1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (968.76 KB, 92 trang )


33

Ngồi ra, còn có một số văn bản hướng dẫn của Nhà nước và các Bộ, ngành  

liên quan, như: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hố­Thơng tin, số 72/1998/QĐ­

BVHTT, ngày 17/01/1998, Ban hành quy chế  tạm thời về  xuất bản các xuất bản  

phẩm tơn giáo; Thơng báo số  184 TB/TƯ, ngày 31/11/1998, của Thường vụ  Bộ 

Chính trị và thơng báo số 225 TB/TƯ, ngày 7/10/1999 của Bộ Chính trị (khố VIII), 

về chủ trương đối với đạo Tin Lành trong tình hình mới; Quyết định số  125/QĐ­

TTg của Chính phủ về chương trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban  

chấp hành Trung ương Đảng khố IX...

Các văn bản trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tơn giáo 

và mang tính đổi mới hơn nhiều so với trước. Nó là cơ  sở  pháp lý trực tiếp để 

Tỉnh  ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ  đạo, triển khai cơng tác tơn giáo nói chung và 

cơng tác QLNN đối với tơn giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh mình.

Cụ   thể,  ngày   23/8/1999,   UBND   tỉnh   Bắc   Ninh   ban   hành   Kế   hoạch   số 

23/1999/KH­UB, về việc thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ­CP, ngày 19/4/1999,  

của Chính phủ  Về  các hoạt động tơn giáo. Kế  hoạch này đã phân định rõ trách 

nhiệm của từng ngành, từng cấp trong cơng tác tơn giáo và xác định nhiệm vụ  cụ 

thể  cho Ban Tơn giáo tỉnh, với tư cách là cơ  quan chun mơn có chức năng tham 

mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về tơn giáo trên địa bàn.

Sau khi có Nghị quyết số 24­NQ/TW  và Chỉ thị số 37­CT/TW của Bộ Chính 

trị, Ban Thường vụ  Tỉnh uỷ  đã có Kế  hoạch số  15­KH/TU, ngày 24/12/1998, về 

thực hiện Chỉ thị số 37­CT/TW; Kế hoạch số 24­KH/TU, ngày 21/2/2000, về  Phát  

triển đảng viên là người Cơng giáo  và Chỉ  thị  số  05­CT/TU, ngày 09/5/2002, về 

tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với cơng tác tơn giáo trong tình  

hình mới. 

Khi Ban chấp hành TW Đảng (khố IX) ra Nghị  quyết số  25­NQ/TW về 

Cơng tác tơn giáo và khi Thủ  tướng Chính phủ  có Quyết định số  125/2003/QĐ­

TTg, về  việc phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ  thực hiện Nghị 

quyết số 25­NQ/TW, Tỉnh uỷ Bắc Ninh đã xây dựng Chương trình số 46/CTr/TU,  



34

ngày 14//5/2003, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (phần 2) Ban chấp hành  

TW Đảng khố IX về cơng tác tơn giáo. Thực hiện Hướng dẫn số 2831­HD/TTVH,  

ngày 25/3/2003, của Ban Tư  tưởng văn hố TW về  việc nghiên cứu, qn triệt,  

tun truyền và tổ  chức thực hiện các Nghị  quyết Hội nghị  TW lần thứ  7 (khố 

IX), Ban Thường vụ  Tỉnh uỷ  đã có Kế  hoạch số  29­KH/TW ngày 02/4/2003  về 

triển khai, nghiên cứu, qn triệt và tổ chức các Nghị quyết Hội nghị Trung ương  

7 (khố IX). Ban chấp hành Tỉnh uỷ  đã xây dựng Chương trình hành động số  46­

Ctr/TU về  cơng tác tơn giáo. Chủ  tịch UBND tỉnh có Quyết định số  982/QĐ­CT,  

ngày 29/8/2003,  về  việc phê duyệt kế  hoạch của UBND tỉnh thực hiện chương  

trình hành động của Chính phủ  và của Ban chấp hành Đảng bộ  tỉnh về  cơng tác  

tơn giáo.

