1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Thực trạng các yếu tố thị trường xuất khẩu tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu than củi của công ty TNHH JNB Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn 2014-2017

3 Thực trạng các yếu tố thị trường xuất khẩu tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu than củi của công ty TNHH JNB Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn 2014-2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

trước, đứng thứ mười thế giới, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven

biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,5% tổng dân số đất nước. Gần 9,1 triệu cư dân

sống tại trung tâm Tokyo,(thủ đơ khơng chính thức của đất nước), cũng là thành phố

đông dân thứ tám trong khối OECD và là thành phố toàn cầu đứng hàng thứ tư thế

giới.Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đơ và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô

thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đơ thị phát triển nhất

hành tinh.

b) Về xuất nhập khẩu:

o Nhập khẩu chính : dầu mỏ, khí thiên nhiên lỏng, quần áo, chất bán dẫn,

than, âm thanh và thiết bị nghe nhìn

o Xuất khẩu chính : xe ơ tơ, chất bán dẫn, sản phẩm sắt thép, phụ tùng ô tô,

Suzuki ichiro, Sony playstation, kiêmSamurai

o Đối tác Nhập khẩu chính: Trung Quốc 21.3%,Mỹ 8.8%, Úc 6.4%, Saudi

Arabia 6.2%, UAE 5%, Hàn Quốc 4.6%, Qatar 4%

o Đối tác xuất khẩu chính :Trung Quốc 18.1%, Mỹ 17.8%, Hàn Quốc 7.7%,

Thái Lan 5.5%, Hồng Kong 5.1%

o Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2015- 2016

c) Về cung cầu thị trường

 Cung Nhật Bản là quốc gia có thế mạnh về công nghệ , các thiết bị công

nghệ, phương tiện, linh kiện điện tử, các doanh nghiệp trong nước sản xuất các thiết

bị này với số lượng lớn, đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu trực tiếp

sang nước ngoài với số lượng lớn. Tuy nhiên nguồn cung về các mặt hàng thực

phẩm tại quốc gia này cũng như các nguồn nguyên nhiên vật liệu rất khan hiếm do

điều kiện tự nhiên hạn chế khiến cho quốc gia này phải nhập khẩu số lượng lớn

nông sản, thủy sản : gạo, các loại rau, hoa quả( xoài, thanh long, vải…), tôm ; các

mặt hàng may mặc : quần áo, giày dép,…; các loại nguyên liệu, nhiên liệu : than ,

dầu thô,…; và một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

 Cầu Cầu các mặt hàng nông sản ở Nhật Bản vẫn rất lớn, trong khi lượng

cung trong nước không thể đáp ứng đủ cầu, Nhật Bản phải nhập khẩu số lượng lớn

các mặt hàng này từ quốc gia khác như Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Lào, Thái Lan.



35



Cầu về nguyên vật liệu khí đốt (dầu mỏ, khí đốt, than..) cũng tăng do số lượng lớn

các nhà máy điện hạt nhân tại quốc gia này bị ngừng hoạt động.

d) Tổng quan nền kinh tế Nhật Bản từ năm 2001-2018

- Giai đoạn 1: Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng với tốc độ vừa phải (20012006) Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ 21,nền kinh tế Nhật Bản vẫn còn

trong tình trạng suy thối kéo dài từ sau thời kỳ kinh tế bong bóng và cuộc khủng

hoảng tài chính khu vực 1997-1998. Nhờ các chính sách cải cách cơ cấu của thủ

tướng Nhật Bản kinh tế Nhật Bản tăng trưởng trở lại trong giai đoạn 2002-2007,

chấm dứt 15 năm suy thối và trì trệ. Kinh tế khởi sắc kéo dài kỉ lục liên tục 69

tháng kể từ tháng 2 năm 2002 cho tới tháng 10 năm 2007, vượt qua con số 57 tháng

của thời kì tăng trưởng cao những năm cuối của thập kỉ 60 thế kỷ 19. Tuy vậy trong

khoảng thời gian này, tăng trưởng GDP chỉ duy trì ở mức 1,5%-2% so với mức 10%

thực tế đạt được trong suốt thời kì tăng trưởng cao trước đây.

