1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Đánh giá thực trạng công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất tại SPCs

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.73 MB, 221 trang )


liệu giữa các đơn vị khoa học, chặt chẽ. Cơng ty mẹ và các cơng ty con đều xây dựng chế độ kế tốn 



bao gồm chứng từ  kế  tốn, tài khoản kế  tốn, hệ  thống sổ  sách kế  tốn, quy trình và phương pháp 



hạch tốn khoa học, phù hợp với u cầu thực tế của cơng tác kế tốn. Việc cung cấp thơng tin phục  



vụ lập BCTC giữa các đơn vị trong nhóm cơng ty là kịp thời theo đúng u cầu của cơng ty mẹ, qua đó 

đã giảm áp lực thời gian cho bộ phận kế tốn lập BCTC hợp nhất tại cơng ty mẹ. 



Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 100% cơng ty mẹ đánh giá tổ  chức bộ  máy tại các cơng ty con 



đã đảm bảo khoa học, hợp lý phục vụ tốt cho cơng tác thu thập số liệu, gửi báo cáo cho cơng ty mẹ.  



Bên cạnh đó 97,1% các cơng ty con đồng ý đánh giá bộ phận lập BCTC hợp nhất tại cơng ty mẹ được  

tổ chức khoa học, chỉ có 5,9% các cơng ty con đồng ý một phần với ý kiến trên.



Một yếu tố khơng kém phần quan trọng  ảnh hưởng đến cơng tác thu thập và xử lý số  liệu đầu 



vào đó là sự phối hợp giữa cơng ty mẹ với các cơng ty con, cơng ty liên kết và ngược lại. C ơng tác lập 



BCTC hợp nhất liên quan đến nhiều bộ phận trong đơn vị cũng như nhiều đơn vị trong cùng một hệ 



thống. Do đó, việc lập các chỉ tiêu trên các biểu mẫu, báo cáo cần có phối hợp và kiểm tra đối chiếu,  



do đó nếu đi thiếu sự  phối hợp chặt chẽ  giữa các bộ  phận hoặc giữa các đơn vị  thì cơng tác lập  



BCTC hợp nhất sẽ  khơng tránh khỏi nhiều khó khăn và phức tạp. Kết quả  khảo sát cho thấy: (i)  



100% cơng ty mẹ đồng ý với nhận định rằng giữa đơn vị trong cùng hệ thống đã có sự phối hợp chặt  



chẽ và trong cơng tác lập BCTC hợp nhất; (ii) 97,1% cơng ty con đồng ý với nhận định cho rằng cơng 



ty mẹ đã hỗ trợ tích cực đối với các đơn vị trong q trình thu thập số liệu và lập các biểu mẫu báo  



cáo. Đây là một yếu tố  quan trọng giúp cho cơng tác lập BCTC hợp nhất tại các đơn vị  được thuận  

lợi và có hiệu quả. 



Bên cạnh đó, để cơng tác lập và trình bày BCTC hợp nhất được thực hiện được triển khai tốt thì  



sự  quan tâm chỉ đạo của đội ngũ quản lý cấp cao đóng một vai trò quan trọng. Kết quả  khảo sát về 



mức độ hiểu biết và sự tham gia của bộ máy quản lý cấp cao đối với cơng tác lập BCTC hợp nhất tại 

SPCs cho thấy: 



(i) 83,3% đơn vị  đánh giá cán bộ  quản lý cấp cao đều có sự  hiểu biết cao đối với cơng tác lập  

BCTC hợp nhất và 16,7% ở mức độ trung bình; 



(ii) 66,7% đơn vị đánh giá có sự  tham gia của cán bộ  quản lý cấp cao tham gia đối với cơng tác 

lập BCTC hợp nhất ở mức độ cao và 33,3% là ở mức độ trung bình.



127



Như vậy có thể thấy, đây là một thuận lợi lớn đối với cơng tác lập BCTC hợp nhất tại các đơn  



vị. Sự am hiểu về cơng tác lập BCTC hợp nhất sẽ giúp các cấp quản lý hiểu rõ được những vấn đề 



phát sinh, cũng như những khó khăn phức tạp trong cơng tác lập BCTC hợp nhất. Từ đó các nhà quản 



trị sẽ có sự quan tâm chỉ đạo thường xun và hỗ trợ kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho cơng 



tác lập BCTC hợp nhất tại các đơn vị. Tổng hợp đánh giá mức độ  hiểu biết và tham gia của cán bộ 

quản lý cấp cao đối với cơng tác lập BCTC hợp nhất tại SPCs như sau:

Bảng 2.36. Đánh giá mức độ hiểu biết và tham gia của cán bộ quản lý cấp cao 

đối với cơng tác lập BCTC hợp nhất



Mức độ



Rất thấp

Thấp

Trung bình

Cao

Rất cao



Mức độ hiểu  

biết của cán  

bộ 

Mức độ tham gia của cán bộ quản lý cấp cao  

quản lý cấp  

đối với 

cao đối với 

công tác lập BCTC hợp nhất

công tác lập  

BCTC hợp  

nhất

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

0

0

0

0

0

0

0

0

1

16,7

2

33,3

5

83,3

4

66,7

0

0

0

0



 (Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu điều tra do tác giả thực hiện)



 Về vận dụng các phương pháp kỹ thuật để lập BCTC hợp nhất:



Hệ   thống   BCTC   hợp   nhất   được   các   đơn   vị   lập   bao   gồm   4   báo   cáo:   BCĐKT   hợp   nhất, 



BCKQHĐKD hợp nhất, BCLCTT hợp nhất, TMBCTC hợp nhất. Để  lập các chỉ  tiêu và khoản mục  



trên BCTC hợp nhất các đơn vị đã vận dụng các phương pháp kỹ thuật điều chỉnh các nghiệp vụ chủ 



yếu như: loại trừ khoản đầu tư của cơng ty mẹ, phân bổ lợi thế thương mại, tách lợi ích của cổ đơng  



khơng kiểm sốt, loại trừ   ảnh hưởng của giao dịch bán hàng trong nội bộ  và lập các bút tốn kết  



chuyển. Việc vận dụng các phương pháp kỹ  thuật điều chỉnh trên cơ  bản phù hợp với các quy định  



hiện hành của Luật kế tốn, chuẩn mực và chế độ kế tốn, cũng như các văn bản hướng dẫn của Bộ 



Tài chính. Điều này giúp thơng tin trên BCTC hợp nhất đã phản ánh được tình hình tài chính, kết quả 



hoạt động kinh doanh về  cơ  bản đã đảm bảo độ  tin cậy, trung thực và hợp lý. Từ  đó đã cung cấp 



những thơng tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thơng tin của nhóm cơng ty như một thực thể kế 

tốn duy nhất.

2.3.1.2. Về cơng tác trình bày BCTC hợp nhất

128



Cơng tác trình bày BCTC hợp nhất được các đơn vị thuộc SPCs quan tâm và triển khai thực hiện 



có hiệu quả. Các bộ phận của BCTC hợp nhất bao gồm: BCĐKT hợp nhất, BCKQHĐKD hợp nhất,  



BCLCTT hợp nhất, TMBCTC hợp nhất đã được các đơn vị  trình bày đầy đủ  các thơng tin theo đúng 

quy định của CMKT Việt Nam số 21 – “ Trình bày BCTC” và các thơng tư hướng dẫn số  23/2005/TT­



BTC, thơng tư  số  161/2007/TT­BTC. Nội dung các chỉ  tiêu, khoản mục trên các bộ  phận của BCTC  



hợp nhất được trình bày rõ ràng, đầy đủ, cơ  bản đáp  ứng u cầu cung cấp thơng tin cho các đối 



tượng sử dụng. Các bộ  phận của BCTC hợp nhất đã trình bày trung thực hợp lý tình hình tài chính, 



kết quả hoạt động kinh doanh, các luồng tiền hợp nhất của nhóm cơng ty, Tập đồn tại thời điểm lập 

BCTC hợp nhất.

Kết luận chung về cơng tác lập và trình bày BCTC hợp nhất tại SPCs:



Trong số các đơn vị được khảo sát, tác giả đánh giá cao cơng tác lập và trình bày BCTC hợp nhất  



tại VNSTEEL từ  khâu chuẩn bị  và q trình thực hiện. Đơn vị  này đã xây dựng và ban hành “ Quy 



trình hợp nhất BCTC” bao gồm các ngun tắc, phạm vi, trình tự các thủ tục thực hiện khi lập BCTC  



hợp nhất và thường xun cập nhật sửa đổi quy trình này khi có sự thay đổi các chuẩn mực và chế độ 



kế  tốn. Ngồi ra để  phục vụ  cho cơng tác hợp nhất BCTC, VNSTEEL cũng đã xây dựng quy trình 



hạch tốn, chế độ  sổ  kế tốn, hệ  thống tài khoản áp dụng chung cho cơng ty mẹ  và các cơng ty con. 