Ngày 8/8/2008, Ban TV tỉnh uỷ  có Quyết định số  579­QĐ/TU về  việc kiện  

tồn Ban chỉ đạo cơng tác tơn giáo tỉnh; ra Quy chế làm việc số 01­QC/BCĐ, ngày 

30/12/2008, phân cơng nhiệm vụ cho các thành viên Ban chỉ đạo.

Để  triển khai và thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tơn giáo và Nghị  định số 

22/NĐ­CP, ngày 1/3/2005, của Chính phủ  hướng dẫn thi hành một số  điều của  

Pháp   lệnh   tín   ngưỡng,   tơn   giáo,   UBND   tỉnh   Bắc   Ninh   đã   ra   Quyết   định   số 

11/2009/QĐ­UBND, ngày 22/01/2009,  về  việc ban hành Quy định thẩm quyền,  

trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết một số việc về tín ngưỡng, tơn giáo trên địa  

bàn   tỉnh   Bắc   Ninh.  Còn   Sở   Nội   vụ   đã   có   Hướng   dẫn   số   101/HD­SNV,   ngày 

09/3/2009, hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định này.

Thực hiện Nghị  định số  22/2004/NĐ­CP, ngày 21/01/2004, của Chính phủ 

về  kiện tồn tổ  chức bộ  máy làm cơng tác tơn giáo thuộc UBND các cấp; Nghị 

định số  172/2004/NĐ­CP, ngày 29/9/2004, quy định tổ  chức các cơ  quan chun 

mơn thuộc UBND huyện, thị  xã, thành phố  thuộc tỉnh; Thơng tư  số  25/2004/TT­

BNV, ngày 19/4/2004, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ  cấu tổ 

chức cơ  quan chun mơn giúp UBND QLNN về  cơng tác tơn giáo  ở  địa phương,  

UBND tỉnh Bắc Ninh đã có Quyết định số  216/2004/QĐ­UB, ngày 27/12/2004, về 



35

việc quy định tổ chức các cơ quan chun mơn thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh ; Quyết 

định số  102/2004/QĐ­UB, ngày 30/6/2004, về  việc ban hành quy định chức năng,  

nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ cơng tác của Ban Tơn giáo  

tỉnh Bắc Ninh.

Có thể  nói, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh đã nhanh chóng và kịp thời thể 

chế  hố các văn bản của Đảng và Nhà nước về  cơng tác tơn giáo, khơng chỉ  thể 

hiện thái độ  nghiêm túc đối với ngun tắc tập trung dân chủ, mà còn là việc làm  

có tính tiên quyết, quyết định để cho cơng tác tơn giáo nói chung và cơng tác QLNN 

về  tơn giáo nói riêng của Bắc Ninh ln được chủ  động và thành cơng. Đây nên 

xem là một bài học q đối với quy chế  lãnh đạo, quản lý đối với tơn giáo của  

Đảng và Nhà nước, từ cấp TW đến địa phương.  

2.1.2. Tổ chức bộ máy làm cơng tác QLNN về tơn giáo ở Bắc Ninh

Sau khi có Nghị định số 22/2004/NĐ­CP, ngày 21/01/2004, của Chính phủ về 

kiện tồn tổ chức bộ máy làm cơng tác tơn giáo thuộc UBND các cấp và Thơng tư 

số 25/2004/TT­BNV, ngày 19/4/2004, của Bộ Nội vụ về kiện tồn tổ chức bộ máy 

làm cơng tác tơn giáo thuộc UBND các cấp, UBNH tỉnh Bắc Ninh đã có Quyết định  

số 102/2004/QĐ­UB, ngày 30/6/2004, về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm  

vụ, quyền hạn, tổ  chức bộ  máy và mối quan hệ  cơng tác của Ban Tơn giáo tỉnh  

Bắc Ninh.  Theo quy định này, Ban Tơn giáo tỉnh là cơ  quan chun mơn thuộc  

UBND tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh QLNN về  tơn giáo tại địa 

phương và thực hiện một số  nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND  

tỉnh; góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý trong lĩnh vực cơng tác tơn giáo từ 

TW đến địa phương. Ban Tơn giáo có chức năng quản lý cơng tác tơn giáo, chịu sự 

chỉ đạo, quản lý về  tổ  chức, biên chế  và cơng tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu 

sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của Ban Tơn giáo Chính phủ.