-



Giai đoạn 2: Giai đoạn suy thoái nghiêm trọng do tác động của cuộc khủng



hoảng tài chính tồn cầu (2007-Quý II 2009) Sau khi Thủ tướng Koizumi hết nhiệm

kỳ, kinh tế Nhật Bản lại rơi vào trì trệ.Các chương trình cải cách của ơng bị bỏ dở,

trong đó có Chương trình tư nhân hố ngành bưu điện. Những khó khăn kinh tế

ngày càng chồng chất kể từ cuối năm 2007: Lạm phát, phá sản và thất nghiệp hàng

loạt.

-



Giai đoạn 3: Giai đoạn phục hồi song không bền vững (Quý II 2009 đến



nay) Với những nỗ lực chống khủng hoảng nhằm phụchồi kinh tế, kể từ tháng

4/2009 kinh tế Nhật Bản bắt đầu dừng suy giảm; sản xuất và xuất khẩu dần dần tăng

trở lại. Tuy nhiên, những nhân tố cho sự tăng trưởng bền vững vẫn còn manh nha.

Những khó khăn và thách thức vẫn rất nghiêm trọng. Giai đoạn 2010-2014 kinh tế

Nhật Bản hồi phục đáng kể, kim ngạch xuất khẩu cuối năm đạt mức cao nhất 12.9%

so với cùng kì năm trước.Nhưng đến tháng 10 năm 2015 kinh tế Nhật Bản phải đối

mặt với một cuộc suy thoái mới do sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc và nhu cầu

tiêu dùng kém đã lan tỏa khắp tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Trong tháng

9/2015, xuất khẩu của nước này chỉ tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước đạt 6.417,4

tỷ yên, thấp hơn nhiều so với mức dự báo tăng 3,4% theo khảo sát các nhà kinh

tế.Tuy nhiên đến tháng 11 năm 2016 Kinh tế Nhật Bản đã lấy lại đà tăng trưởng



36



trong quý 3/2016 bất chấp sự tăng giá của đồng yên và mở rộng với tốc độ nhanh

nhất trong hơn một năm. Theo số liệu mới nhất của Văn phòng nội các Nhật Bản,

tăng trưởng GDP quý 2/2017 của nước này đã được điều chỉnh giảm xuống 2,5%,

thấp hơn đáng kể so với con số 4,0% được báo cáo trong ước tính sơ bộ, nguyên

nhân chủ yếu do sự sụt giảm trong lĩnh vực đầu tư phi dân cư. Tuy nhiên, đây vẫn là

tốc độ tăng trưởng nhanh nhất kể từ quý 1 năm 2015 và cho thấy nền kinh tế tiếp

tục phục hồi.

e) Về mối quan hệ Nhật Bản và các quốc gia:

Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7,

G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Nhật Bản là một nước phát

triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được

hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử

vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều

nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia,hạng sáu

trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2015–2016 và giữ vị trí cao nhất ở châu Á về Chỉ

số hòa bình tồn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức

Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông.

f) Về cơ sở hạ tầng

Có thể nói cơ sở hạ tầng GTVT được xây dựng hiện đại, đồng bộ từ nông thôn

đến đô thị từ sau chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt phát triển nhất là từ thập niên

50. Nhật Bản có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, diện tích 377.829 km2 trong đó trên

70% diện tích là đồi núi, thường xảy ra động đất, sóng thần nên cơ sở hạ tầng

GTVT phải xây dựng rất kiên cố và đòi hỏi nhiều kinh phí vì phải làm rất cầu, nhiều

hầm xun núi, xuyên biển, xử lý sụt trượt, nền đất yếu. Tại các công trường đang

xây dựng đều sử dụng các loại máy, thiết bị thi công hiện đại; công tác an tồn lao

