1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: KHÁI LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU

CHƯƠNG 2: KHÁI LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh khả năng sử dụng nguồn lực như vốn, nhân

lực, cơ sở vật chất... để đạt được mục tiêu kinh doanh xác định.

Theo quan điểm của nhà kinh tế học Adam Smith (*): hiệu quả đó là kết quả đạt

được trong hoạt động kinh tế, nhờ doanh thu tiêu thụ hàng hóa. (Giáo trình “Bàn về

tài sản quốc gia” (1776), Adam Smith).

+ Thứ nhất: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh,

là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Quan niệm này khơng đề cập đến chi phí kinh

doanh, do đó nếu hoạt động kinh doanh đều tạo ra cùng một kết quả kinh doanh thì

sẽ có hiệu quả như nhau mặc dù chi phí của chúng là khác nhau. Hiệu quả có được

khi kinh doanh đem lại doanh thu cao.

+ Thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần trăm tăng thêm của

kết quả kinh doanh và phần tăng lên của chi phí. Quan điểm này nêu rõ mối quan hệ

chặt chẽ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra nhưng chỉ xét đến phần tăng thêm.

Theo quan điểm này, hiệu quả chỉ có được khi kinh doanh mà phần doanh thu tăng

thêm lớn hơn phần chi phí tăng thêm.

+ Thứ ba: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được

và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điều này chỉ ra mối quan hệ giữa kết quả và

chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy vậy, kết quả

và chi phí ln vận động, nên quan điểm này chưa thể hiện được tương quan về

lượng và chất giữa kết quả và chi phí.

+ Thứ tư: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ giữa sự vận

động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh

được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này so sánh tốc độ vận

động của của kết quả và chi phí. Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng nguồn

lực sản xuất của doanh nghiệp.

Như vậy, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là một đại lượng so sánh

giữa kết quả thu được từ kinh doanh nhập khẩu và toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được

kết quả đó (bao gồm cả chi phí bằng vật chất và sức lao động).

Nếu ta ký hiệu :

K : là kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa

(*)(*) Adam Smith là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn người Scotland; là nhân



vật mở đường cho phát triển lý luận kinh tế trên thế giới.



SVTH: Trần Thị Nết



11



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



C : chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

E : hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

Ta có cơng thức chung là :

E = K - C (1)

E = (2)

(1): hiệu quả tuyệt đối.

(2): hiệu quả tương đối

Nói một cách chung nhất, kết quả K mà chủ thể kinh doanh nhập khẩu nhận

được theo hướng mục tiêu trong kinh doanh càng lớn hơn chi phí C bỏ ra bao nhiêu

thì càng có lợi. Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá hoạt động kinh

doanh nhập khẩu của một doanh nghiệp hay quốc gia và là cơ sở để lựa chọn các

phương án tối ưu nhất.

(Nguồn: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và hiệu quả kinh

doanh nhập khẩu hàng hóa tại doanh nghiệp (2013), Đại học kinh tế quốc dân.)

2.1.3 Đặc điểm và vai trò của nhập khẩu

a. Đặc điểm

Thị trường nhập khẩu rất đa dạng: Hàng hóa và dịch vụ có thể nhập khẩu từ

nhiều nước khác nhau. Dựa trên lợi thế so sánh (**): lợi thế so sánh của mỗi quốc gia

khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng, thu hẹp hay thị đổi thị

trường nhập khẩu của mình.

- Đầu vào (nguồn cung ứng trong đó có nguồn nhập khẩu), đầu ra (khách

hàng) của doanh nghiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng của

người trong nước. Nguồn cung ứng và đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng

phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của cơng ty, khả năng thích nghi và đáp ứng

nhu cầu thị trường cũng như biến động của nguồn cung ứng.

- Phương thức thanh toán: Trong kinh doanh nhập khẩu, các bên sử dụng

nhiều phương thức thanh toán, việc sử dụng phương thức thanh toán nào là do hai

bên tự thỏa thuận được quy định trong điều khoản hợp đồng và trong kinh doanh

nhập khẩu thường sử dụng ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh tốn. Vì vậy mà

(**)(**) Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học nói rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó



chun mơn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương

đối.



SVTH: Trần Thị Nết



12



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



thanh tốn trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nội

tệ (VND) và ngoại tệ.

- Chịu chi phối bởi nhiều hệ thống pháp luật, thủ tục: Hoạt động nhập khẩu có

sự tham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi hệ

thống pháp luật và thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau.

- Việc trao đổi thông tin với đối tác phải được tiến hành nhanh chóng thơng

qua các phương tiện công nghệ hiện đại như Telex, Fax. Đặc biệt trong thời đại

thông tin hiện nay giao dịch điện tử, hệ thống internet là công cụ đắc lực cho kinh

doanh.

