1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ảnh 1.2: Thang điểm mRSS [44]

Ảnh 1.2: Thang điểm mRSS [44]

Tải bản đầy đủ - 0trang

22



da được tính theo thang điểm 0­3 bằng cách dồn da giữa ngón cái và ngón 

trỏ  hoặc hai ngón tay cái. Điểm số  da là 0 nếu khơng có thương tổn, la ̀1 

nếu dày nhẹ, là 2 nếu dày vừa phải (dày da, khơng véo lên được nhưng vẫn 

di chuyển được) và la ̀3 nếu dày nặng (da bọc xương, dày da, khơng véo lên  

được và khơng di chuyển được). Tại mỗi vị trí giải phẫu điểm được tính là 

điểm đại diện của vị  trí tức là điểm của vùng chiếm diện tích lớn nhất. 

Tổng số điểm da là tổng điểm của từng vị trí và điểm tối đa là 51.  Mức độ 

dày da nên được ghi chép cẩn thận trong tất cả các lần thăm khám.

2.1.2.



Thang điểm đánh giá



Mỗi vùng, số  điểm da được đánh giá bằng cách sờ  nắn bằng tay. Tại  

mỗi vị  trí độ  dày da được tính theo thang điểm 0­3 bằng cách dồn da  

giữa ngón cái và ngón trỏ  hoặc ngón cái hai tay. Điểm số  da là 0 nếu  

khơng có thương tổn, la ̀1 nếu dày nhẹ,  là  2 nếu dày vừa phải (dày da,  

khơng véo lên được nhưng vẫn di chuyển được) và la ̀3 nếu dày nặng  

(da bọc xương, dày da, khơng véo lên được và khơng di chuyển được)  

(88). Tại mỗi vị trí giải phẫu điểm được tính là điểm đại diện của vị trí  

tức là điểm của vùng chiếm diện tích lớn nhất.Tổng số điểm da là tổng  

điểm của từng vị trí và điểm tối đa là 51. Mức độ  dày da nên được ghi  

chép cẩn thận trong tất cả các lần thăm khám.

Tư thế bệnh nhân và ranh giới giữa các vị trí giải phẫu khi đánh giá:

Mặt:   đánh   giá   vùng   giữa   cung   gò   má   Zygoma   và   xương   hàm   dưới,  

không đánh giá ở trán

Ngực: Bệnh nhân ngồi, đánh giá vùng từ  cán đến mũi xương  ức bao  

gồm cả lồng ngực

Bụng: bệnh nhân nằm ngửa, đánh giá vùng từ mũi xương ức đến cánh  



23



chậu

Cánh tay, cẳng tay: đánh giá tại mặt duỗi

Bàn tay: đánh giá mặt mu từ cổ tay đến khớp bàn ngón tay

Ngón tay: đánh giá mặt mu đốt ngón tay 2, nếu như đốt ngón tay 2 khó  

đánh giá thì đánh giá tại đốt ngón tay 1

Đùi, cẳng chân, bàn chân: Bệnh nhân nằm ngửa, đùi, cẳng chân, bàn  

chân  ở  tư  thế  gấp thoải mái, đánh giá tại mặt trước đùi, cẳng chân,  

mặt mu bàn chân.



Mỗi vùng, số  điểm da được đánh giá bằng cách sờ  nắn bằng tay. Tại  

mỗi vị  trí độ  dày da được tính theo thang điểm 0­3 bằng cách dồn da  

giữa ngón cái và ngón trỏ  hoặc ngón cái hai tay. Điểm số  da là 0 nếu  

khơng có thương tổn, la ̀1 nếu dày nhẹ,  là  2 nếu dày vừa phải (dày da,  

khơng véo lên được nhưng vẫn di chuyển được) và la ̀3 nếu dày nặng  

(da bọc xương, dày da,khơng véo lên được và khơng di chuyển được)  

(61). Tại mỗi vị trí giải phẫu điểm được tính là điểm đại diện của vị trí  

tức là điểm của vùng chiếm diện tích lớn nhất. 

1.1.4.3. 2.2.2. Đánh giá thương tổn mạch máu

Hiện tượng Raynaud, mặc dù  ảnh hưởng nhiều đến tàn tật, thường  

được   bệnh   nhân   tự   đánh   giá   một   phần.   Soi   mao   mạch   nền   móng  

(nailfold videocapillaroscopy – NVC) trở  thành một cơng cụ  quan trọng  

để đánh giá mức độ hoạt động, độ  thiệt hại và độ  nặng trên các bệnh  

nhân XCBHT có dự  đốn tiên lượng bệnh cho thương tổn mạch máu  

hệ  thống sau này và tỷ  lệ  tử  vong. Cần tiến hành nhiều nghiên cứu  



24



hơn để xác định và chuẩn hố chính xác điểm trên NVC để đánh giá độ  

hoạt động, độ thiệt hại và độ nặng trong XCBHT (55)

Thương tổn phổi 

Thương tổn phổi gặp 70% trên bệnh nhân XCBHT biểu hiện dưới 2  

bệnh chính: bệnh phổi kẽ và tăng áp lực động mạch phổi. Hai bệnh có thể 

biểu hiện phối hợp hoặc riêng rẽ [18].. 

­ Bệnh phổi kẽ (Interstitial lung disease ­ ILD)

ILD   là   thương   tổn   phổi   hay   gặp   nhất   trên   bệnh   nhân   XCBHT. 

