1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

2 Đánh giá mức độ thành công của điều trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.48 MB, 165 trang )


68



Khi so sánh hai nhóm điều trị, chúng tơi đánh giá kết quả điều trị thông

qua sự khác biệt về xác suất điều trị thành công, thành công vừa, thành cơng

tốt và so sánh bằng phân tích sống còn Kaplan Meier.

3.2.2 Điều trị thành công

Khi bệnh nhân cải thiện được thị lực so với ban đầu từ 5 chữ trở lên ( cải

thiện 1 hàng thị lực trở lên) được coi là điều trị thành công.



Biểu đồ 3.5 Biểu diễn Kaplan Meier điều trị thành cơng của hai nhóm

Theo như biểu đồ trên có thể thấy ngay từ tháng thứ 3, xác suất điều

trị thành cơng của nhóm Bevacizumab lên tới gần 70% so với khoảng 30%

của nhóm Laser. Xác suất điều trị thành công tiếp tục tăng theo thời gian cho

tới 12 tháng. Nhóm Bevacizumab có xác suất điều trị thành cơng cao hơn so

với nhóm Laser (p < 0,0001; Log-rank test). Biểu đồ nêu trên cũng cho thấy

xác suất điều trị không thành công ở thời điểm 12 tháng của nhóm

Bevacizumab là khoảng 18% so với 50% của nhóm Laser.

3.2.3 Điều trị thành cơng vừa

Khi bệnh nhân cải thiện được thị lực so với ban đầu từ 10 chữ trở lên

(2 hàng thị lực) và có thị lực < 75 chữ (0,6 thị lực thập phân) được coi là điều

trị thành công vừa. Xác suất điều trị thành cơng vừa ở hai nhóm là khơng cao



69



và khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm (p = 0,0617). Tuy nhiên kết quả

trong nhóm Bevacizumab có khuynh hướng tốt hơn.

3.2.4 Điều trị thành công tốt

Khi bệnh nhân cải thiện được thị lực so với ban đầu từ 10 chữ trở lên

(2 hàng thị lực) và có thị lực ≥ 75 chữ (0,6 thị lực thập phân) được coi là điều

trị thành công tốt. Xác suất điều trị thành công tốt của nhóm Bevacizumab

khoảng 30% ở thời điểm 3 tháng và tăng đến 40% ở thời điểm 12 tháng,

tương ứng với khoảng 10% và 20% của nhóm Laser. Nhóm Bevacizumab có

xác suất điều trị thành công tốt cao hơn so với nhóm Laser (p < 0,0001; Logrank test).

3.2.5 Phân tích hồi qui logistic

Chúng tơi sử dụng mơ hình hồi qui logistic để xây dựng mơ hình đánh

giá hiệu quả điều trị thành cơng phù hồng điểm đái tháo đường. Biến phụ

thuộc bao gồm thị lực ban đầu, CRT, tăng huyết áp, tăng lipid máu, sử dụng

insulin, tiền sử hút thuốc, giới tính, mức độ trầm trọng của bệnh võng mạc

đái tháo đường, hình thái phù trên chụp mạch huỳnh quang với fluorescein,

còn thủy tinh thể hay khơng. Phân tích cho thấy yếu tố nhóm điều trị và có

sử dụng insulin ảnh hưởng đến kết quả điều trị thành công. Tuy nhiên khi

đưa vào mơ hình rút gọn thì chỉ có yếu tố nhóm điều trị là có ý nghĩa thống

kê (p= -0,5810). Kết quả được thể hiện qua Bảng 3-5 Các thơng số trong mơ

hình hồi qui logistic dưới đây:



70



Bảng 3.5 Các thơng số trong mơ hình hồi qui logistic

(* đạt ý nghĩa thống kê)