động, an tồn giao thơng, vệ sinh mơi trường được bạn rất coi trọng, nên mọi người

nhìn vào cơng trường rất chuyên nghiệp và an tâm.Tất cả người dân đều tự giác

chấp hành luật lệ giao thơng vì luật xử phạt vi phạm rất nghiêm và minh bạch, nên

rất ít xảy ra tình trạng tắc đường; tự giác xếp hàng nơi đông người như ga tàu, sân

bay, bến xe…Trên tất cả vĩa hè, nút giao cùng mức, đèn tín hiệu giao thông; bến xe,

nhà ga, trạm dừng nghỉ và phương tiện công cộng như xe buýt, tàu điện đều bố trí



37



lối đi có ký hiệu nổi và âm thanh tín hiệu, lối lên xuống cho người khiếm thị, người

tàn tật và người già ngồi trên xe lăn…các trạm thu phí đường bộ, bán vé tàu điện,

xe buýt, bãi gửi xe đều hoàn toàn tự động để đảm bảo nhanh, chính xác, đồng thời

giảm thiểu lao động thủ cơng.

g) Về chính trị pháp luật

Hệ thống chính trị Nhật Bản được xây dựng và tồn tại trên nguyên tắc tam

quyền phân lập trong đó có sự tách biệt giữa các quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư

pháp, ứng với ba quyền này là ba cơ quan hoạt động độc lập với nhau gồm: Cơ quan

Lập pháp – Nghị viện, Cơ quan Hành pháp – Nội các chính phủ, Cơ quan Tư phápTòa án. Nhật Bản là quốc gia có nền chính trị ổn định, luật pháp chặt chẽ và các quy

định về chất lượng cũng như đòi hỏi về kĩ thật cũng rất cao. Người Nhật còn có thói

quen, thậm chí có thể nói là văn hố, né tránh kiện tụng vì cho rằng sự xuất hiện

trước tồ, ngay cả trong các vụ việc dân sự, cũng làm ảnh hưởng xấu tới danh dự

của họ. Vì vậy, những cơng dân tốt có xu hướng tránh xa pháp luật, coi pháp luật là

cái gắn kết với hình phạt, với nhà tù, với sự ô danh… và là cái mà họ không mong

muốn phải động chạm tới. Trên thực tế, họ có xu hướng lựa chọn cách giải quyết

những khúc mắc của mình bằng con đường hoà giải hơn là bằng con đường tranh

tụng tại toà.

3.3.2 Các yếu tố thị trường xuất khẩu tác động trực tiếp tới hoạt động xuất

khẩu than củi của công ty TNHH JNB Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai

đoạn 2014-2017

a. Yếu tố cầu hàng hóa

Biểu đồ 3.3: Sản lượng tiêu thụ than của Nhật Bản giai đoạn 2007-2016 (triệu tấn)



38



(Nguồn: Báo cáo tổng kết các vấn đề về nguồn năng lượng giai đoạn 20072016 Bộ công nghiệp Nhật Bản)

- Cầu về than trong những năm gang đây của Nhật bản có xu hướng tăng lên

Trong giai đoạn 2014-2016 mức tiêu thụ than của nhận bản tăng từ 119.15 triệu tấn

lên 119.94 triệu tấn. Mặc dù mức tăng này khơng đáng kể và có xu hướng giảm so

với năm 2013 tuy nhiên lượng tiêu thụ than của quốc gia này được đánh giá sẽ vẫn

có xu hướng tăng lên do việc đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân kéo dài và một

nền kinh tế nhẹ nhàng thúc đẩy các cơ sở điện để dự trữ nhiên liệu rẻ hơn

- Mục đích và xu hướng tiêu dùng than củi của thị trường Nhật Bản: mặt

hàng than củi cũng là một trong những loại than “hot” trong thị trường Nhật Bản.