ILD/XCBHT bao gồm rất nhiều dưới nhóm về mơ bệnh học, hay gặp nhất 

là viêm phế  nang kẽ  khơng đặc hiệu và viêm phế  nang kẽ  thơng thường 

[46]. Bệnh nhân ILD/XCBHT tiên lượng tồi hơn bệnh nhân XCBHT khơng 

có thương tổn phổi. Tỷ lệ ILD/XCBHT rất khác nhau tuỳ theo nhóm nghiên 

cứu và định nghĩa ILD. Dựa vào phim chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao  

(high   resolution   computed   tomography   –   HRCT),   ILD   gặp   48%   nhóm 

XCBHT thể  lan toả  và 26% XCBHT thể  giới hạn (45). Trên một nhóm 

bệnh nhân XCBHT đa chủng tộc, ILD xuất hiện sớm liên quan với nhóm 

người Mỹ gốc Phi, độ dày da cao, CPK (serum creatine phosphokinase) cao, 

suy giáp và thương tổn tim (46).

Lâm sàng bệnh phổi kẽ

     ILD  sớm   thường   khơng  có   triệu   chứng.   Triệu  chứng   hay  gặp  

nhất của ILD/XCBHT là mệt, khó thở (bắt đầu bằng khó thở khi gắng sức) 

và ho khan. Biểu hiện đau ngực thường ít gặp và ho máu  hiếm gặp. Phần 

lớn bệnh nhân đã có thương tổn da của XCBHT  ở  thời điểm chẩn đốn 

ILD nhưng cũng có một số  bệnh nhân xuất hiện ILD trước và sau đó mới 

được   chẩn   đốn   XCBHT   dựa   vào   các   biểu   hiện   khác   như   hiện   tượng  



25



Raynaud, xơ cứng đầu ngón, tự kháng thể dương tính hoặc bất thường mao  

mạch nền móng. Triệu chứng thực thể  đặc trưng nhất của ILD khi thăm 

khám lâm sàng là ran  ẩm nhỏ  hạt thì hít vào  ở  hai đáy phổi (gọi là ran 

Velcro). HRCT (High resolution computer tomography – chụp cắt lớp vi tính 

độ phân giải cao) vùng ngực là một cuộc cách mạng trong đánh giá ILD và 

trở  thành tiêu chuẩn vàng trong chẩn đốn bệnh ILD/XCBHT  [47]. HRCT 

vùng ngực  là phim chụp sử  dụng máy qt chùm điện tử  với lớp  cắt lớp 

mỏng 1,5 mm hoặc 3mm tồn bộ vùng ngực. Có nhiều chỉ số  được đưa ra 

để đánh giá mức độ lan rộng của thương tổn trên HRCT. Điểm HRCT theo 

tác giả Goh và cộng sự 2008 [48] dễ thực hành và có thể tính dựa trên phim 

chụp mà khơng cần phụ  thuộc vào máy chụp.  Theo tác giả  Goh,  điểm 

HRCT được tính dựa trên 5 lớp cắt: 1) lớp cắt tại gốc của các mạch lớn; 2)  

lớp chia 2 mạch chính; 3) vị trí hợp lưu tĩnh mạch phổi; 4) lớp cắt giữa lớp  

3 và lớp 5; 5) lớp cắt nhìn thấy cơ  hồnh phải. Tại mỗi lớp cắt, mức độ 

nặng của bệnh được tính dựa vào ảnh dưới đây: 



Ảnh 1.3: Lớp cắt tại gốc của các  



Ảnh 1.4: Lớp cắt chia 2 



mạch lớn



mạch chính



26



Ảnh 1.5: Lớp cắt hợp lưu tĩnh 



Ảnh 1.6. Lớp cắt nhìn thấy



mạch phổi



 vòm hồnh



+ Độ 0: Kính mờ đơn thuần (ground glass attenuation)

+ Độ 1: Xơ mịn trong thuỳ (fine intralobular fibrosis)

+ Độ  2: Dạng tổ  ong nhỏ  (khoảng khơng khí bên trong ≤ 4 mm đường 

kính)  

+  Độ  3: Dạng tổ  ong lớn (khoảng khơng khí bên trong > 4 mm đường 

kính)  

Tổng điểm là tổng của 5 lớp cắt, nằm trong khoảng 0 ­15 điểm [48] 

(93)Ngồi ra, các bệnh nhân ILD còn có thể  được theo dõi dựa trên 

xét nghiệm chức năng hơ hấp (PFTs  ­ pulmonary function tests)Triệu chứng 

của tâm phế mạn có thể gặp trên bệnh nhân ILD tiến triển nhưng cũng có 

thể  là một bệnh riêng biệt hoặc liên quan đến tăng áp phổi. Bệnh nhân 

ILD/XCBHT cần được phân thể, đánh giá mức độ  nặng của ILD và loại 

trừ  ngun nhân do các bệnh phổi hoặc ngồi phổi, như  nhiễm trùng, suy  

tim, hoặc bệnh phổi do hít tái diễn.

Đánh giá thương tổn bệnh phổi kẽ

      ­ Xét nghiệm chức năng hơ hấp (PFTs – pulmonary function tests). 



Được chỉ  định trên phần lớn các bệnh nhân XCBHT  ở  thời điểm 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ảnh 1.2: Thang điểm mRSS [44]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×