1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (968.76 KB, 92 trang )


8

trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả  sinh mạng, vậy nên 

“Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ”. [13]

Quan điểm mác ­ xít về tơn giáo khơng dừng lại ở vấn đề  bản chất, nguồn  

gốc, chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ  ra thái độ,  

ngun tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tơn giáo.

Về thái độ của người cộng sản đối với tơn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới  

thống nhất ở tính vật chất, ngồi ra khơng có thế giới nào khác ngồi vật chất đang 

tồn tại và đương nhiên khơng có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngồi những đam 

mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác ­ Lênin khơng bao  

giờ chủ trương tun chiến với tơn giáo, mà ngược lại ln tơn trọng niềm tin tơn 

giáo của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo khơng phải là kẻ phỉ báng thần  

thánh của quần chúng mà chỉ là người đồng tình với quan điểm quần chúng, người 

sáng tạo ra thần thánh.

Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác ­ Lênin mâu thuẫn tuyệt đối với  

đức tin tơn giáo, do đó khơng có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội và tơn giáo và  

lập  luận  này  là  khơng   đúng,  vì   đã  chủ  quan   đẩy  mâu  thuẫn,  từ   mâu  thuẫn   ở 

phương diện nhận thức ­ khơng đối kháng, trở thành mâu thuẫn đối kháng.

Lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng “Thiên đường” nơi trần 

thế bằng bàn tay và khối óc của chính con người. Tuy vậy, người cộng sản khơng  

hề  có chủ  trương phủ  nhận tơn giáo mà thừa nhận nó như  một nhu cầu tất yếu 

của một bộ phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử. Hơn nữa, tơn giáo 

và chủ  nghĩa xã hội có điểm tương đồng là đều mong muốn có một xã hội hạnh 

phúc, cơng bằng, bác ái, lấy điều thiện thắng điều ác.

“Đối với chúng ta, sự  thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự  cách mạng đó 

của giai cấp bị áp bức để sáng tạo nên một cảnh cực lạc trên trái đất, là quan trọng 

hơn sự  thống nhất ý kiến của những người vơ sản về  cảnh cực lạc trên thiên 

đường” [80, tr.174  ]. Rồi nữa, “Trong cương lĩnh của chúng ta, chúng ta khơng 

tun bố  và chúng ta khơng nên tun bố  chủ  nghĩa vơ thần của chúng ta... Khắp 



9

nơi bọn tư sản phản động đã chú trọng...  khêu lên những sự  thù hằn tơn giáo, để 

làm cho quần chúng chú ý về  phía đó, khiến họ  khơng để  ý đến những vấn đề 

chính trị  và kinh tế  thật sự  quan trọng và chủ  yếu, những vấn đề  mà giai cấp vơ  

sản tồn nước Nga, thực tế đồn kết lại với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng 

của mình, hiện đang giải quyết” [80, tr.174­175 ]. 

C.Mác và Ph.Ăng ghen từng căn dặn người cộng sản: “Khơng thể  đả  kích 

tơn giáo dưới hình thức thù địch cũng như  dưới hình thức khinh bạc, chung cũng 

như riêng. Nghĩa là, nói chung khơng được đả kích vào nó”. [20, tr. 23]

Sau này, Lênin cũng viết: “Còn như tun chiến với tơn giáo, coi đó là nhiệm 

vụ  chính trị  của đảng cơng nhân, thì đó chỉ  là một luận điệu vơ chính phủ  chủ 

nghĩa”. [81, tr.511.]

Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác ­ xít, Nhà nước của giai cấp vơ 

sản nên xem tơn giáo là việc tư nhân, nghĩa là khơng nên phê phán những vấn đề 

thuộc thế  giới bên kia. Chuyện có thiên đường địa ngục, thần này thánh khác là 

vấn đề của thần học, của tơn giáo. Nhưng với tư  cách là chủ  thể  quản lý xã hội, 

trong đó có tơn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề liên  

quan đến tơn giáo, đó là Pháp luật và chính trị. 

Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta chưa bao  

giờ  có chủ  trương tiêu diệt tơn giáo, phủ  nhận thượng đế  của người có đạo, mà 

ln tơn trọng quyền tự  do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự  đối xử  vì lý do  

tín ngưỡng, tơn giáo.

Vậy khi   giải  quyết   vấn  đề   tơn giáo,  chúng ta  cần phải  đứng  vững trên  

những ngun tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác ­ xít, được khái qt trên 

4 ngun tắc sau:

Một: Khắc phục dần những  ảnh hưởng tiêu cực của tơn giáo phải gắn liền  

với q trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Ngun tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức và tác  

động vào tơn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xố bỏ  tình trạng nơ lệ  về  mặt kinh  



10

tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tơn giáo” [80, tr. 175]. Hay 

nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân  

tồn tại xã hội; muốn xố bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xố  

bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực khơng 

có áp bức, bất cơng, nghèo đói và thất học... cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất  

nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một q trình lâu dài, đòi hỏi 

phải khai thác và phát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng  

bào các tơn giáo. 

Hai: Tơn trọng và bảo đảm quyền tự  do tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng  

của nhân dân. 

Các nhà kinh điển Mác ­ xít quan tâm khơng chỉ  tơn trọng quyền tự  do tín  

ngưỡng, mà còn cả  quyền tự  do khơng tín ngưỡng.   Tơn trọng quyền tự  do tín 

ngưỡng và khơng tín ngưỡng sẽ  bảo đảm quan hệ  tốt đẹp giữa những người vơ 

thần và hữu thần, giữa những người có tín ngưỡng tơn giáo khác nhau.  Nội dung 

căn bản của quyền tự do tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng là:

­ Mọi cơng dân có quyền theo đạo, truyền đạo hoặc bỏ đạo; được hồn tồn  

tự do theo tơn giáo mình thích hoặc khơng theo một tơn giáo nào. 

­ Tất cả mọi cơng dân có tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng đều bình đẳng về 

nghĩa vụ và quyền lợi.

­ Tất cả mọi tơn giáo được cơng nhận tư cách pháp nhân đều bình đẳng như 

nhau. Nhà nước khơng coi tơn giáo nào là quốc đạo.   

Tuy nhiên cần chú ý rằng: Tơn trọng quyền tự do tín ngưỡng đồng thời phải  

chống lại những kẻ  lợi dụng tơn giáo vì mục đích phi tơn giáo, mặt khác, khơng 

dung túng cho những kẻ hành nghề mê tín dị đoan.

Ba: Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tơn giáo.           

Ngun tắc này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nó đòi hỏi chủ  thể  lãnh  

đạo, quản lý xã hội khi giải quyết vấn đề  tơn giáo phải phù hợp với khơng gian,  



11

thời gian cụ  thể, như  Lênin đã nhắc nhở: “Người mác ­ xít phải biết chú ý đến 

tồn bộ tình hình cụ thể” [81, tr. 518]   

Bốn: Cần phân biệt hai mặt: nhu cầu tín ngưỡng, tơn giáo và việc chính trị  

lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo.

Việc phân biệt vấn đề  chính trị  và tư  tưởng trong các hoạt động tơn giáo  

trên thực tế là vấn đề  khơng đơn giản, nhưng lại đòi hỏi phải phân biệt rõ, từ  đó  

mới có giải pháp chính xác. Trong đó, mặt nhu cầu tín ngưỡng, tơn giáo phải được  

giải quyết bằng chính sách tự  do tín ngưỡng, tơn giáo; còn mặt chính trị  lợi dụng 

tín ngưỡng, tơn giáo phải được giải quyết bằng giải pháp chính trị. Việc áp dụng 

lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như  tuyệt đối hố một loại giải pháp nào đó đều 

là tai hại cho cả tơn giáo và cho chính trị cầm quyền.

Kế  thừa và vận dụng quan điểm của Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin về  tơn giáo, 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này. 

Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tơn giáo là sự vận 

dụng sáng tạo và phát triển Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin vào hồn cảnh lịch sử  cụ  thể 

của Việt Nam. Với Người, “Bây giờ  học thuyết nhiều, chủ  nghĩa nhiều, nhưng  

chủ  nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ  nghĩa Lênin” 

[46, tr.268]. Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hố của dân tộc Á ­ Đơng, 

Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý  

nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó  

chưa phải là tồn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của  

nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đơng. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xơ 

viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tơi vừa nhận được thư   mời chúng tơi 

tham gia cơng tác này)” [45, tr.465].

Cũng trên quan điểm duy vật về  lịch sử  của chủ nghĩa Mác­Lênin, Hồ  Chí  

Minh ln nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể 

giải quyết được vấn đề  tơn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ  nhấn mạnh: Tơn giáo 



12

khơng hề đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tơn giáo  

theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”. 

Trong  ứng xử  với tín đồ, chức sắc tơn giáo, Người thể  hiện nổi bật tư 

tưởng hồ hợp, khoan dung, đó là sự cảm thơng, chấp nhận và tơn trọng cái dị biệt, 

miễn là khơng trái với lợi ích chung của dân tộc, từ  đó mà đạt được mục tiêu  

tương đồng. Chính vì thế, đồng bào Phật tử  thấy Hồ  Chí Minh như  "Hiện thân"  

của vị  “Bồ  tát Qn Thế  Âm”  vì   "nhân dun" dân tộc Việt Nam đau thương  

"trầm ln" trong nỗi nhục mất nước  ở cõi "Sha­ bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn.  

Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ  Chí Minh được gán 

với quả vị Phật giáo, là Bồ tát Hồ Chí Minh. Còn đồng bào đạo Cơng giáo và đạo  

Tin lành ln khâm phục và cảm động về việc, Người đã nguyện hy sinh cho Việt  

Nam độc lập, cho thế  giới hồ bình, nên thấy Người như  bóng dáng của  "Đức  

Chúa Ki­Tơ” hy sinh thân mình để cứu chuộc nhân loại. 

Tư   tưởng   Hồ   Chí   Minh   về   tơn   giáo   với   tính   cách   là   những   quan   điểm, 

nguyên tắc, tác giả khái quát như sau: 

Thứ  nhất, xử  lý đúng đắn mối quan hệ  giữa tơn giáo với dân tộc, tơn giáo 

với cách mạng và tơn giáo với giai cấp, đó phải là nội dung cốt lõi trong chủ 

trương, chính sách tơn giáo của cách mạng Việt Nam. 

Thứ  hai, ln phải có tinh thần vận dụng, phát triển ngun lý chủ  nghĩa 

Mác ­ Lênin và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác về  vấn đề  tơn giáo, 

xem đó là cơ  sở  quyết định cho việc xây dựng đường lối, chủ  trương, chính sách 

tơn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, tơn trọng tự do tín ngưỡng phải đi đơi với đấu tranh chống mọi âm 

mưu lợi dụng tơn giáo; phải khắc phục những mặc cảm tơn giáo, những hành vi 

làm tổn thương đến tình cảm quần chúng tín đồ.

Tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  tơn giáo đã bổ  sung cho Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin 

và nó có sức sống từ thực tiễn của đất nước, dân tộc ta, để  người cộng sản Việt  

Nam có thái độ mềm mại hơn, khách quan hơn đối với tơn giáo. 



13

1.1.2. Quản lý nhà nước đối với tơn giáo

1.1.2.1. Khái niệm "Quản lý nhà nước" và “Quản lý nhà nước đối với  

tơn giáo”

Khái niệm “quản lý nhà nước” được hiểu ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử 

dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các q trình xã hội và hành vi hoạt động  

của con người do tất cả  các cơ  quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư  pháp) 

tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội.

Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực  

Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của  

các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp).

Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia  

đã nêu: QLNN là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư 

pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý 

xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều  

chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người [38].