- Về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến

yếu tố nước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua các biên giới quốc gia, có khối

lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và

vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn... Vậy nên hoạt động nhập khẩu

đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp.

b. Vai trò của nhập khẩu

Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành hoạt động ngoại thương. Có

thể hiểu đó là việc mua bán hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu

trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện sự

phụ thuộc gắn bó giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Vai trò của

nhập khẩu càng quan trọng khi xu hướng các nước sang các quốc gia khác đầu tư

đối ngoại ngày càng nhiều.

- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng trong nước, cho phép tiêu dùng một

lượng hàng hóa lớn hơn khả năng sản xuất trong nước và tăng mức sống của nhân

dân.

- Nhập khẩu làm đa dạng hóa mặt hàng về chủng loại, quy cách, mẫu mã cho

phép thỏa mãn nhu cầu trong nước.

- Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao cơng nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt

bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ

trong phát triển xã hội.

- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra động lực



SVTH: Trần Thị Nết



13



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



bắt buộc các nhà sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã

hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.

- Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế

độ tự cấp, tự túc.

- Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hóa q hiếm hoặc hiện

đại mà trong nước khơng thể sản xuất được).

- Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong nước và ngoài

nước với nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được

lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chun mơn hóa.

2.2 Các lý thuyết về nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

2.2.1 Các hình thức nhập khẩu

Các hình thức hoạt động kinh doanh nhập khẩu thông dụng ở nước ta hiện

nay:

- Nhập khẩu trực tiếp: Hàng hóa được mua trực tiếp từ nước ngồi khơng

thơng qua trung gian. Bên xuất khẩu giao hàng trực tiếp cho bên nhập khẩu. Trong

hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động

tìm kiếm đối tác, đàm phán kí kết hợp đồng… và phải tự bỏ vốn để kinh doanh

hàng nhập khẩu, phải chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường,giao nhận

lưu kho bãi, nộp thuế tiêu thụ hàng hóa. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong

nước và quốc tế, các doanh nghiệp tính tốn chính xác chi phí, tuân thủ đúng chính

sách, luật pháp quốc gia và pháp luật quốc tế.

- Nhập khẩu ủy thác: Là hình thức nhập khẩu gián tiếp thơng qua trung gian

thương mại. Bên nhờ ủy thác sẽ phải trả một khoản tiền cho bên nhận ủy thác dưới

hình thức phí ủy thác, còn bên nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung

của hợp đồng ủy thác đã được kí kết giữa các bên. Hình thức này giúp cho doanh

nghiệp nhận ủy thác khơng mất nhiều chi phí, độ rủi ro thấp nhưng lợi nhuận từ

hoạt động này không cao.

- Nhập khẩu hàng đổi hàng: Nhập khẩu hàng đổi hàng là hai nghiệp vụ chủ

yếu của buôn bán đối lưu, nó là hình thức nhập khẩu đi đơi với xuất khẩu. Hoạt

động này được thanh tốn khơng phải bằng tiền mà chính là hàng hóa. Hàng hóa

nhập khẩu và xuất khẩu có giá trị tương đương nhau.



SVTH: Trần Thị Nết



14



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



- Nhập khẩu liên doanh: Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết

kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp, trong đó có ít nhất một bên là

doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp các kĩ năng để cùng giao dịch và

đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên được quy định theo tỷ lệ vốn đóng góp.

Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải kí hai loại hợp

đồng.

- Nhập khẩu gia cơng: Là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu (là bên

nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên

đặt gia cơng) về để tiến hành gia công theo những quy định trong hợp đồng ký kết

giữa hai bên.

(Nguồn: Các hình thức nhập khẩu (2013), Đại học kinh tế quốc dân).

2.2.2 Phân loại các hiệu quả nhập khẩu

Việc phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa theo các tiêu thức

khác nhau có tác dụng thiết thực cho cơng tác quản lý kinh doanh. Nó là cơ sở để

xác định các chỉ tiêu, mức hiệu quả và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả

kinh tế kinh doanh nhập khẩu hàng hóa.

- Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân:

+ Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động kinh

doanh của từng doanh nghiệp nhập khẩu. Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là

doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được.

+ Hiệu quả kinh tế cá biệt mà kinh doanh thương mại quốc tế đem lại cho nền

kinh tế quốc dân là sự đóng góp của họat động thương mại quốc tế vào việc sản

xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng

thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân…

- Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp :

Tại mỗi doanh nghiệp, chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh suy đến

cùng cũng đều là chi phí lao động xã hội, nhưng khi đánh giá hiệu quả kinh tế, chi

phí lao động xã hội biểu hiện dưới dạng chi phí cụ thể như :

+ Chi phí trong q trình sản xuất sản phẩm.