Nhật Bản, Hàn Quốc là 2 nước có đường bờ biển nhiều, hải sản là món ăn thường

xuyên và họ đa phần nướng nên cần than củi nhiều trong đó VN là nguồn cung tốt

nên mặt hàng này đang trở nên rất “nóng” trên thị trường”. Đối với thị trường Nhật

Bản trước kia than củi là chất đốt quan trọng trong các gia đình Nhật Bản. Đến thời

hiện đại, cùng với sự phát triển của điện, khí đốt và xăng dầu, người ta nghĩ rằng

than củi sẽ biến mất. Nhưng nó vẫn tồn tại như một phần khơng thể thiếu ở đất nước

này. Hiện nay, ở nhiều vùng nông thôn của nước Nhật, than củi vẫn là chất đốt ưa

chuộng của người dân.Trong ẩm thực Nhật Bản, than củi có một vai trò quan trọng,

nó được cho là chất xúc tác cần thiết giúp tôn thêm mùi vị nguyên thủy của thực

phẩm. Đa số nhà hàng ở Nhật Bản sử dụng than củi để làm chất đốt thay vì than

hoặc ga vì lý do an tồn và tăng hương vị cho món ăn. Khơng chỉ vậy người Nhật

Bản còn dùng than củi để: cải tạo đất, kiểm sốt độ ẩm trong gia đình, sưới ấm, lọc

nước, khử mùi, bản quản độ tươi, nấu cơm… Than củi được người tiêu dùng Nhật

bản chủ yếu sử dụng vào 3 mục đích: làm nguyên liệu đốt trong các nhà hàng quán

ăn, dùng để sưởi ấm và nguyên liệu đốt trong hộ gia đình, dùng để làm chất lọc

trong cơng nghiệp. Với mức nhu cầu lớn về mặt hàng này và nhu cầu ngày một tăng

do Nhiệt độ trung bình ngày một giảm và lượng tiêu thụ than củi của các nhà hàng

quán ăn tăng nhanh sẽ khiến Nhật Bản trở thành một trong những thị trường được

nhắm tới đầu tiên khi với các doanh nghiệp muốn xuất khẩu mặt hàng than củi, thúc

đẩy các doanh nghiệp xuất khẩu mạnh mẽ sang thị trường này.



39



- Nhu cầu về các loại than củi: Mặt hàng than củi được chia làm 2 loại là than

đen và than trắng, trong khi đó than trắng có giá cao hơn, chất lượng tốt hơn và

đang được ưa chuộng hơn ở thị trường Nhật Bản thay vì than đen. Do các hộ gia

đình sử dụng than củi đen để sưởi ấm đang dần ít đi, và nhu cầu sử dụng than trắng

trong các nhà hàng và hộ gia đình tăng lên đáng kể do than trắng an tồn hơn,khi

dùng để làm chin thức ăn làm tăng mùi vị của thức ăn. khi đốt không gây ra tia lửa

và khói làm giảm tỉ lệ bị ngộ độc, thời gian cháy lâu hơn, nhiệt sinh ra cũng lớn

hơn, hơn nữa có hình thức bắt mắt hơn.

- u cầu về chất lượng sản phẩm: đối với thị trường Nhật Bản mặc dù nhu

cầu lớn nhưng cũng theo đó là đòi hỏi về chất lượng cao. Người dân Nhật Bản sẵn

sang chi trả giá cao hơn để có được mặt hàng tốt hơn, chính vì vậy mặt hàng than

củi trắng mặc dù có giá cao hơn nhưng lại rất được người Nhật Bản tin dùng do có

chất lượng cao và an tồn. Giá trung bình thị trường về mặt hàng than trắng là 27

nghìn đồng/1kg tuy nhiên rất nhiều doanh nghiệp nhập khẩu sẵn sàng trả giá cao

hơn là 30 nghìn đồng để mua được loại than có chất lượng hơn.

- Biểu đồ trên thể hiện sự thay đổi trong tiêu dùng than củi của Nhật Bản qua

các năm cho thấy giá trị than củi được tiêu thụ qua các năm vẫn tăng đều qua các

năm từ 2014-2017 tăng lên hơn 1,3 triệu yên, điều này cho thấy sức cầu thị trường

này vẫn có xu hướng tăng tuy nhiên tốc độ trăng trưởng khơng nhanh.

b) Yếu tố cung hàng hóa

Biểu đồ 3.4: Giá trị tiêu thụ và sản xuất trong nước mặt hàng than củi của thị

trường Nhật Bản qua các năm (Đv: Triệu yên)