Điều này giúp cơng tác đối chiếu, xử lý các điều chỉnh nhanh chóng, chính xác, hạn chế sự sai sót khi 



lập BCTC hợp nhất. Hệ  thống sổ  sách phục vụ  cho việc lập BCTC hợp nhất tại VNSTEEL được 



trình bày cụ thể, khoa học. Số liệu được thể hiện logic và có sự liên kết giữa các chỉ tiêu, giữa các bút 



tốn điều chỉnh do đó đã tạo điều kiện tốt cho cơng tác kiểm tra, kiểm sốt thơng tin lập BCTC hợp  



nhất. Cơng tác lập và trình bày BCTC hợp nhất tại HPG có sự nhanh chóng và kịp thời. Cơng tác này  



được đơn vị  triển khai và thực hiện hàng tháng, mặc dù việc lập BCTC hợp nhất đòi hỏi rất nhiều 



thời gian và cơng sức, do đó có thể thấy đây là một sự nỗ lực và cố gắng rất lớn của bộ phận kế tốn 



hợp nhất tại cơng ty mẹ và đội ngũ kế tốn của các cơng ty con, cơng ty liên kết tại HPG. Việc thực  



hiện lập BCTC hợp nhất hàng tháng sẽ  giúp đơn vị kiểm sốt được các nghiệp vụ  phát sinh thường  

xun và liên tục qua đó giảm được áp lực cơng việc khi lập BCTC hợp nhất cuối niên độ.

2.3.2. Những tồn tại



Bên cạnh những  ưu điểm đạt được, cơng tác lập BCTC hợp nhất hiện nay tại các đơn vị  thuộc  

SPCs   còn   tồn   tại   những   hạn   chế   cần   tiếp   tục   hồn   thiện

như sau:



129



 



2.3.2.1. Về cơng tác lập BCTC hợp nhất 







Những tồn tại trong cơng tác thu thập và xử lý thơng tin phục vụ lập BCTC hợp nhất

Về cơng tác tổ chức bộ máy kế tốn lập BCTC hợp nhất:



Cơng tác tổ chức bộ máy kế tốn tại các cơng ty mẹ còn chưa đáp ứng một cách tốt nhất so với 



u cầu thực tế của cơng tác lập BCTC hợp nhất. Kết quả khảo sát cho thấy, tại 100% các đơn vị bộ 



máy kế tốn đảm nhiệm cơng tác lập BCTC hợp nhất được tổ chức còn chưa chun nghiệp, mức độ 



tổ  chức bộ máy kế  tốn lập BCTC hợp nhất hiện mới chỉ  ở cấp độ  là một bộ  phận trực thuộc của 



Phòng (Ban) kế  tốn, chưa được tổ  chức thành bộ  phận độc lập, chun trách lập BCTC hợp nhất. 



Trong khi đó, nhiều đơn vị như Tập đồn Hồ Phát, Tổng cơng ty thép Việt Nam là những đơn vị  có  



quy mơ lớn, số  lượng các cơng ty con, liên kết lớn, số  liệu phức tạp càng đòi hỏi phải có bộ  phận 



chun trách đảm nhiệm lập BCTC hợp nhất. Do đó việc chưa thành lập bộ  phận chun trách lập  



BCTC hợp nhất sẽ làm cho cơng tác kế tốn chưa đạt được hiệu quả  cao, đáp ứng đòi hỏi của cơng  

tác quản lý.



Bên cạnh đó, cơng tác lập BCTC hợp nhất ln là một nhiệm vụ  khó khăn và phức tạp đòi hỏi  



phải có đội ngũ cán bộ kế tốn có trình độ  cao và phải được đào tạo thường xun liên tục để  nâng  



cao trình độ  đáp  ứng u cầu của nhiệm vụ  lập   BCTC hợp nhất. Tuy nhiên kết quả  khảo sát cho 



thấy, tại cơng ty mẹ, số lượng các đơn vị có bộ phận lập BCTC hợp nhất chưa được đào tạo thường 



xun chiếm tới 83,3% và các đơn vị  này chỉ  được cập nhật kiến thức cho các bộ  làm cơng tác lập  



BCTC hợp nhất khi có sự  thay đổi của chế  độ  kế  tốn, 16,7% các đơn vị  còn lại chỉ  được đào tạo  

năm/lần. 

 Xây dựng, sửa đổi bổ sung quy trình lập BCTC hợp nhất:



Một số đơn vị  chưa xây dựng và ban hành quy trình lập BCTC hợp nhất. Kết quả khảo sát cho 



thấy có 33,3% các đơn vị chưa ban hành, trong đó chủ yếu là các đơn vị có quy mơ hoạt động khơng 



lớn, số lượng các cơng ty trong cùng hệ thống ít như cơng ty Pomina, Tisco. Bên cạnh đó, một số đơn 



vị đã xây dựng quy trình lập BCTC hợp nhất nhưng chưa thường xun cập nhật và sửa đổi bổ sung  



cho phù hợp với những thay đổi của đơn vị. Kết quả khảo sát cũng cho thấy hầu hết các đơn vị đều 

có thời gian cập nhật bổ sung quy trình với thời gian trên 12 tháng.