Ngày 8/8/2007, Chính phủ có Nghị định số  08/NĐ­CP "Về  việc chuyển ban  

Thi đua ­ khen thưởng TW, Ban Tơn giáo Chính phủ, Ban cơ  yếu Chính phủ  vào 

Bộ  Nội vụ" và đến ngày 04/02/2008, Chính phủ  ban hành Nghị  định 13/2008/NĐ­



36

CP,  quy định tổ  chức các cơ  quan chun mơn thuộc UBND tỉnh, thành phố  trực 

thuộc TW. Trong đó, điểm a, khoản 1, điều 8, chương II quy định: "Sáp nhập Ban  

Thi đua ­ Khen thưởng và Ban Tơn giáo các tỉnh, thành phố trực thuộc TW hoặc bộ  

phận làm cơng tác tơn giáo các tỉnh, thành phố  trực thuộc TW vào Sở  Nội vụ". 

Ngày 04/6/2008, Bộ  Nội vụ  đã ban hành Thơng tư  số  04/2008/TT­BNV   "Hướng  

dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ  cấu tổ  chức của Sở  Nội vụ, Phòng  

Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện ". Trong đó, điểm đ, khoản 2, mục III quy  

định: "UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Ban tơn giáo hoặc Phòng Tơn giáo...  

Ban Tơn giáo (nếu có) là tổ chức tương đương Chi cục trực thuộc Sở, có tư  cách  

pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng". Cũng tại Thơng tư  này quy định, cơng 

tác tơn giáo ở địa phương sẽ nằm trong Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp huyện, do  

đó khơng có Phòng Tơn giáo ở cấp huyện nữa. Ngày 20/5/2010, Bộ Nội vụ lại có 

Thơng tư  số  04/2010/TT­BNV, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ 

chức và biên chế  của Ban Tơn giáo trực thuộc Sở  Nội vụ  thuộc UBND các tỉnh,  

thành phố trực thuộc TW. Căn cứ vào những văn bản trên, UBND tỉnh đã có Quyết 

định số  139/QĐ­UBND, ngày 2/12/2010,  về  việc quy định chức năng, nhiệm vụ,  

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo tỉnh trực thuộc Sở Nội vụ tỉnh Bắc  

Ninh. Quyết định này thay thế Quyết định số 102/2004/QĐ­UB, ngày 30/6/2004. 

Theo Quyết định này, Ban Tôn giáo tỉnh là tổ  chức tương đương Chi cục  

trực thuộc Sở  Nội vụ, giúp Giám đốc Sở  tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện  

chức năng QLNN về lĩnh vực tôn giáo; chịu sự  chỉ  đạo, quản lý về  tổ  chức, biên 

chế và hoạt động của Sở; chịu sự hướng dẫn về chun mơn, nghiệp vụ của Ban  

Tơn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ. Ban Tơn giáo tỉnh có tư cách pháp nhân, 

có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở, biên chế, kinh phí hoạt động do ngân sách  

nhà nước cấp theo quy định của pháp luật.

Ban Tơn giáo tỉnh thực hiện các nhiệm vụ sau:

­  Xây dựng trình cấp có thẩm quyền các dự  thảo văn bản quy phạm pháp  

luật thuộc lĩnh vực tơn giáo.



37

­ Xây dựng trình Giám đốc Sở Nội vụ ban hành theo thẩm quyền hoặc trình 

cấp có thẩm quyền ban hành chương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm 

và hàng năm về lĩnh vực tơn giáo.