Giá trị tiêu thụ và sản xuất than củi thị trường Nhật Bản

16000

14000



8229



8737



9234



9573



5073



4850



4478



2015



2016



2017



12000



10000

8000

6000

5081

4000

2000

0

2014



Lượng sản xuất trong nước



40



lượng tiêu thụ



(Nguồn: Báo cáo tổng kết các vấn đề về nguồn năng lượng giai đoạn 20142017 Bộ công nghiệp Nhật Bản)

- Nguồn cung nội địa: Thị trấn Minabe thuộc tỉnh Wakayama nổi tiếng là nơi

sản xuất than củi chất lượng tốt nhất ở Nhật. Người dân địa phương chỉ chọn những

cây Ubame – một giống cây thuộc họ sồi, có tuổi thọ từ 20 – 40 năm để làm nguyên

liệu sản xuất than. Loại cây này có ưu điểm là thân cây nhỏ, dù chúng sống đến

hàng chục năm. Gỗ ubame lại rất chắc và cứng nên than của nó cháy lâu và duy trì

độ nóng ổn định trong thời gian dài. Tuy nhiên nguồn nhiên liệu đốt nội địa ngày

một cạn kiệt nên dẫn đến lượng sản xuất trong nước ngày một ít đi.

- Lượng cung thị trường: Biểu đồ trên cho thấy lượng cung thị trường Nhật

Bản vẫn còn rất ít so với lượng cầu (xấp xỉ 1/3 lượng cầu) trong khi đó lượng cung

trong nước ngày một có xu hướng giảm. Điều này là do nguồn nguyên liệu đốt

trong nước dần cạn kiệt, các doanh nghiệp phân phối than củi đều phải nhập khẩu

than củi từ nước ngoài, trong đó nhà cung cấp lớn nhất là Trung Quốc ( từ 40-50

nghìn tấn mỗi năm ), tiếp đến là Malaysia (từ 30-32 nghìn tấn mỗi năm), Indonesia (

từ 20-28 nghìn tấn mỗi năm ), Thái Lan (5-8 nghìn tấn mỗi năm), các nước khác

trong đó Việt Nam ( 5-10 nghìn tấn mỗi năm)

Biểu đồ 3.5: Sản lượng nhập khẩu than củi của Nhật Bản năm 2017(Đv: nghìn tấn)



Sản lượng nhập khẩu t han củicủa Nhật bản năm 20 17

5.00%

5.00%



20.00%



40.00%



30.00%

Trung quốc



Malaysia



indonesia



Thái Lan



QG khác



(Nguồn: Báo cáo tổng hợp năm 2017 - Bộ Kinh tế Nhật Bản)



41



- Các nguồn cung cấp chủ yếu: Số liệu trên cho thấy Nhật Bản nhập khẩu số

lượng lớn than củi từ các quốc gia Châu Á, trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ Trung

quốc, tiếp theo đó là Maylaysia, Indonesia, Thái Lan. Số liệu cũng cho thấy lượng

than củi Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản còn rất ít (chưa tới 5%)



 Kết luận

 Tác động tích cực

- Với mức cầu lớn và mức cung nội địa không đủ đáp ứng tạo ra cơ hội xuất

khẩu lớn cho các doanh nghiệp nước ngồi nói chung và cơng ty nói riêng để xuất

khẩu mặt hàng than củi sang thị trường này

- Mức cầu thị trường tăng lên có ảnh hưởng tích cực tới hoạt động xuất khẩu

than của doanh nghiệp, cho thấy các doanh nghiệp có cơ hội lớn để tiếp tục xuất

khẩu than sang thị trường này

 Tác động tiêu cực

- Nguồn cung nội địa quá ít so sới lượng tiêu thụ tạo cơ hội lớn , thị trường rộng

mở cho các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu than vào thị trường này tạo sức cạnh

tranh lớn khi các doanh nghiệp nước ngoài đều coi đây là một thị trường béo bở .