 Về thời hạn nộp các báo cáo phục vụ cơng tác lập BCTC hợp nhất:



130



Để phục vụ cho cơng tác lập và trình bày BCTC hợp nhất, cơng ty mẹ đều có những hướng dẫn  



và quy định cụ thể đối với các cơng ty con, cơng ty liên kết về thời gian, nội dung của hệ thống các  



biểu mẫu báo cáo phải gửi cho bộ phận lập BCTC hợp nhất tại cơng ty mẹ. Tuy nhiên qua thực tế 



khảo sát tại các đơn vị tác giả thấy vẫn có nhiều đơn vị nộp BCTC và các biểu mẫu báo cáo chưa kịp  

thời và đúng thời hạn quy định. 

Bảng 2.37. Thống kê việc nộp báo cáo đúng hạn của các cơng ty con tại SPCs

Q

                Thời 

hạn

Chỉ tiêu

Đúng hạn

Chậm 5 ngày

Châm trên 5 và dưới 10 ngày

Chậm từ 10 ngày trở lên



Năm

Số lượng



Tỷ lệ (%)



25

10

0

0



Số lượng



71,4

28,6

0,0

0,0



Tỷ lệ (%)



21

12

2

0



60,0

34,3

5,7

0,0



(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra do tác giả thực hiện)



Kết quả khảo sát cho thấy, đối với báo cáo q số lượng các đơn vị nộp chậm báo cáo là 10 đơn 



vị, chiếm tỷ lệ 28,6% các đơn vị được khảo sát, trong đó thời hạn các đơn vị chỉ nộp chậm trong thời  



hạn 5 ngày. Đối với thời hạn nộp BCTC năm, số lượng các đơn vị nộp chậm tăng cao hơn so với thời 



điểm báo cáo q, chiếm tỷ lệ 40,0%. Các trường hợp nộp chậm thường xảy ra  ở các đơn vị  lớn số 

liệu phức tạp và một số ít các doanh nghiệp có đội ngũ kế tốn có trình độ chun mơn chưa cao.

 Về chất lượng của các báo cáo do các cơng ty con, cơng ty liên kết gửi cho cơng ty mẹ:



Chất lượng thơng tin của các biểu mẫu và báo cáo do các cơng ty con và các cơng ty liên kết gửi 



về cơng ty mẹ còn chưa cao. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, có đến 66,7% các đơn vị  cho rằng số 



liệu do các đơn vị  trong hệ  thống gửi cho cơng ty mẹ  vẫn còn có sai sót cần phải điều chỉnh, tuy ở 



mức độ  thấp. Số  liệu sai sót và chênh lệch chủ  yếu liên quan đến các khoản mục phát sinh do các 



giao dịch mua bán vật tư, hàng hố, TSCĐ nội bộ  như cơng nợ phải thu, phải trả nội bộ, doanh thu,  



giá vốn... Điều này đã gây khó khăn và ảnh hưởng khơng nhỏ đến cơng tác lập và trình bày cũng như 

chất



 



lượng



 



thơng



 



tin



 



trên



 



BCTC



 



hợp nhất.

 Về BCLCTT hợp nhất:



Việc   lập   BCLCTT   tại   đơn   vị   dựa   trên  phương   pháp   tổng  hợp  các  chỉ   tiêu   tương   ứng   trên 



BCLCTT riêng của các cơng ty con, sau đó sẽ điều chỉnh các ảnh hưởng của các giao dịch nội bộ đối  



với các chỉ tiêu có liên quan. Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù đã tiến hành điều chỉnh và loại trừ,  



131



tuy nhiên 100% các đơn vị chưa việc loại trừ chưa được thực hiện triệt để  và hồn tồn đối với các 

dòng tiền phát sinh nội bộ.



Ngồi ra tại VNSTEEL, việc lập BCLCTT dựa trên phương pháp kết hợp giữa việc tính tốn các 



chỉ  tiêu trên TMBCTC hợp nhất với việc tổng hợp có điều chỉnh các chỉ  tiêu trên BCLCTT của các 



đơn vị. Tuy nhiên một số  chỉ tiêu tính tốn vẫn có sự  chênh lệch khi sử  dụng các phương pháp khác  

nhau



 



để



 



kiểm tra.



Những tồn tại trên đều ảnh hưởng đến số liệu trên BCLCTT hợp nhất, làm giảm độ tin cậy của  



thơng tin về các luồng tiền ln chuyển trong đơn vị và ảnh hưởng đến việc sử dụng thơng để  đánh 

giá và phân tích của các đối tượng có liên quan.