+ Chi phí ngồi q trình sản xuất sản phẩm



SVTH: Trần Thị Nết



15



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể phân chia chi tiết theo những tiêu thức

nhất định. Do đó, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động thương mại cần phải

đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên đây đồng thời lại phải đánh giá

hiệu quả của từng loại chi phí.

- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh :

+ Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể

bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn, tính

tốn mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành) hoặc từ một

đồng vốn bỏ ra…

+ Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả

tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là

mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án.

Giữa hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh mặc dù độc lập với nhau song

chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và làm căn cứ cho nhau.

Trên cơ sở của hiệu quả tuyệt đối, người ta sẽ xác định được hiệu quả so sánh, từ

hiệu quả so sánh xác định được phương án tối ưu.

(Nguồn: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và hiệu quả kinh

doanh nhập khẩu hàng hóa tại doanh nghiệp (2013), Đại học kinh tế quốc dân)

2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

- Lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu :

Lợi nhuận nhập khẩu = Doanh thu nhập khẩu - Chi phí nhập khẩu

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối

cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tiền đề duy trì và tái sản xuất mở

rộng của doanh nghiệp.

Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết công ty thu được bao nhiêu tiền sau khi đã trừ đi

các khoản chi phí. Khi lợi nhuận càng lớn thì doanh nghiệp làm ăn càng có lãi.

- Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu:



Ln

Dn

Trong đó: H1 là tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu

H1 =



SVTH: Trần Thị Nết



16



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

Dn là doanh thu từ nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng doanh thu từ nhập khẩu thì thu được bao nhiêu đồng lợi

nhuận nhập khẩu. Chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả.

- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí nhập khẩu:

Ln

Cn

Trong đó: H2 là tỷ suất lợi nhuận theo chi phí nhập khẩu

H2 =



Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

Cn là chi phí cho nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu lợi nhuận.

- Tỷ suất lợi nhuận theo vốn nhập khẩu:

Ln

Vn

Trong đó: H3 là tỷ suất lợi nhuận theo vốn nhập khẩu

H3 =



Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

Vn là vốn bỏ ra cho nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng vốn đầu tư vào nhập khẩu thì thu được bao nhiêu đồng

doanh thu hay thể hiện số vòng luân chuyển vốn nhập khẩu.

- Hiệu quả sử dụng vốn:

+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định:

Ln

H4 = VCD

n

Trong đó: H4 là hiệu quả sử dụng vốn cố định

Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

VCDn là vốn đầu tư hàng loạt vào nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng vốn đầu tư vào nhập khẩu thì thu được bao nhiêu lợi

nhuận từ nhập khẩu. Chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu

quả.



SVTH: Trần Thị Nết



17



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

Ln

VLDn

Trong đó: H5 là hiệu quả sử dụng vốn lưu động

H5 =



Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

VLDn là vốn đầu tư vào hoạt động nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng vốn lưu động đầu tư vào nhập khẩu thì thu được bao nhiêu

lợi nhuận.

+ Số vòng quay của tồn bộ vốn nhập khẩu:

Dn

Vn



H6 =



Trong đó: H6 là số vòng quay vốn nhập khẩu

Dn là doanh thu từ nhập khẩu

Vn là vốn đầu tư vào nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng vốn đầu tư vào nhập khẩu thì thu được bao nhiêu doanh

thu hay thể hiện số vòng luân chuyển của vốn nhập khẩu.

Số vòng quay càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn càng tăng.

+ Số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu:

Dn

VLDn

Trong đó: H7 là số vòng quay vốn nhập khẩu

H7 =



Dn là doanh thu từ nhập khẩu

VLDn là vốn lưu động đầu tư vào nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 đồng vốn lưu động đầu tư vào nhập khẩu thì thu được bao nhiêu

đồng doanh thu hay thể hiện số vòng của vốn lưu động.

Số vòng quay càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn càng tăng.

+ Thời gian vòng quay vốn lưu động:

360

H7

Trong đó: H8 là thời gian cho 1 vòng quay vốn lưu động

H8 =



H7 là số vòng quay vốn nhập khẩu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho thấy thời gian để vốn lưu động quay được một vòng.

Chỉ tiêu này tỉ lệ nghịch với số vòng quay vốn lưu động.



SVTH: Trần Thị Nết



18



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



- Hiệu quả sử dụng lao động:

Ln

LDn

Trong đó: H9 là mức sinh lời của một lao động khi tham gia vào nhập khẩu

H9 =



Ln là lợi nhuận thu được từ nhập khẩu

LDn là số lao động tham gia vào hoạt động nhập khẩu

Ý nghĩa: Cứ 1 lao động tham gia vào hoạt động nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu

lợi nhuận trong kì phân tích.

Chỉ tiêu này càng lớn thì sử dụng lao động càng có hiệu quả.