- Nguồn cung chủ yếu cho mặt hàng than củi ở thị trường Nhật bản là Trung

Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt

Nam còn khá ít và manh mún vì vậy cạnh tranh về giá cả cũng như chất lượng cũng

là một những yếu tố tạo sức ép lên các doanh nghiệp Việt Nam cũng như công ty

khi xuất khẩu sang thị trường này.

c) Yếu tố giá cả

- Hiện tại đến những tháng đầu năm 2018 giá bán 1kg than củi trắng tại thị

trường Nhật Bản khá cao, xê dịch từ 120-140 yên (26-30 nghìn đồng) tên 1kg, và 1

kg than củi đen là từ 51-74 yên trên 1 kg ( khoảng 11-16 nghìn đồng) tùy kích

thước và mẫu mã (nguồn thống kê lâm nghiệp của bộ Nơng nghiệp Nhật Bản)

Trong đó giá của mặt hàng này so với cùng kì năm trước tăng khoảng 3-6 nghìn

đồng 1 kg

- Bảng số liệu cho thấy giá các loại than củi có xu hướng tăng mạnh qua các

năm. Sau 3 năm giá mặt hàng than củi đen đã tăng gần gấp đôi, giá mặt hàng than



42



củi trắng tăng xấp xỉ 1/3 so với năm trước. Điều này cho thấy dấu hiệu tích cực của

việc thiêu thụ mặt hàng này trong thị trường Nhật Bản.

Bảng 3.6: Giá trung bình các loại than trong thị trường Nhật Bản qua các năm

2015-2017 (đơn vị: vnđ)

Năm

2015

2016

2017



Giá TB than trắng(vnđ)

20.000

26.000

27.5000



Giá TB than đen(vnđ)

6.500

8.000

11.000



(Nguồn: Báo cáo tổng hợp giá cả các mặt hàng bộ Nông nghiệp Nhật Bản- dịch)



 Kết luận :

Giá bán mặt hàng tăng than củi tăng tạo tác động tích cực, thúc đẩy doanh

nghiệp Việt nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản để thu lại nguồn lợi kinh tế.

d) Yếu tố tỷ giá hối đoái

Theo số liệu thu thập từ các trang báo, đồng yên đang có xu hướng lên giá từ

năm 2015 đến tháng 3 năm 2018, tuy nhiên vẫn có sự biến động nhẹ

Ngày 15/11/2015: giá 1 yên quy đổi sang VNĐ là: 183.6

Ngày 01/03/2016: giá 1 yên quy đổi sang VNĐ là: 198.51

Ngày 05/10/2017: giá 1 yên quy đổi sang VNĐ là: 201.53

Ngày 30/03/2018: giá 1 yên quy đổi sang VNĐ là: 214.39

Mặc dù có xu hướng tăng liên tục qua các năm tuy nhiên giá đồng yên vẫn có

sự biến động nhẹ, có giảm và tăng qua các ngày,do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế,

năm 2015- 2016 đồng Yên bị mất giá so với các đồng ngoại tệ mạnh khác tuy nhiên

đến đầu năm 2017 đồng Yên đã vực dậy mạnh mẽ thông qua gói kích thích tiền tệ,

cùng với tốc độ tăng trưởng thặng dư của tài khoản vãng lai, sẽ khiến cho giảm bớt

đi khả năng suy giảm tỷ giá của đồng n. Bên cạnh đó chính phủ Nhật ngày càng

chú trọng hơn vào chi tiêu và cải cách để thúc đẩy phát triển kinh tế, làm cho giá

đồng yên tăng lên.



 Kết luận

- Tỷ giá biến đống khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gặp khơng ít khó

khan tuy nhiên việc biens động tỉ giá trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, vì

vậy doanh nghiệp cần thích ứng và đưa ra các biện pháp kinh doanh phù hợp để

thích nghi với mơi trường.

43



- Tỷ giá đồng n có xu hướng tăng là một dấu hiệu đáng mừng cho hoạt

động xuất khẩu của công ty, thức đẩy công ty liên tục xuất khẩu để thu về ngoại tệ

có giá trị, tăng nguồn lợi kinh tế của công ty.

d. Yếu tố hàng rào thuế quan

- Theo Biểu thuế xuất khẩu hiện hành ban hành kèm theo Thông tư số

182/2015/TT-BTC ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam (có hiệu

lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016) thì thuế xuất khẩu của các mặt hàng than củi –

nhóm 44.02 như sau:

Bảng 3.7: Biểu thuế một số loại hàng hóa

Mã hàng

44.02

4402.10.00

4402.90

4402.90.10

4402.90.90

4402.90.90.10

4402.90.90.90

(Nguồn:



Mơ tả hàng hóa

Thuế suất

Than củi (kể cả than đốt từ vỏ quả hoặc hạt), đã

hoặc chưa đóng thành khối.