 Tồn tại trong vận dụng các phương pháp kỹ thuật điều chỉnh khi lập BCTC hợp nhất

 Về kỹ thuật điều chỉnh hợp cộng các chỉ tiêu trên BCTC hợp nhất:



Theo quy định và hướng dẫn của Bộ  Tài chính, kỹ  thuật điều chỉnh khi lập BCTC hợp nhất 



được thực hiện thơng qua các bút tốn ghi Nợ  ­ ghi Có cho các chỉ  tiêu tương  ứng trên báo cáo. Tuy  



nhiên, kết quả  khảo sát cho thấy tại Tập đồn Hồ Phát việc điều chỉnh các chỉ  tiêu vẫn được áp 



dụng phương pháp điều chỉnh trực tiếp bằng cách ghi âm (ghi dương) cho từng chỉ tiêu. Mặc dù việc  



áp dụng phương pháp này có thể đơn giản hơn và giúp đơn vị tiết kiệm thời gian tuy nhiên việc kiểm  

tra đối chiếu sẽ gặp khó khăn. 



Bên cạnh đó, tại Tập đồn Hòa Phát khi thực hiện điều chỉnh các nghiệp vụ các nghiệp vụ trên  



Excel, bộ phận kế tốn lập BCTC hợp nhất tại cơng ty mẹ  khơng  sử  dụng các cơng thức có sự  liên 



kết giữa các biểu mẫu và báo cáo chi tiết mà chỉ nhập cơng thức tính tốn cộng trừ số học. Việc áp  



dụng phương pháp này gây khó khăn cho cơng tác kiểm tra, đối chiếu và điều chỉnh số  liệu, nhất là 



đối với các kiểm sốt viên nội bộ, kiểm tốn viên khi thực hiện kiểm tra hoặc kiểm tốn BCTC hợp  

nhất tại đơn vị.

 Về cơng tác theo dõi, xử lý các giao dịch, cơng nợ nội bộ:



­ Số liệu các giao dịch mua bán vật tư, hàng hố giữa cơng ty mẹ  với cơng ty con, giữa cơng ty  



con với nhau tại một số đơn vị  còn có sự  chênh lệch. Kết quả  khảo sát trực tiếp tại VNSTEEL cho  



thấy, số liệu giữa bên mua và bên bán trong cùng một giao dịch trong của một số khoản mục có sự 



chênh lệch. Trong một số trường hợp do khối lượng giao dịch n ội bộ phát sinh lớn nên khơng thể tìm 

132



được ngun nhân dẫn đến sự  chênh lệch. Trong các trường hợp như  vậy bộ  phận lập BCTC hợp 



nhất sẽ áp dụng quy tắc là lựa chọn giá trị ghi nhận của bên bán để  làm căn cứ  ghi nhận nghiệp vụ 



phát sinh. Điều này dẫn đến việc loại trừ  doanh thu, giá vốn và lợi nhuận nội bộ  phát sinh khơng  

chính xác, ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC hợp nhất.



­ Tại hầu hết các đơn vị, do khơng sử dụng một loại phần mềm kế tốn, và mã vật tư, hàng hố 



thống nhất trong tồn hệ  thống, nên khi lập BCTC hợp nhất, bộ phận kế tốn phải mất nhiều thời  



gian đối chiếu khớp đúng từng loại vật tư, hàng hố, TSCĐ giữa bên mua và bên bán để  loại trừ 



doanh thu, giá vốn nội bộ  và xác định đúng giá trị  vật tư  hàng hố còn tồn kho trong cùng một hệ 



thống tại thời điểm cuối kỳ. Trong khi đó khối lượng giao dịch và các chủng loại vật tư, hàng hố  

giao dịch trong nội bộ tại một số đơn vị là rất lớn như HPG và VNSTEEL.



­ Cơng tác theo dõi vật tư, hàng hố nhập mua nội bộ  trong hệ  thống của VNSTEEL còn hạn  



chế. Lượng hàng tồn kho nội bộ thực tế sẽ bao gồm lượng hàng tồn kho cuối kỳ trước chưa bán hết 



ra ngồi trong kỳ  này và HTK cuối kỳ  của kỳ  này. Tuy nhiên, tại VNSTEEL, lợi nhuận chưa thực  



hiện trong HTK cuối kỳ được xác định là chỉ nằm trong lượng HTK cuối kỳ này với giả định lượng  



HTK cuối kỳ trước (đầu kỳ này) đã được bán hết trong kỳ. Việc phản ánh như trên dẫn đến số liệu 



trong bút tốn điều chỉnh lợi nhuận chưa thực hiện trong HTK năm trước trong năm báo cáo và hồn 



nhập thuế  TNDN hỗn lại năm trước khơng chính xác, khơng phản ánh đúng đắn KQKD hợp nhất 

của VNSTEEL.