­ Thực hiện các chủ  trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 

và chương trình, quy hoạch, kế  hoạch dài hạn năm năm và hàng năm về  lĩnh vực 

tơn giáo sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

­ Tổ  chức tun truyền, phổ  biến chủ  trương, chính sách, pháp luật về  tơn 

giáo đối với cán bộ, cơng chức, viên chức và tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu 

hành, nhân sỹ các tơn giáo trong phạm vi quản lý của tỉnh.

­ Giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền giải quyết 

những vấn đề  cụ  thể  về  tơn giáo theo quy định của pháp luật. Chủ  trì, phối hợp 

với các sở, ngành tham mưu cho Sở Nội vụ trình UBND giải quyết những vấn đề 

phát sinh trong tơn giáo; là đầu mối liên hệ  giữa chính quyền địa phương với các 

tổ chức tơn giáo.

­ Thực hiện cơng tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh  

vực tơn giáo theo quy định của pháp luật.

­ Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ  về  cơng tác tơn giáo cho 

cơng chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ban.

­ Thực hiện việc áp dụng chính sách đãi ngộ đối với những tổ chức, cá nhân  

tơn giáo.

­ Thực hiện việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tơn giáo, tổng kết thực  

tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ  trương 

chính sách đối với tơn giáo.

­ Tham gia quản lý các khu di tích, danh lam, thắng cảnh có liên quan đến tơn  

giáo.

­ Hướng dẫn tổ  chức làm cơng tác quản lý nhà nước về  tơn giáo thuộc 

Phòng Nội vụ  cấp huyện giải quyết những vấn đề  cụ  thể  về  tơn giáo theo quy 

định của pháp luật.



38

­ Quản lý về  tổ  chức, biên chế, tài chính, tài sản, cán bộ, cơng chức thuộc 

Ban theo phân cấp của Giám đốc Sở Nội vụ và theo quy định của pháp luật.

­ Thực hiện các nhiệm vụ  khác do Giám đốc Sở  Nội vụ  hoặc cơ  quan có 

thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.

Ban Tơn giáo tỉnh Bắc Ninh, nếu trước năm 2005, chỉ có 5 cán bộ, thì nay đã 

tăng lên 9, trong đó có 01 Trưởng ban, 02 phó ban (01 Phó ban kiêm Trưởng phòng)  

và 01 Trưởng phòng hành chính, còn lại là chun viên.  Ở  cấp huyện, trước đây 

chỉ  có 01 lãnh đạo Văn phòng UBND huyện kiêm nhiệm, nay có đồng chí phó 

Phòng Nội vụ trực tiếp phụ trách cơng tác tơn giáo và 01 chun viên theo dõi giúp 

việc. Còn  ở  cấp xã, ngồi Phó Chủ  tịch UBND phụ  trách còn có đồng chí cán bộ 

Văn hố hoặc MTTQ làm cơng tác tơn giáo. 

Có thể nói, Ban tơn giáo Bắc Ninh, cũng như các tỉnh khác (cả Ban tơn giáo 

Chính phủ), trong thời gian qua đã có những biến đổi lớn về  bộ  máy, nhân sự.  

Trong đó đáng kể  nhất là, từ  một ban ngang với sở, thì nay là một bộ  phận trực  

thuộc sở. Sự biến đổi đó đã tạo ra tâm trạng băn khoăn của một số ít người, nhất 

là những người giữ cương vị chủ chốt. Chúng tơi chia xẻ với các đồng chí đó, bởi 

khơng phải khơng có yếu tố hợp lý. Song về  cơ bản, chúng tơi cho rằng, sự  biến 

đổi đó là khởi đầu của những cải cách bộ  máy làm cơng tác QLNN đối với tơn 

giáo, để nó có chất lượng cao hơn, có hiệu lực rõ ràng hơn và có hiệu quả tốt hơn.  