Yếu tố



p



Giá trị



Sai số chuẩn



Giá trị z



4,56



3,10



1,47



0,1413



Nhóm Laser



-2,15



0,55



-3,89



<0,0001*



Thị lực ban đầu



-0,02



0,03



-0,97



0,3334



0,00



0,00



0,43



0,6659



Giới nữ



-0,69



0,96



-0,73



0,4680



Tuổi



-0,00



0,02



-0,20



0,8379



Thời gian bị đái tháo đường



-0,69



0,96



-0,72



0,2692



HbA1C



-0,04



0,14



-0,33



0,7402



Hút thuốc



-0,77



0.98



-0,78



0,4320



Sử dụng Insulin



-1,27



0,57



-2,23



0,0255*



Tăng huyết áp



-0,48



0,53



-0,91



0,3627



Tăng lipid máu



0,51



0,53



0,95



0,3388



Khơng có yếu tố nào



CRT ban đầu



3.3 Phân tích theo phân nhóm HbA1c

Trong những mắt được điều trị Bevacizumab có thể phân chia thành

hai nhóm: Nhóm HbA1c ≤ 7 bao gồm 15 mắt/ 15 bệnh nhân và Nhóm HbA1c

> 7 bao gồm 40 mắt/ 40 bệnh nhân, Thị lực trung bình trước khi điều trị của

Nhóm HbA1c ≤ 7 và Nhóm HbA1c > 7 lần lượt là : 60,53 ± 11,15 và 65,03

± 10,42 chữ (p=0,16, Mann-Whitney U test). Độ dầy võng mạc trung tâm

trung bình trước khi điều trị lần lượt là 401,53 ± 81,94 và 397,70 ± 154,15

µm (p=0,26, Mann-Whitney U test). Như vậy khơng có sự khác biệt về thị

lực và độ dầy võng mạc trung tâm của hai nhóm Nhóm HbA1c ≤ 7 và Nhóm

HbA1c > 7 trước khi điều trị. Mức tăng thị lực trung bình của Nhóm HbA1c

≤ 7 so với Nhóm HbA1c > 7 theo các thời điểm như sau:

- 3 tháng : 7,00 ± 6,48 so với 9,10 ± 6,48 chữ.



71



- 6 tháng : 8,20 ± 7,70 so với 10,38 ± 7,93 chữ.

- 12 tháng: 13,47 ± 6,91 so với 11,66 ± 6,56 chữ.

Các số liệu cho thấy Nhóm HbA1c ≤7 ban đầu có mức tăng thị lực

thấp hơn ở thời điểm 3 và 6 tháng nhưng vào thời điểm 12 tháng lại có mức

tăng thị lực cao hơn Nhóm HbA1c >7. Phân tích phương sai ANOVA đo

lường lặp lại (Repeated measures ANOVA) cho thấy có sự khác biệt về kết

quả thị lực giữa hai nhóm ở các lần thăm khám (p< 0,0001) và có sự tương

tác giữa nhóm điều trị theo thời gian (p=0,01). Nói cách khác, mức tăng thị

lực về lâu dài (12 tháng) trong Nhóm HbA1c ≤7 có kết quả thị lực tốt hơn.



Biểu đồ 3.6: Thay đổi thị lực so với ban đầu và sai số chuẩn theo thời gian

của Nhóm HbA1c ≤ 7 và Nhóm HbA1c > 7.

Mức giảm độ dầy võng mạc trung tâm trung bình của của Nhóm

HbA1c ≤ 7 so với Nhóm HbA1c > 7 theo các thời điểm như sau:

- 3 tháng: -106,67 ± 68,39 so với -115,10 ± 139,56 µm.

- 6 tháng: -142,87 ± 74,31 so với -132,97 ± 136,65 µm.

- 12 tháng: -145,00 ± 74,00 so với -143,45 ± 144,18 µm.

Có thể thấy rằng mức giảm độ dầy võng mạc trung tâm của của Nhóm

HbA1c ≤ 7 so với Nhóm HbA1c > 7 là tương tự nhau trong tất cả các thời

điểm theo dõi. Phân tích phương sai ANOVA đo lường lặp lại (Repeated



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (165 trang)

×