Bên cạnh đó, để đơn giản hố việc theo dõi xuất vật tư, hàng hố xuất mua nội bộ, VNSTEEL  



giả  định khi xuất vật tư  thì áp dụng ngun tắc  ưu tiên xuất vật tư, hàng hố mua nội bộ  trong  



VNSTEEL trước, sau đó mới xuất vật tư hàng hố nhập từ các đơn vị khác. Tuy nhiên thực tế các đơn  



vị trong hệ thống của VNSTEEL đều áp dụng phương pháp bình qn gia quyền để tính giá vốn xuất 



kho. Việc áp dụng quy định ưu tiên xuất vật tư hàng hố theo phương pháp trên mâu thuẫn với ngun 



tắc tính giá mà các đơn vị đang áp dụng, do vậy ảnh hưởng đến sự  trung thực và tính chính xác của 

các



 



thơng



 



tin



 



trên



 



BCTC



 



hợp nhất.



Ngồi ra, việc loại trừ các giao dịch nội bộ tại các đơn vị còn chưa hồn tồn triệt để. Kết quả 



khảo sát cho thấy có đến 33,3% các đơn vị  còn chưa loại trừ hồn tồn các giao dịch nội bộ, 66,7%  



đơn vị đã loại trừ hồn tồn các giao dịch nội bộ. Việc chưa loại trừ triệt để các giao dịch nội bộ chủ 



133



yếu diễn ra  ở các đơn vị  có quy mơ hoạt động lớn, số  lượng các giao dịch nhiều, quy mơ các giao 

dịch lớn.

 Về xác định lợi thế thương mại:



Khi phát sinh các giao dịch mua hình thành quan hệ  "cơng ty mẹ  ­ cơng ty con", các đơn vị  đã 



khơng thực hiện việc đánh giá lại tài sản, nợ phải của cơng ty con theo giá trị hợp lý mà sử dụng giá  



trị ghi sổ để tính tốn giá trị tài sản thuần của cơng ty con và xác định giá trị lợi thế thương mại. Điều  



này khơng chỉ   ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định chính xác lợi thế  thương mại phát sinh mà còn  



ảnh hưởng đến giá trị tài sản và cơng nợ phải trả của cơng ty con. Hậu quả của việc này là làm cho 



giá trị lợi thế thương mại bị thổi phồng từ đó ảnh hưởng đến sự trung thực và hợp lý của số liệu của  

một số chỉ tiêu trên BCTC hợp nhất.

2.3.2.2. Về cơng tác trình bày BCTC hợp nhất 



Về cơ bản, cơng tác trình bày BCTC hợp nhất tại các đơn vị thuộc SPCs đã đáp ứng các quy định  



hiện hành. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, cơng tác lập BCTC hợp nhất tại SPCs vẫn còn một số 

tồn tại trong việc trình bày một số nội dung trên TMBCTC hợp nhất cần khắc phục. 

­



Về  tên gọi các mục trong bản thuyết minh : Tên gọi của một số  mục trong TMBCTC hợp  



nhất chưa được sử dụng một cách thống nhất, đặc biệt là:

 Phần thứ nhất về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp;

 Và phần thứ hai về chế độ và các chính sách kế tốn của TMBCTC hợp nhất. 



Ví dụ: Trong phần thứ nhất của TMBCTC hợp nhất các đơn vị sử dụng nhiều tiêu đề khác nhau 

như: 

Đơn vị báo cáo,

Thơng tin chung, 

Thơng tin cơng ty, hoặc

Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp



Để thuyết minh những vấn đề chung (tên gọi, lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính, cấu trúc, tỷ 

lệ biểu quyết, tỷ lệ lợi ích...) của nhóm cơng ty hoặc Tập đồn.



134



­

khơng



Về kết cấu các mục trong bản thuyết minh: Kết cấu các mục trong TMBCTC hợp nhất cũng 

 



được



 



áp



 



dụng



 



nhất



 



qn



 



giữa



 



các



 



đơn



 



vị



 



thuộc SPCs.



Ví dụ: Trong khi đa số các đơn vị sử dụng mục số 2 của thuyết minh để  trình bày các nội dung 



về: Chế  độ  và các chính sách kế  tốn các nội dung về  kỳ kế  tốn, chế  độ  kế  tốn, niên độ  kế  tốn,  



hình thức kế tốn áp dụng, tun bố tn thủ CMKT Việt Nam... thì có đơn vị lại tách riêng nội dung  

này để trình bày thành nhiều mục độc lập.