Vậy, chủ  thể  QLNN là các cá nhân hay tổ  chức mang quyền lực Nhà nước 

tác động tới đối tượng quản lý. Còn đối tượng QLNN là tồn bộ  cơng dân Việt 

Nam và những người khơng phải là cơng dân Việt Nam đang sống, làm việc trên 

lãnh thổ Việt Nam cùng tồn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Từ  các khái niệm quản lý nhà nước như  trên, khái niệm quản lý nhà nước  

đối với tơn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.

Nghĩa rộng: Đó là q trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành 

pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để tác động,  

điều chỉnh, hướng các q trình tơn giáo và hành vi hoạt động tơn giáo của tổ chức,  

cá nhân tơn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý.

Nghĩa hẹp: Đó là q trình chấp hành pháp luật và tổ  chức thực hiện pháp  

luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ  và UBND các cấp) để 



14

điều chỉnh các q trình tơn giáo và mọi hành vi hoạt động tơn giáo của tổ chức, cá  

nhân tơn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật.

Theo đó, QLNN đối với tơn giáo  ở  cả  2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung, 

trước hết và chủ  yếu là quản lý các “hoạt động tơn giáo”. Cụ  thể  hơn, đó là các 

hoạt động tơn giáo liên quan,  ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống  

xã   hội.   Hoạt   động   đó   là   gì?   Về   việc   này,   tại   khoản   5,   điều   3   Pháp   lệnh   tín 

ngưỡng, tơn giáo đã nêu: “Hoạt động tơn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý,  

giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tơn giáo”[77, tr.2].

Truyền bá giáo lý, giáo luật  (còn gọi là truyền đạo) là việc tun truyền 

những lý lẽ  về  sự  ra đời, về  luật lệ  tơn giáo. Thơng qua hoạt động truyền đạo,  

niềm tin tơn giáo của tín đồ  được củng cố, luật lệ  của tơn giáo được các tín đồ 

thực hiện. Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ  hiểu, tin 

và theo tơn giáo. Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố  và phát triển tín  

đồ. Tất nhiên, việc truyền đạo phải tn thủ  các quy định của pháp luật và nội  

dung, phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tơn giáo đó.

Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, 

chức sắc, nhà tu hành tơn giáo thể  hiện sự  tn thủ  nghiêm ngặt những quy định, 

phép tắc, thoả mãn đức tin tơn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ.

Hoạt động quản lý tơn giáo là các tổ  chức, giáo hội tơn giáo thực hiện các 

quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tơn giáo, đảm 

bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tơn giáo.

Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo 

với hoạt động hành đạo cũng chỉ  là tương đối, có khơng ít trường hợp trong hoạt  

động hành đạo có hoạt động truyền đạo.

Từ  đó chúng ta thấy, chủ  thể  QLNN về  tơn giáo  nếu theo nghĩa rộng của 

khái niệm, thì đó là các cơ  quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và  

tư  pháp; còn theo  nghĩa hẹp, nó chỉ  gồm các cơ  quan nhà nước thuộc hệ  thống 

hành pháp các cấp.



15

Còn khách thể  QLNN đối với tơn giáo, đó là hoạt động tơn giáo của các tổ 

chức tơn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.  Là cơng dân Việt Nam, tín đồ, 

chức sắc tơn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt 

Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo. 

Chúng tơi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tơn 

giáo”, hoặc “QLNN về  tơn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt  

động tơn giáo”.

Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tơn giáo, tín đồ, đó là những người tin theo một  

tơn giáo và được tổ chức tơn giáo thừa nhận. Chức sắc tơn giáo là tín đồ  có chức 

vụ, phẩm sắc trong tơn giáo. Còn nhà tu hành, đó là tín đồ  tự  nguyện thực hiện 

thường xun nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tơn giáo mà mình tin theo. 

[77, tr.2]. Người làm cơng tác QLNN đối với tơn giáo, với họ,  có một đòi hỏi bắt  

buộc là phải nắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắc các tơn giáo, với tư cách 

là khách thể QLNN.