Đó là chưa nói, cơng tác QLNN đối với tơn giáo, nếu hiểu theo nghĩa rộng và cả 

nghĩa hẹp thì khơng thể  chỉ  do một Ban tơn giáo đảm đương. Sự  biến động theo 

chiều hướng phát triển chất lượng của bộ máy QLNN về tơn giáo, theo cảm nhận 

của chúng tơi, đã và đang được thể hiện từ Ban tơn giáo Chính phủ, khi mà cán bộ 

được tăng cường có chất lượng hơn, một số  chức năng được mở  rộng và đi vào 

chiều sâu hơn, điều kiện làm việc tốt hơn...2  



 Ban tơn giáo Chính phủ  đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường bồi dưỡng, đào tạo cán bộ  

làm cơng tác tơn giáo và Viện nghiên cứu chính sách tơn giáo.

2



39

2.2. THỰC TRẠNG CƠNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TƠN GIÁO Ở 

TỈNH BẮC NINH 



2.2.1. Quản lý về hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự

Về  ngun tắc,  Nhà nước ta bảo hộ  các tài sản hợp pháp của tơn giáo, 

nghiêm cấm việc xâm phạm đến tài sản đó. Đối với đất đai có các cơng trình do 

cơ  sở  tôn giáo sử  dụng, gồm đất chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện,  

trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ  sở  của tổ  chức tôn 

giáo, các cơ sở khác của tôn giáo..., được Nhà nước cho phép hoạt động và được  

sử  dụng ổn định lâu dài. Vấn đề  là, việc quản lý sử  dụng phải tuân thủ  theo quy  

định của Luật đất đai và của Chỉ  thị  1940 của Thủ  tướng Chính phủ. Nhà nước 

tạo điều kiện cho các tổ chức tơn giáo được cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các 

cơng trình tín ngưỡng, tơn giáo. Việc sửa chữa, nâng cấp, xây dựng này tn thủ 

theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Trong những năm qua, cơng tác QLNN đối với hoạt động xây dựng, trùng tu, 

sửa chữa cơ sở thờ tự ở tỉnh Bắc Ninh ln được các cơ quan có thẩm quyền quan 

tâm, đảm bảo cho các tơn giáo có cơ sở và điều kiện hành đạo. Ban Tơn giáo tỉnh 

đã tham mưu cho UBND giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật về  các 

vấn đề liên quan đến đất đai, xây dựng, nâng cấp... cơ sở  tơn giáo, đáp ứng được 

nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của các tơn giáo.

Từ  năm 2003 đến nay, ngành cơng tác tơn giáo tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp  

với các cơ  quan chức năng cho phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hơn  

100 cơ sở thờ tự và cơ sở  tín ngưỡng dân gian. Ví như, cho xây dựng tượng phật  

Adi đà trên núi Phật tích; xây dựng Tam bảo chùa Đại Thành, trụ  sở  Ban Trị  sự 

Phật giáo tỉnh; trùng tu, xây dựng thơn Ngăm Mạc, xã Lãng Ngâm, Gia Bình  của  

thơn; xây dựng cơng trình tơn tạo chùa Đại Giác, khu Bồ Sơn, phường Võ Cường,  

TP.Bắc Ninh; cho phép Tỉnh hội Phật giáo làm lễ  rước tượng lên Tam Bảo chùa 

Đại Thành. Ban tơn giáo tỉnh đã nghiên cứu hồ sơ xin xây dựng chùa của Đại đức  

Thích Tâm Qn, trụ trì chùa Diên Quan, thơn Guột, xã Việt Hùng, huyện Quế Võ. 