- Của tre

10

- Loại khác:

- - Than gáo dừa

0

- - Loại khác:

- - - Than gỗ rừng trồng

5

- - - Loại khác

10

Trích thơng tư số 164/2013/TT-BTC về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu



thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế- Bộ Tài chính Việt Nam )

Mặt hàng than gỗ rừng trồng thuộc mã hàng 4402.90.90.10 được áp dụng mức

thuế suất thuế xuất khẩu 5% phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật như sau:

- Khung thuế suất do UBTVQH quy định đối với phân nhóm 44.02 tại Nghị

quyết số 830/2009/UBTVQH12 ngày 17/10/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

là 5-25% (riêng mặt hàng than gáo dừa là 0-25%).

Bảng 3.8: Bảng tiêu chuẩn chất lượng đối với mặt hàng than củi (than gỗ rừng trồng)

Tiêu chí

Yêu cầu

Hàm lượng tro

≤ 3%

Hàm lượng carbon cố định (C)-là carbon ngun tố, khơng mùi,

≥ 70%

khơng khói khi tiếp lửa.

Nhiệt lượng

≥ 7000Kcal/kg

Hàm lượng lưu huỳnh

≤ 0,2%

(Nguồn: Quy định tiêu chuẩn chất lượng 1 số mặt hàng NK của bộ KH&CN NB)

Bảng kế hoạch thuế quan Nhật Bản quy định có 4 mức thuế như sau: Thuế

suất chung, Thuế suất tạm thời,Thuế suất ưu đãi , Thuế suất WTO. Thuế tiêu thu

được tính trên trị giá CIF của hàng nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu.Bao bì được

44



miến thuế nếu chúng chứa một lượng hàng ít hơn 10.000 yên. Một số mặt hàng

khác, như hàng da, hàng dệt kim cũng được miễn thuế.

Bảng 3.9:Bảng quy định thuế quan Nhật Bản cho một số loại hàng hóa



(Nguồn: Bảng quy định mức thuế chung các mặt hàng - Cục Hải quan Nhật Bản)

Hiện tại Nhật Bản miễn thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng than và

nguyên liệu trong đó mặt hàng than củi được liệt kê trong nhóm mặt hàng than khác

(Other Coral) cũng được miễn phí thuế nhập khẩu và các loại thuế khác.Tuy nhiên

bên cạnh đó chi phí cho các thủ tục hải quan vào nhật bản khoảng 5.000 cho 1 tờ

kiểm hóa. Chi phí cho một bản coppy là 400 yên (nếu khai trực tuyến là 300k yên)

hiện nay 90% thủ tục được thực hiện bằng máy tính.Và thuế xuất khẩu Việt Nam áp

dụng đối với mặt hàng than củi là 5%



 Kết luận :

- Mặt hàng than củi của doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường Nhật bản

không bị đánh thuế xuất, đây là một yếu tố tích cực giúp làm giảm chi phí khi xuất

khẩu của doanh nghiệp nhằm nâng cao lợi nhuận và dể tạo lợi thế cạnh tranh về giá

hơn

- Tuy nhiên mặt hàng than củi lại vẫn đang chịu thuế xuất khẩu của Việt Nam

khi xuất khẩu vì vậy đây cũng là một trở ngại cho doanh nghiệp. Mặt hàng bị đánh

thuế sẽ bị đẩy giá cao hơn so với giá thị trường vì vậy lợi thế cạnh tranh về giá của

doanh nghiệp có giảm xuống.

e) Hàng rào phi thuế quan



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Thực trạng các yếu tố thị trường xuất khẩu tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu than củi của công ty TNHH JNB Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn 2014-2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×