Ở nước ta, tín đồ tơn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nơng dân, vốn có bản 

chất cần cù lao động, có lòng u nước nồng nàn, căm thù kẻ  xâm lược và tầng  

lớp bóc lột. Song bên cạnh đó, do cả  vơ thức và ý thức, một số  tín đồ  hoạt động 

tơn giáo chưa tn thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe  

theo kẻ xấu tham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tơn giáo. Một đặc điểm  

khác là, trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng khơng đồng nhất) giữa mặt  

cơng dân và mặt tín đồ. Là cơng dân, họ  có mọi quyền và nghĩa vụ  đối với nhà 

nước như  mọi cơng dân khác. Là người có tín ngưỡng tơn giáo, họ  có niềm tin  ở 

Chúa, Phật..., có quyền lợi và trách nhiệm đối với giáo hội. Đây chính là đặc điểm 

quan trọng cần phải nắm vững.

Còn chức sắc, nhà tu hành tơn giáo cũng có những đặc điểm chung của một  

tín đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng. Đó là: Họ là những người được tổ chức 

tơn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, nên có năng lực quản đạo và trình độ thần học  

cao; được tổ  chức tơn giáo phong chức, phong phẩm. Họ  đại diện  ở  những mức  



16

độ  khác nhau cho các tổ  chức tơn giáo. Họ  vừa chăn dắt tín đồ, vừa quản lý nền  

hành chính đạo theo thẩm quyền. Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất 

gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tự, nguyện vọng của tín đồ. Như  thế, họ  có vị  trí, 

vai trò và  ảnh hưởng rất lớn, rất sâu sắc trong tín đồ, được tín đồ  u q, trân 

trọng và bảo vệ.

Tiếp nữa, người làm cơng tác quản lý nhà nước về tơn giáo cũng phải nắm 

vững đặc điểm của tổ chức tơn giáo. Đó là: Tổ chức tơn giáo điều hành các hoạt 

động tơn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với các tổ chức  

khác có liên quan. Mỗi tơn giáo có bộ  máy tổ  chức riêng, hoạt động theo hiến  

chương, điều lệ của mình. Các tơn giáo có tư cách pháp nhân đều thể hiện đường 

hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đa số  các tổ  chức tơn giáo có  

liên hệ đồng đạo với tổ chức tơn giáo nước ngồi. 

Ngồi ra, khách thể QLNN về tơn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụ các 

sinh hoạt tơn giáo. Trong đó, cơ sở thờ tự khơng đơn giản chỉ là một thực thể vật  

chất, mà còn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa... Còn đồ  dùng việc  

đạo như kinh sách, tượng thờ, tranh ảnh, hồnh phi, câu đối, lư hương, chng mõ,  

nhạc cụ,…mỗi thứ có chức năng, cơng dụng riêng trong sinh hoạt tơn giáo, nhưng 

đều có đặc điểm là có giá trị  vật chất và có ý nghĩa biểu đạt. Ngồi ra, phục vụ 

cho sinh hoạt tơn giáo cộng đồng còn có vườn hoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ 

thiện, nhà trẻ, bệnh xá,… Nó là tài sản của giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt  

động tơn giáo, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho 

tổ chức tơn giáo quản lý.

Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là một u  

cầu tiên quyết đối với chủ  thể  quản lý, giúp cho cơng tác QLNN về  tơn giáo có 

hiệu lực mạnh và hiệu quả cao.

Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân 

tơn giáo.  Pháp nhân tơn giáo,  đó  là bộ  máy tổ  chức tơn giáo đã được Nhà nước  



17

cơng nhận. Còn thể nhân tơn giáo, đó là cá nhân tơn giáo (tín đồ) được tổ chức tơn giáo 

cơng nhận.

1.1.2.2. Tính tất yếu tăng cường QLNN đối với tơn giáo 

Vì sao phải tăng cường cơng tác QLNN đối với tơn giáo, việc này được xuất 

phát từ các lý do khách quan và cơ bản.