40

Sau khi xem xét, đã chỉ cho phép cải tạo sửa chữa chùa cũ và xây dựng nhà tổ trên 

diện tích khu đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cho phép xây 

dựng nhà tạm trong khn viên chùa. Ban tơn giáo cũng đã xem xét, giải quyết đề 

nghị của Đại đức Thích Đức Thiện, chùa Phật Tích xin phép xây dựng Tháp xá lợi 

Phật trên đỉnh Non tiên núi Phật Tích. Cơng trình gồm 13 tầng, cao 45m, nguồn  

vốn đầu tư 11 tỷ đồng. Ban cũng xem xét đề nghị xin xây dựng chùa Dạm tại một 

phần đất của dự  án khu vui chơi, thể  thao, nhà nghỉ  và khi thấy đây là đất của  

cơng ty được Nhà nước cho th, một phần mở  rộng về  phía chân núi Dạm, đất  

chưa được th và chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng và khơng đồng ý với 

đề  nghị đó. Ban tơn giáo còn xem xét và cho phép Ban Trị sự  Phật giáo tỉnh khảo  

sát địa điểm lập dự án đầu tư xây dựng Trụ sở Tỉnh hội Phật giáo và trường Trung 

cấp Phật học tại xã Khúc Xun, TP.Bắc Ninh, với diện tích mở rộng là 2 ha; cho  

phép nhân dân thơn Phương Triện, xã Đại Lai xây dựng lại và cho mở  rộng diện 

tích đất Đình làng; có ý kiến về  việc xây dựng chùa Cả, thơn Hương Triện, xã 

Nhân Thắng; chùa Linh Ứng, thơn Huề Đơng, xã Đại Lai.

Ban tơn giáo Bắc Ninh có ý kiến về  việc đạo Cơng giáo xây dựng tượng  

Đức mẹ tại thơn Nam Viên; cho phép họ đạo Phượng Giáo, thị trấn Thứa,  Lương  

Tài; họ  đạo Ngọc Cục, xã Tân Lãng, Lương Tài xây dựng, cải tạo gian Cung 

thánh, phòng khách nhà thờ  họ; cho phép họ  giáo Trà Sơn, xã Liên Bão, Tiên Du 

sửa chữa nhà thờ, xây dựng gác chng trên nền đất cũ.

Nhìn chung, cơng tác quản lý đối với hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa 

cơ  sở thờ tự đã được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo các quy định của Pháp lệnh 

tín ngưỡng, tơn giáo, Nghị  định số  22/2005/NĐ­CP của Chính phủ  và Quyết định 

số 11/209/QĐ­UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh. 

Tuy nhiên, cơng tác này ở một số cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, thậm  

chí còn bng lỏng, nên có nơi tổ chức tơn giáo khi xây dựng đã khơng làm đầy đủ 

các thủ  tục pháp lý. Trong năm 2009, đã có 10 cơ  sở  thờ  tự  khơng xin phép xây 

dựng và sửa chữa, như  các chùa Quang Đổ, xã Đình Bảng; Cảm  Ứng Tự, thơn 



41

Nghĩa   Lập,   xã   Phù   Khê,   thị   xã   Từ   Sơn;   Lương   Đống,   thôn   Dực   Vi,   xã   Hồi 

Thượng. Nhà thờ  họ  Cơng giáo Nam Viên, xã Lạc Vệ, Tiên Du đã sửa chữa năm 

2007, nay lại xây dựng tượng Đức mẹ  Maria trên phần đất khơng thuộc của nhà  

thờ; họ giáo Từ Phong, xã Cách Bi, Quế  Võ xây dựng nhà khách khi chưa đầy đủ 

hồ sơ xin phép xây dựng theo quy định... 

Năm 2010, có 33 cơ  sở  thờ  tự  của Phật giáo tiến hành xây dựng sửa chữa, 

trong đó có 11 cơ sở khơng xin phép.

2.2.2.   Quản   lý   đối   với   việc   phong   chức,   phong   phẩm   và   hoạt   động 

thun chuyển của các chức sắc

Theo quy định, việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử là 

cơng việc nội bộ của tổ chức tơn giáo và Nhà nước khơng can thiệp, mà chỉ đề ra  

các điều kiện để tổ chức tơn giáo lựa chọn quyết định. Trường hợp chức sắc, nhà 

tu hành bị tổ chức tơn giáo cách chức, bãi nhiệm thì cần thơng báo với chính quyền 

địa phương. Về thun chuyển nơi hoạt động tơn giáo của chức sắc, nhà tu hành,  

tổ chức tơn giáo có trách nhiệm thơng báo với UBND cấp huyện nơi đi và đăng ký  

với UBND cấp huyện nơi đến.

