1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >

1 Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 169 trang )


5



năm 1975, 1976, Krivolutsky đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp,

trong đó vai trò chỉ thị được đặc biệt quan tâm [136], [139], [140], [141], [142],

[143]. Kết quả các nghiên cứu của ông cho thấy rằng những thay đổi của môi

trường sống thường dẫn đến phản ứng nhạy cảm và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã

động vật chân khớp bé ở đất. Chính vì vậy, chân khớp bé mà đại diện là nhóm bọ

nhảy và ve giáp là nhóm động vật thích hợp làm sinh vật kiểm tra ở mức độ tổ hợp

loài [142]. Gulvik (2007) đã nêu tổng quát về nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật

chân khớp bé ở đất nói chung và ve giáp nói riêng trong việc đánh giá mức độ tác

động của con người đến hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu đã nhận định sự thay

đổi trong cấu trúc quần xã ve giáp có thể trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của

môi trường đất [117]. Năm 2011, Adrievskiz nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp

như một thước đo mức độ ô nhiễm môi trường đất [58].

Tại khu vực Đông Nam Á, khu hệ ve giáp Indonesia được nghiên cứu đầu tiên

bởi Berlese (1913) [205]. Sau đó, một số lượng lớn các cơng trình nghiên cứu về ve

giáp được tiến hành trong khu vực này bao gồm các nghiên cứu ở Indonesia của

Csiszar (1961) [93], Balogh và Mahunka (1968) [72], ở Thái Lan của Aoki (1965,

2009) [59], [62], của Balogh và Mahunka (1974) tại Malaysia [73] và của Corpus

Rasos (1992) tại Philippin [90].

Tại Nhật Bản và Trung Quốc, nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển với

nhiều nghiên cứu ý nghĩa. Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của Karasawa (2004)

về ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh và sự phân cắt địa lý đến quần xã ve giáp ở

rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu [131], nghiên cứu của Hasegawa và cộng sự (2006)

về ảnh hưởng của yếu tố địa chất và độ cao so với mực nước biển đối với cấu trúc

quần xã ve giáp và một số nghiên cứu của các tác giả khác [62], [63], [121], [123].

Tại khu vực châu Mỹ các nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển, đặc biệt là

các nghiên cứu về sinh học và sinh thái. Các nghiên cứu của Krantz (1978) đã xác định

ve giáp tham gia tích cực trong sự phân hủy hợp chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và

quá trình tạo đất [136]. Tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng đều ăn với

một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa.



6



Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây, một vài loài là động vật ăn thịt, khơng có

lồi nào sống ký sinh [135]. Các nghiên cứu của Berhan - Pelletier (1999) cũng cho

thấy ve giáp là lồi đơng đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong những môi trường sống đặc

trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, nghiên cứu cấu trúc quần thể, độ giàu loài và

đặc điểm sinh sản của ve giáp sẽ xác định được yếu tố chỉ thị thích hợp [79].

Năm 2002, Schatz đã tổng kết và đưa ra danh lục 543 loài đã biết của khu hệ

ve giáp Trung châu Mỹ. Ngoài ra ơng còn tổng hợp số lượng ve giáp ở một số quốc

gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc khu vực Trung châu Mỹ như: Cuba (225 loài),

Antilles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21

loài).Đến năm 2002, số lượng các loài ve giáp đã biết tại khu vực Trung Châu Mỹ

bao gồm cả Mexico và Antilles là 1238 loài [206].

Minor và cộng sự (2004, 2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại đất

canh tác, các loại phân bón hữu cơ, phân ure, màn che ánh sáng tới cấu trúc quần xã

ve giáp khu vực New York. Kết quả cho thấy, loại đất có ảnh hưởng rõ rệt tới quy

mô và sự đa dạng của quần xã ve giáp [160], [161].

Từ năm 2012 đến nay, tại khu vực Châu Mỹ, nghiên cứu ve giáp tiếp tục được

phát triển và tập trung nhiều ở các nước Mỹ, Canada, Mexico, Argentina, Brazil,

Ecuador. Trong đó phải kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu về vai

trò của quần xã ve giáp trong hệ sinh thái đất của các tác giả Accattoli, Salazar Martinez, Acuna - Cantillo,….