Thứ  nhất, hoạt động tơn giáo có liên quan đến tất cả  các lĩnh vực của đời  

sống xã hội, do đó, với chức năng quản lý xã hội của mình, để đảm bảo cho xã hội  

ổn định, phát triển bình thường, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các  

hoạt động tơn giáo.

Thứ hai, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo diễn ra trên tất cả các lĩnh 

vực của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tơn giáo, vậy để  đường lối, chính 

sách, pháp luật được hiện thực hố, để đồng bào có và khơng có tơn giáo đồn kết 

trong khối đại đồn kết tồn dân tộc, tạo động lực cho sự  thành cơng của cơng  

cuộc cơng nghiệp hố, hiện đại hố, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt  

động tơn giáo.

Thứ  ba, các thế  lực thù địch ln tìm mọi cách lợi dụng tơn giáo hống phá  

cách mạng, vậy để đập tan âm mưu đó và để đồng bào lương ­ giáo tích cực tham 

gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các  

hoạt động tơn giáo.

Thứ tư, Việt Nam mở cửa, hội nhập để phát triển, theo đó, các thế lực thù địch 

cũng thơng qua con đường hợp tác, liên doanh, du lịch... thâm nhập vào những vùng 

nhạy cảm về tơn giáo, mua chuộc một số chức sắc, tín đồ tơn giáo, vậy để hội nhập 

quốc tế  có nhiều thành cơng, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động 

tơn giáo.

1.1.2.3. Mục tiêu, ngun tắc và nội dung của QLNN về tơn giáo

Nội dung cơ  bản của QLNN về  tơn giáo được ghi nhận tại Pháp lệnh tín  

ngưỡng, tơn giáo và được cụ  thể  hố tại Nghị  định số  22 của Chính phủ, hướng  



18

dẫn thực hiện Pháp lệnh trên. Còn trước Pháp lệnh tín ngưỡng, tơn giáo, Nhà nước  

ta mới chỉ có Nghị định số 69 (năm 1991), Quy định về các hoạt động tơn giáo, và 

Nghị  định số  26 (năm 1999), Về  các hoạt động tơn giáo. Như  vậy, cho đến thời 

điểm này, cơng cụ trực tiếp cho QLNN về tơn giáo chính là Pháp lệnh tín ngưỡng,  

tơn giáo, còn luật thì chưa có.

Vì thế vừa qua tại Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI của Đảng, ở  nội 

dung tơn giáo, Báo cáo chính trị đã nêu: “Tiếp tục hồn thiện chính sách, pháp luật  

về tín ngưỡng, tơn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị 

văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tơn giáo; động viên các tổ  chức tơn giáo, chức  

sắc, tín đồ  sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho cơng cuộc xây  

dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tơn giáo  

sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ  của các tổ  chức tơn giáo đã được nhà nước 

cơng nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ  động phòng ngừa, kiên 

quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để mê hoặc, chia  

rẽ, phá hoại khối đồn kết dân tộc” [33, tr.245].

Còn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước ­ bổ  sung, phát triển, năm 2011, 

khẳng định: “Tơn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo và khơng tín  

ngưỡng, tơn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử  lý 

nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tơn giáo và lợi dụng tín 

ngưỡng tơn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [33, tr.81].

Theo đó, quan điểm về vấn đề tơn giáo tại đây có những điểm mới là  “Tiếp 

tục hồn thiện chính sách, pháp luật về  tín ngưỡng, tơn giáo phù hợp với quan  

điểm của Đảng”; “quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ  chức tơn giáo sinh  

hoạt theo hiến chương, điều lệ  của các tổ  chức tơn giáo đã được nhà nước cơng 

nhận, đúng quy định của pháp luật”. 

Từ đó, cơng tác QLNN về tơn giáo, từ mục tiêu, ngun tắc và nội dung cho 

đến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ  sung cho phù hợp với quan 

điểm của Đảng. Về mục tiêu, theo chúng tơi, đó là:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×