Cơng tác QLNN đối với hoạt động tiếp nhận, bổ nhiệm, phong chức, phong  

phẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được thực hiện theo đúng tinh thần của Pháp lệnh 

tín ngưỡng, tơn giáo. Cụ thể, năm 2008, Ban Trị  sự  Phật giáo tỉnh đã đồng ý tiếp  

nhận 04 nhà sư  thun chuyển về  hành đạo tại Bắc Ninh. Tồ Giám mục Bắc  

Ninh đã tổ chức lễ truyền chức linh mục cho 08 tu sỹ thuộc giáo phận Bắc Ninh, 

trong đó tỉnh Bắc Ninh có 03 tu sỹ; thun chuyển 02 linh mục về làm mục vụ tại 

xứ Lai Tê và Phó xứ Tử Nê, xã Tân Lãng, huyện Lương Tài. 

Năm 2009, Ban trị sự Phật giáo tỉnh đã bổ nhiệm 09 trường hợp tăng ni, tiếp 

nhận 2 tỷ khưu ni xin về hành đạo tại Bắc Ninh; bổ nhiệm Đại đức Thích Thanh 

Tn, Phó Chánh thư ký Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, Trưởng ban đại diện Phật giáo  

huyện Lương Tài, trụ  trì chùa Bồ  Sơn về  kiêm nhiệm trụ  trì chùa Ném Thượng, 

TP.Bắc Ninh; thun chuyển sư cơ Thích Đàm Vượng, chùa Chọi, TP.Bắc Ninh về 



42

tu học tại chùa Tiên, xã Nga An, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hố. Thun chuyển  

hoạt động tơn giáo của 09 Linh mục trong giáo phận Bắc Ninh; làm lễ truyền chức 

linh mục cho 08 tu sỹ.

Năm 2010, Tỉnh hội Phật giáo Bắc Ninh đã bổ  nhiệm trụ  trì cho 09 trường 

hợp tăng ni xin thun chuyển giữa các chùa trong tỉnh và từ nơi khác về hành đạo 

tại Bắc Ninh.  

Bên cạnh những kết quả  trên, việc thun chuyển, đón sư  về  trụ  trì  ở  một  

số  địa phương vẫn có tình trạng khơng tn thủ, hoặc bỏ  qua các quy định của  

pháp luật, tự ý đón sư về trụ trì khơng có sự chấp thuận của Ban Trị sự Phật giáo  

tỉnh, Ban đại diện Phật giáo các huyện, gây bức xúc, dị nghị trong nhân dân. 

Năm 2009, tỉnh Bắc Ninh có 231 sư trụ trì hợp pháp, 62 vị chưa đủ  thủ tục; 

năm 2010, có 242 sư  trụ  trì hợp pháp, 80 vị  chưa hợp pháp…  Trong khi đó, việc 

phát hiện, uốn nắn, ngăn chặn việc làm đó của chính quyền cơ  sở  chưa sâu sát, 

thiếu cương quyết và việc hướng dẫn cho đối tượng thun chuyển cũng chưa kịp  

thời, còn nhiều hạn chế. 

2.2.3. Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc

Ban Tơn giáo ­ Sở Nội vụ đã Cho phép Ban Trị sự Phật giáo tỉnh tổ chức 03  

trường hạ  tại 03 điểm Chùa Đại Thành, Chùa Dâu, Chùa Tiên và chuyển trường 

Trung cấp Phật học về chùa Đại Thành ­ trụ sở Tỉnh hội Phật giáo Bắc Ninh. Đến  

nay, Trường Trung cấp Phật học Bắc Ninh đã mở được 02 khóa đào tạo, khóa I đã  

tốt nghiệp 36 vị, khóa II có 27 vị đang theo học; đã có 07 vị tăng ni tốt nghiệp khóa  

IV Học viện Phật giáo.