Tại châu Đại Dương, các nghiên cứu về ve giáp tập trung nhiều tại Australia

và New Zealand. Australia là nước có nhiều nghiên cứu tiêu biểu về nhóm ve giáp

sống trên cây. Theo ước tính của Walter (1995), đã phát hiện được khoảng 102 loài

ve giáp sống trên các tán cây của rừng mưa. Theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống

thuộc 35 họ ve giáp đã được biết là sống trên cây và hầu hết những loài này thuộc

nhóm Brachypylia [198]. Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả ở đây đã cho thấy

ve giáp là nhóm sinh vật có số lượng đơng đảo hơn bất kỳ các chân khớp khác sống

trên cây kể cả côn trùng. Các tác giả cũng ước tính vòm lá của một cây cao 10m

trong vùng rừng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng gần 400.000 cá thể ve bét mà chủ



7



yếu là ve giáp [198].

Châu Âu được coi là trung tâm phát triển mạnh mẽ nhất về nghiên cứu ve

giáp.Trong rất nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện, có thể kể đến một số nghiên

cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Mone và các cộng sự (1988) [164]. Kết quả

nghiên cứu này cho thấy ve giáp là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật

thuộc lớp hình nhện có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì

cấu trúc đất, tham gia vào quá trình phân hủy feralitmùn bằng cách nghiền nát các

hợp chất hữu cơ.

Năm 2006, để đánh giá tác động của khí hậu lục địa đến cấu trúc quần xã ve

giáp, Zaitsev và Wolters đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu ve giáp theo lát cắt

ngang châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcơva (liên bang Nga) trong cùng một kiểu sinh

cảnh rừng rụng lá theo mùa. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí hậu lục địa có ảnh

hưởng rõ rệt đến cấu trúc chức năng và độ đa dạng của quần xã ve giáp. Mặt khác

cũng có dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ [201].

Năm 2012, Kaczmarek và cộng sự đã nghiên cứu về đa dạng cấu trúc quần xã

ve bét trên ba sinh cảnh nằm trong vùng ngập nước theo mùa ở Ba Lan. Kết quả cho

thấy đa dạng quần xã ve giáp có thể sử dụng như một chỉ thị sinh học cho quá trình

chuyển đổi thảm thực vật của các rừng ven sông [130].

Năm 2014, Lehmitz đã nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình làm khơ và q

trình gây rừng đối với quần xã ve giáp trên đất than bùn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra

rằng, q trình làm khơ đất bùn đã làm giảm mức độ đa dạng loài quần xã ve giáp,

một số lồi nhạy cảm với độ ẩm mơi trường đã biến mất. Do đó có thể đề xuất sử

dụng quần xã ve giáp là cơ sở để đánh giá những biến đổi và q trình thối hóa của

mơi trường sống [146].





Như vậy trên thế giới, khu hệ ve giáp đã trải qua hàng trăm năm nghiên cứu



và phát triển. Các nghiên cứu phân bố không đồng đều giữa các châu lục và tập

trung nhiều ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Phân loại học hình thái là phương pháp

được sử dụng chủ yếu, phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng nhưng chưa

nhiều. Các nghiên cứu phân loại học, thành phần loài trong khu hệ vẫn là các



8



nghiên cứu cơ bản và không ngừng được phát triển và mở rộng về phạm vi địa lý và

môi trường sinh thái (trong lòng đất, dưới nước, trên cây, thảm lá…). Trên thế giới

khu hệ ve giáp hiện biết 10.342 loài và phân loài, thuộc 1.249 giống và 163 họ

[204]. Tuy nhiên theo các chuyên gia nghiên cứu con số này mới chiếm khoảng

20% tổng số loài thực tế [204], bởi vậy việc tiếp tục nghiên cứu bổ sung thông tin

nhằm làm rõ tính chất đa dạng của khu hệ ve giáp trên toàn thế giới là rất cần thiết.