+ Doanh thu bình qn trên một lao động tham gia nhập khẩu:

Dn

LDn

Trong đó: H10 là doanh thu bình quân trên một lao động tham gia nhập khẩu

H10 =



Dn là doanh thu từ hoạt động tham gia nhập khẩu

LDn là số lao động tham gia vào hoạt động nhập khẩu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết 1 lao động tham gia vào hoạt động nhập khẩu

có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong một kì phân tích.

Chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp sử dụng lao động càng có hiệu quả.

(Nguồn: Ths. Nguyễn Văn Tạo (2004), Nâng cao hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí thương mại).

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của công ty

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một họat động kinh doanh hết sức phức

tạp và nhạy cảm với mơi trường kinh doanh. Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến

hoạt động nhập khẩu, đó là:

- Những nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp: Các yếu tố bên trong

doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh

nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là yếu tố nội lực quyết định hoạt động

nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay khơng. Các nhân tố đó là:

+ Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến điều

kiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu như việc tổ chức kinh

doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù hợp với yêu

cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ góp phần



SVTH: Trần Thị Nết



19



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Làm tốt cơng tác tổ chức kinh

doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu: Chuẩn bị trước khi giao dịch

như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng trong nước, lập phương án

kinh doanh thận trọng...

+ Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp có

ảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói

riêng và hoạt động kinh doanh tồn doanh nghiệp nói chung. Tổ chức bộ máy quản

lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công tác nâng cao hiệu

quả kinh doanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh

nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh XNK.

+ Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quan

trọng có tính chất quyết định đối với sự thành cơng hay thất bại trong hoạt động

kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Nếu doanh nghiệp có đội

ngũ cán bộ cơng nhân viên năng động, có năng lực, trình độ chun mơn cao, nhiệt

tình, tích cực trong cơng tác kết hợp với việc bố trí nguồn nhân lực theo chiến lược

“ đúng người, đúng việc, đúng lúc” của doanh nghiệp thì nhất định sẽ có ảnh hưởng

tích cực tới hiệu quả kinh doanh.

+ Vốn kinh doanh: Là nhân tố tối quan trọng, là thành phần không thể thiếu

trong kinh doanh, nó là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp.

+ Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu cơng ty có cơ sở

vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công

việc kinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hố được tốt hơn, tiết

kiệm chi phí trong khâu vận chuyển , nâng cao chất lượng phục vụ

+ Thị trường - khách hàng: Thị trường là một tấm gương trung thực cho các

doanh nghiệp tự soi vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình. Hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào mức độ đáp

ứng các yêu cầu của thị trường.

- Những nhân tố ảnh hưởng bên ngồi doanh nghiệp.

Đây là nhóm nhân tố có tầm ảnh hưởng vĩ mơ điều tiết hoạt động doanh

nghiệp, nó bao gồm:



SVTH: Trần Thị Nết



20



Lớp: K49E5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Nguyệt Nga



+ Quan hệ chính trị và kinh tế giữa nước ta với nước khác: Hoạt động nhập

khẩu hoạt động trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới, thị trường

quốc tế, đối tượng hợp tác rất đa dạng. Việc mở rộng các mối quan hệ chính trị

ngoại giao sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tiền đề pháp lý cho các tổ chức kinh doanh

phát triển những bạn hàng mới.

+ Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.

Hệ thống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp với thơng lệ quốc

tế.

+ Mơi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng khơng nhỏ đến

hoạt động nhập khẩu. Có đảm bảo ổn định về chính trị, giữ vững mơi trường hồ

bình và hữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thì mới tạo bầu khơng

khí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói

riêng.

+ Mơi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mơ nên kinh tế trong đó

chú ý đảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâm hụt của cán

cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnh hố mơi trường kinh

doanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

2.3 Phân định nội dung nghiên cứu

Từ thực tế tiếp thu được khi thực tập tại Công ty cổ phần Emin Việt Nam, em

nhận thấy trong q trình phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu và

đánh giá những mặt đạt được và những tồn tại ở công ty hay cần đề ra phương

hướng giải quyết tồn tại thì cần thực hiện 4 tiêu chí đánh giá sau:

- Tiêu chí 1: Lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu

- Tiêu chí 2: Tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nhập khẩu

- Tiêu chí 3: Hiệu quả sử dụng vốn

- Tiêu chí 4: Hiệu quả sử dụng lao động

Trong đó, với tiêu chí 3, đề tài phân tích về hiệu quả sử dụng vốn cố định và

số vòng quay của tồn bộ vốn nhập khẩu; với tiêu chí 4 sẽ được phân tích hiệu quả

sử dụng lao động và doanh thu bình quân trên một lao động tham gia nhập khẩu.



SVTH: Trần Thị Nết



21



Lớp: K49E5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: KHÁI LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×