Theo đề nghị của Tỉnh hội Phật giáo và Tồ giám mục Bắc ninh, năm 2009  

UBND tỉnh đã chấp thuận và tạo điều kiện cho 09 chức sắc Phật giáo theo học tại  

Học viện Phật giáo và 03 chủng sinh theo học tại Đại Chủng viện.

 



Ban  Tơn giáo  phối  hợp  với  Ban  Trị   sự   Phật  giáo tỉnh tổ   chức  hội nghị 



chun đề  “cơng tác hành chính trong Phật giáo”  cho tất cả  tăng ni trên địa bàn 

tỉnh và cho lãnh đạo, chun viên làm cơng tác QLNN về  tơn giáo  ở  cấp huyện.  



43

Tại hội nghị, các đại biểu đã được giới thiệu những nội dung cơ  bản của Pháp  

lệnh tín ngưỡng, tơn giáo, Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và các văn bản 

quy phạm pháp luật, qui định về hoạt động tơn giáo, thể thức hành chính của một 

số loại văn bản có liên quan. Từ đó đã tạo ra sự thống nhất nhận thức trong chức  

sắc, tín đồ  tơn giáo và hạn chế  những vướng mắc, tạo cơ  sở  pháp lý bảo đảm  

quyền tự do tín ngưỡng của cơng dân, đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu  

quả cơng tác QLNN về các hoạt động tơn giáo. 

Ban tơn giáo chấp thuận cho Giáo phận Bắc Ninh tổ  chức tập hu ấn giáo 

lý viên và huynh trưởng của các xứ, họ  đạo trong giáo phận tại Tòa giám mục  

Bắc Ninh, với trên 400 học viên ghi danh tham d ự trong 5 khóa.   

2.2.4. Cơng tác quản lý đối với các hoạt động từ thiện, nhân đạo

Đảng và Nhà nước ta khuyến khích chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tơn giáo 

tham gia các hoạt động từ  thiện nhân đạo phù hợp với hiến chương, điều lệ  của  

tổ  chức tơn giáo và với quy định của pháp luật. Điều đó được quy định rõ ở  điều 

19 Luật phòng, chống HIV, AIDS và điều 28, điều 33, Pháp lệnh tín ngưỡng, tơn 

giáo. Căn cứ  vào đó, Ban Tơn giáo tỉnh Bắc Ninh đã chủ  động phối hợp với các  

ngành chức năng tham mưu cho UBND tỉnh tạo điều kiện để các chức sắc tơn giáo 

thực hiện các hoạt động từ  thiện nhân đạo,  ủng hộ  tài chính, vật phẩm cứu trợ 

cho đồng bào bị thiên tai. 

Năm 2008, tăng ni, phật tử  tỉnh Bắc Ninh đã thăm hỏi, trao tặng 600 suất  

q, mỗi suất trị  giá 300.000đ, cho đồng bào vùng bị  lũ lụt tại các tỉnh Phú Thọ, 

n Bái, Lào Cai. Trong đêm Nơel, tại nhà thờ  Chính tồ Bắc Ninh, các nhà hảo  

tâm và giáo dân lẫn lương dân, đã ủng hộ, qun góp được 5.500.000đ để giúp các 

cháu học sinh nghèo vượt khó thuộc TP.Bắc Ninh. Tồ giám mục Bắc Ninh còn  

phối hợp với Sở  Y tế  tổ  chức khám chữa bệnh từ  thiện về  mắt cho 1.047 lượt  

bệnh nhân, trong đó có 88 bệnh nhân được phẫu thuật thay thuỷ tinh thể, 250 bệnh 

nhân được mổ mộng mắt, ghép giác mạc. 



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×