Các thông tin sinh thái học của quần xã ve giáp ngày càng được bổ sung đầy

đủ hơn ở cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp. Vai trò của ve giáp

trong hệ sinh thái đất ban đầu được chú ý nghiên cứu làm rõ về vai trò đối với các

q trình ln chuyển vật chất, cấu tạo đất, vai trò mang truyền nang sán…. Hiện

nay vai trò chỉ thị của ve giáp với sự biến đổi điều kiện môi trường sống được tập

trung nghiên cứu nhiều. Sự biến đổi cấu trúc quần xã ve giáp qua các loại sinh cảnh

khác nhau, các đai độ cao khác nhau, vùng khí hậu khác nhau với các điều kiện

nhiệt độ, độ ẩm.... khác nhau đã chỉ ra tính chất nhạy bén đối với các biển đổi của

môi trường sống của chúng. Những thơng tin này có giá trị xây dựng cơ sở khoa

học nhằm đề xuất ve giáp như một chỉ thị sinh học cho mơi trường sống, đóng góp

quan trọng cho nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học.

1.2 Nghiên cứu về ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam

Việt Nam nằm ở vị trí địa lý trung gian của nhiều trung tâm phát sinh, phát tán

và di cư của nhiều nhóm động vật trong đó có khu hệ ve giáp. Vì thế các kết quả

nghiên cứu về khu hệ ve giáp có ý nghĩa đóng góp đánh giá đặc điểm khu hệ, nguồn

gốc phát sinh và quan hệ tiến hóa của khu hệ động vật Việt Nam nói riêng và của

vùng nói chung [19].

Đến năm 2015 khu hệ ve giáp Việt Nam đã xác định được 320 loài và phân

loài, chiếm khoảng 3,09% tổng số loài đã biết trên thế giới (320 loài và phân loài so

với 10342 loài và phân loài) [189]. Hằng năm qua nghiên cứu của các tác giả trong

nước và nước ngoài số loài ve giáp không ngừng được bổ sung. Cùng với những

bước phát triển của chuyên ngành nghiên cứu này trên thế giới, ở Việt Nam nghiên



9



cứu ve giáp cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhìn lại lược sử nghiên cứu

chúng ta có thể chia thành ba giai đoạn phát triển:

 Giai đoạn từ năm 1967 đến 1985

 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2007

 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1985

Trước năm 1967, khu hệ ve giáp Việt Nam chưa được quan tâm nghiên cứu.

Đến năm 1967, khu hệ ve giáp Việt Nam bắt đầu được nghiên cứu bởi các tác giả

nước ngồi. Cơng trình đầu tiên được cơng bố là: “New oribatids from Vietnam”

của hai tác giả người Hungari là Balogh và Mahunka. Qua cơng trình này các tác

giả đã giới thiệu về khu hệ, danh pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài ve giáp. Tất

cả 33 loài ghi nhận được đều là mới cho khu hệ động vật Việt Nam, trong đó mơ tả

29 lồi và 4 giống là mới cho khoa học [71]. Tiếp theo là nghiên cứu của hai tác giả

Tiệp Khắc Rajski và Szudrowicz [175].

Trên cơ sở các nghiên cứu ban đầu được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế,

các chuyên gia trong nước đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu hướng về các nhóm

ưu thế là ve bét (Acari) và bọ nhảy (Collembola). Cơng trình nghiên cứu trong giai

đoạn này là luận văn cấp I sau Đại học của Vũ Quang Mạnh (năm 1980) về “Quần

xã ve bét (Arachnida: Acari, Oribatei) và Bọ nhảy (Insecta: Collembola) ở một số

sinh cảnh vùng Từ Liêm (Hà Nội) và An Khê (Tây Nguyên)” [8]. Sau đó là luận án

tiến sỹ (phó tiến sỹ) của Vũ Quang Mạnh (năm 1985) “Nghiên cứu Sinh thái - Khu

hệ quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) ở miền Bắc Việt Nam”. Trong nghiên cứu đầu

tiên về ve giáp ở hệ sinh thái đất này, tác giả đã xác định được 73 lồi ve giáp, trong

đó có 39 loài mới cho khu hệ ve giáp Việt Nam và 7 lồi mơ tả mới cho khoa học

[208].

Như vậy, đây có thể coi là giai đoạn đặt nền móng cho nghiên cứu ve giáp Việt

Nam. Các nghiên cứu về ve giáp đã có những bước phát triển và đã thu được những

kết quả nhất định. Hướng nghiên cứu cũng như phạm vi địa lý vùng nghiên cứu đã



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (169 trang)

×