Những tồn tại trên ảnh hưởng đến tính nhất qn và thống nhất của bản TMBCTC hợp nhất, từ 



đó gây khó khăn đối với các đối tượng sử dụng thơng tin trong thuyết minh để  phân tích và đánh giá 

về tình hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

­



Về báo cáo bộ phận: Theo đánh giá của tác giả, đây là nội dung còn nhiều hạn chế, thậm chí  



có thể nói đây là điểm yếu nhất trong các nội dung khác trình bày trong TMBCTC hợp nhất. Hầu hết  



các đơn vị còn chưa nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của báo cáo bộ phận trong TMBCTC  



hợp nhất nên trình bày chủ yếu nhằm mục đích đối phó với các cơ quan quản lý nhà nước. Hầu hết 



các đơn vị lập báo cáo bộ phận khơng đầy đủ các chỉ tiêu, cá biệt một số đơn vị khơng lập báo cáo bộ 

phận mặc dù đáp ứng đầy đủ điều kiện để lập báo cáo bộ phận trong TMBCTC hợp nhất. 



Ví dụ: Cơng ty cổ phần Pomina có hệ thống kinh doanh rộng khắp cả nước và có hoạt động kinh  



doanh xuất khẩu thép (chiếm 20% tổng doanh thu), đối chiếu với u cầu của chuẩn mực có thể thấy  



cơng ty thỏa mãn u cầu lập báo cáo bộ phận theo khu vực địa lý. Tuy nhiên, thực tế là cơng ty khơng 



trình bày báo cáo bộ phận trong TMBCTC hợp nhất. Hay như tr ường h ợp VNSTEEL, đơn vị này hoạt 



động SXKD trong nhiều lĩnh vực ngồi 02 lĩnh vực là SXKD thép và giao nhận. Tuy nhiên, báo cáo bộ 



phận của đơn vị trình bày trong TMBCTC hợp nhất cũng chỉ thuyết minh báo cáo bộ phận theo 2 lĩnh 

vực này, ngồi ra các chỉ tiêu thuyết minh cũng khơng được đơn vị trình bày đầy đủ.

2.3.3. Ngun nhân của những tồn tại



Có nhiều ngun nhân khác nhau dẫn đến những hạn chế trong q trình lập BCTC hợp nhất tại  



các đơn vị thuộc SPCs, bao gồm cả những ngun nhân khách quan và ngun nhân chủ quan. Có thể 

kể ra một số ngun nhân chủ yếu như sau:

Thứ nhất: Do khung pháp lý về BCTC hợp nhất còn bất cập



135



Khi lập và trình bày BCTC hợp nhất tại Việt Nam, các doanh nghiệp phải tn thủ theo các quy 



định của hệ thống các văn bản điều chỉnh từ  Luật kế  tốn, đến các chuẩn mực, thơng tư  và chế  độ 



kế tốn. Các văn bản điều chỉnh cơng tác kế tốn lập BCTC hợp nhất tại Việt Nam được chia làm 2 

giai đoạn:

­ Giai đoạn trước năm 2015: 



Khung pháp lý về  kế  tốn lập và trình bày BCTC hợp nhất tại Việt Nam trong giai đoạn này 

được quy định và điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản sau:



 Luật kế  tốn số  03/2003/QH11, được Quốc hội ban hành ngày 17/06/2003 điều chỉnh tồn bộ 

các vấn đề liên quan đến cơng tác kế tốn.



 CMKT: Các chuẩn mực này do Bộ  Tài chính ban hành quy định các ngun tắc phương pháp  



lập và trình bày BCTC hợp nhất gồm: VAS số  07: Kế tốn các khoản đầu tư  vào cơng ty liên kết; 



VAS số 08: Thơng tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh; VAS số 10: Ảnh hưởng của việc 



thay đổi tỷ giá hối đối; VAS số 11: Hợp nhất kinh doanh; VAS số 21:  Trình bày BCTC; VAS số 24: 

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; VAS số 25: BCTC hợp nhất và kế tốn khoản đầu tư vào cơng ty con; 



 Chế  độ  kế  tốn ban hành theo Quyết định số  15/2006/QĐ­BTC ngày 20/03/2006, hướng dẫn  

tồn bộ các vấn đề liên quan đến cơng tác kế tốn tại doanh nghiệp.

 Các thơng tư hướng dẫn thực hiện các CMKT BCTC hợp nhất gồm: Thơng tư  số  23/2005/TT­

BTC; thơng tư số 20/2006/TTT­BTC ngày 20/03/2006, thơng tư 161/2007/TT­BTC, thơng tư 244/2009/TT­



BTC và một số văn bản quy phạm pháp luật khác quy định chi tiết, cụ thể hố các vấn đề liên quan đến  

lập và trình bày BCTC hợp nhất đã được quy định trong các chuẩn mực và chế độ kế tốn. 



