thể  được  áp 

dụng biện pháp tư pháp  giáo  dục  tại  xã  phường,  thị  trấn  hoặc  nếu  bị  áp 

dụng  hình  phạt  thì  chỉ  thực  sự  cần  thiết,  hạn  chế  hình  phạt  tù,  khơng 

áp  dụng  hình  phạt  tù  chung thân,  tử  hình  đối  với  người  chưa  thành  niên. 

Điều  này  thể  hiện  không  phải  mọi  trường  hợp  người  chưa  thành  niên 

phạm tội đều bị truy cứu  trách nhiệm hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm 

hình  sự  chỉ  được  đặt  ra  khi  nó  thật  sự  cần  thiết  và  ngay  cả  khi  người 

chưa  thành  niên  phạm  tội  và  bị  truy  cứu  trách nhiệm hình sự thì vẫn có 

khả năng  khơng bị  áp dụng hình phạt,  thay vào  đó họ  có  thể  áp  dụng  các 

biện pháp tư pháp nếu biện pháp này đủ tác dụng cải tạo  thành  cơng  dân 

có  ích  cho  xã  hội.  Mặt  khác,  đối  với  người  chưa  thành niên  phạm  tội, 

hình  phạt  khơng  phải  biện  pháp  răn  đe,  phòng  ngừa  chung càng  khơng 

phải  là  biện  pháp  trừng  trị  mà  mục  đích  cuối  cùng  chỉ  là  giáo dục, cải 

tạo  họ  thành  cơng  dân  có  ích  mà  với  lứa  tuổi,  tâm  sinh lý  đang  trong q 

trình  hồn  thiện  thì  việc  họ  cần  cả  gia  đình,  nhà  trường  và  xã  hội  có 

trách nhiệm nâng đỡ, giáo dục, hồn thiện nó trong mơi trường thân thiện, 

tự do  thay  vì  chỉ  có  Cơ  quan  thi  hành  án  hình  sự hay  chính  quyền  ủy  ban 

nhân dân cấp xã,  phường.



Từ  những  đặc  điểm  trên  chúng  ta  có  thể  đưa  ra  một  khái  niệm 

hồn chỉnh về các ngun tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội:



Các ngun tắc xử lý người chưa thành niên  phạm tội  trong  luật  

hình  sự  Việt  Nam  là  những  tư  tưởng  chủ  đạo  và  là  định  hướng  cơ  bản 

thể hiện chính sách hình sự và ngun tắc nhân đạo của Nhà nước đối với 

người  chưa  thành  niên  phạm  tội,  qua  đó  góp  phần  cải  tạo,  giáo  dục, 

giúp  đỡ  họ sửa  chữa  sai  lầm,  phát  triển  lành  mạnh,  trở  thành  cơng  dân 

có  ích  cho  gia đình và xã hội.

Những  cơ  sở  của  việc  quy  định  các  nguyên  tắc  xử  lý  ngƣời 

chƣa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam

Nhà  nước  ta  thừa  nhận  người  chưa  thành  niên  (trong  đó  bao  gồm 

cả  người chưa thành niên phạm tội) là một nhóm nhân khẩu ­ xã hội đặc 

thù,  cần phải được sự bảo trợ của pháp luật nói chung và pháp  luật hình 

sự nói  riêng. Sự  bảo trợ đặc biệt này khơng chỉ  khi người chưa thành niên 

là  đối tượng  của sự  xâm hại  mà  ngay cả  khi họ  là chủ  thể  của hành vi 

phạm tội.

Điều 65 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Trẻ  em  được gia  đình, 

Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục" [53].

Trước khi Bộ  luật hình sự  năm 1999 có hiệu lực, Nhà nước ta  đã 

ban hành nhiều quy định về tư pháp đối với người chưa thành niên phạm 

tội như Nghị định số 60/CP của Chính phủ ngày 16/9/1993 quy định về bảo  

đảm  các ngun tắc cơ  bản của quyền trẻ  em   ­ như  khơng  được tra tấn 

hoặc đối xử  tàn tệ,  xúc  phạm  nhân  phẩm,  danh  dự;  ­  Người  chưa  thành 

niên  phạm  tội  không được giam giữ  chung với người thành niên; ­ Trong 

thời gian bị  giam giữ  các em  được  giáo  dục  sửa  chữa  sai  lầm,  khuyết 

điểm được  chăm sóc  sức  khỏe, học văn hóa, học nghề, vui chơi giải trí, và 

được tiếp xúc người thân.

Tuy nhiên, văn bản pháp luật về  người chưa thành niên trong thời 

kỳ  này vẫn còn khơng ít sơ  hở, thiếu nhất qn. Một trong những thiếu sót 



đó  là các  văn  bản  luật  và  dưới  luật  còn  lạc  hậu,  chồng  chéo  hoặc  chậm 

được  ban hành cho phù hợp với tình hình, dù đã có nhiều nghị  quyết, văn 

bản của Đảng,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm các nguyên tắc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×