Khung pháp lý giai đoạn này đã ra đời được hơn 10 năm và được xây dựng dựa trên nền tảng của 



các CMKT quốc tế  lúc đó bao gồm IAS 27 và IFRS 3. Các quy định trong giai đoạn này đã đặt nền 



tảng ban đầu cho cơng tác kế tốn lập BCTC hợp nhất và góp phần quan trọng đáp ứng sự phát triển  



của cơng tác kế  tốn tại Việt Nam. Tuy nhiên trải qua q trình phát triển, các quy định trong giai  



đoạn này đã trở  nên lạc hậu và chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Những bất cập chủ  yếu về 



khung pháp lý trong giai đoạn này có thể kể đến như: (i) Quyền kiểm sốt: Chưa đề  cập đến quyền 



kiếm sốt tiềm năng trong quy định về quyền kiểm sốt; (ii) Loại trừ giao dịch nội bộ: Điều chỉnh các 



136



giao dịch nội bộ quy định mới chỉ  u cầu loại trừ đối với các cơng ty con mà chưa được thực hiện  



với và cơng ty liên kết; (iii) Lợi thế thương mại: Chỉ tính phần sở  hữu cho cơng ty mẹ  mà chưa đề 



cập đến phần sở  hữu của cổ  đơng khơng kiểm sốt, vẫn quy định áp dụng phân bổ  lợi thế  thương  



mại với thời gian khơng q 10 năm trong khi chuẩn mực quốc tế và chuẩn hầu hết các quốc gia khác 



đã chuyển sang phương pháp đánh giá suy giảm; (iv) Lợi ích của cổ đơng khơng kiểm sốt: Việc phân 



bổ  giá trị của khoản lỗ vượt q giá trị phần vốn của cổ đơng khơng kiểm sốt vẫn được tính giảm  



vào lợi ích của cơng ty mẹ  là chưa phù hợp, sử  dụng thuật ngữ cổ đơng thiểu số  chưa phù hợp, dễ 



gây hiểu nhầm; (v) Ngồi ra còn nhiều còn nhiều vấn đề  khác còn bỏ  ngỏ  quy định và hướng dẫn 



như: Tập đồn đa cấp, sở hữu chéo, các giao dịch với cổ đơng khơng kiểm sốt làm mất quyền kiểm  



sốt của cơng ty mẹ, hoặc khơng làm mất quyền kiểm sốt, trích lập dự phòng cơng nợ phải thu nội  

bộ Tập đồn…



Về trình bày BCTC hợp nhất: Các quy định về  cách thức và nội dung trình bày BCTC hợp nhất  



dựa trên những hướng dẫn của CMKT Việt Nam số 21 – “ Trình bày BCTC” và hướng dẫn bổ  sung 



một số  chỉ  tiêu khác biệt so với BCTC thơng thường bằng các thơng tư  hướng dẫn (thơng tư  số 



23/2005/TT­BTC, thơng tư 161/2007/TT­BTC). Chính việc hướng dẫn như vậy dẫn đến việc trình bày 



các nội dung trên BCTC hợp nhất giữa các doanh nghiệp thường khơng thống nhất đặc biệt là trong  



phần TMBCTC hợp nhất. Do đó đã gây khó khăn cho cơng tác trình bày BCTC hợp nhất cũng như đối 



với các đối tượng sử dụng thơng tin và ảnh hưởng đến chất lượng thơng tin trình bày trên BCTC hợp  

nhất.

­ Giai đoạn sau năm 2015:



Trong giai đoạn này các văn bản hướng dẫn khung pháp lý bao gồm: Luật kế tốn sửa đổi được 



quốc hội thơng qua ngày 20/11/2015, CMKT giống so với trước giai đoạn năm 2015. Tuy nhiên điểm  

khác biệt lớn nhất là việc ban hành thơng tư số  202/2014/TT­BTC thay thế thơng tư số  161/2007/TT­



BTC hướng dẫn tồn bộ cơng tác kế tốn lập BCTC hợp nhất dựa trên những một số quan điểm mới 



và sự thay đổi của CMKT quốc tế. Thơng tư này được ban hành để khắc phục những bất cập và tồn  



tại đối với hệ thống khung pháp lý về lập BCTC hợp nhất trong giai đoạn trước năm 2015. Việc ban  



hành thơng tư này đã giúp khắc phục một cách cơ bản những nhược điểm của các quy định trong giai  



đoạn trước năm 2015 và bám sát với những sửa đổi, cập nhật trong những năm gần đây của CMKT 



quốc tế. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, việc sửa đổi bổ sung vẫn còn một số hạn chế nhất định 



như: (i) sự  thiếu đồng bộ  trong tổng thể  khung pháp lý về  BCTC hợp nhất, trong khi các văn bản 



137



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (221 trang)

×