1. Trang chủ >
  2. Cao đẳng - Đại học >
  3. Chuyên ngành kinh tế >

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ phát triển thị trường xuất khẩu của DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (367.23 KB, 65 trang )


2.2. Các lý thuyết cơ bản về phát triển thị trường xuất khẩu

2.2.1. Khái niệm phát triển thị trường

Phát triển thị trường là tổng hợp các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để

đưa khối lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường đạt mức tối đa.

Phát triển thị trường sản phẩm của doanh nghiệp ngoài việc đưa sản phẩm hiện

tại vào bán trong thị trường mới còn bao gồm cả việc khai thác tốt thị trường hiện

tại để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng từ đó gia tăng và mở rộng thị phần.

2.2.2. Khái niệm phát triển thị trường xuất khẩu

Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì phát triển thị trường xuất khẩu là tổng hợp

các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để đưa ngày càng nhiều khối lượng sản

phẩm ra nhiều thị trường ngoài nước để tiêu thụ. Phát triển thị trường xuất khẩu của

doanh nghiệp không chỉ là việc phát triển thêm những thị trường mới mà còn phải

làm tăng thị phần của sản phẩm trên các thị trường đã có sẵn.

Cụ thể hơn, phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp chính là việc

khai thác một cách tốt nhất thị trường hiện tại, đưa các sản phẩm hiện tại của doanh

nghiệp vào tiêu thụ ở những thị trường mới đáp ứng được cả nhu cầu cả thị trường

hiện tại lẫn thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp có ý định thâm nhập.

2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường xuất khẩu của doanh

nghiệp

2.2.3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

a. Các yếu tố thuộc môi trường trong nước

 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị

tiền tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đối là nhân tố quan trọng

để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hố quốc tế

nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.

Tỷ giá hối đối thực là mức giá tương đối của những hàng hoá mậu dịch tương

ứng với các hàng hóa phi mậu dịch. Như vậy điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ tương

ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thương mại hố và hàng hố khơng thương mại hố

đem lại đồng thời sự cân bằng nội và cân bằng ngọai.



6



Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so với

nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá ngun vật liệu đầu vào

thấp hơn, chi phí nhân cơng rẻ hơn làm cho giá thành sản phẩm ở nước xuất khẩu rẻ

hơn so với nước nhập khẩu. Còn đối với nước nhập khẩu thì cầu về hàng nhập khẩu sẽ

tăng lên do phải mất chi phí lớn hơn để sản xuất hàng hoá ở trong nước. Điều này đã

tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất

khẩu của mình, do đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối.

 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế

Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa ra

các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng hạn chiến lược phát

triển kinh tế theo hướng CNH- HĐH đòi hỏi xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu

nhập khẩu các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, mục tiêu bảo hộ sản xuất

trong nước đưa ra các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu

hàng tiêu dùng.

 Thuế quan xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu

- Thuế quan xuất khẩu

Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất

khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo

chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ kinh tế đối

ngoại.

- Hạn ngạch xuất khẩu

Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được hiểu như

qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay của một nhóm hàng

được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấy phép. Sở dĩ

có cơng cụ này vì khơng phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi

khi về quyền lợi quốc gia phải kiểm sốt một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản

phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu.

- Trợ cấp xuất khẩu

Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu

để tăng mức độ xuất khẩu hàng hố của nước mình, tạo điều kiện cho sản phẩm có sức



7



cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới. Trợ cấp xuất khẩu sẽ làm tăng giá nội địa của

hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu.

 Các yếu tố xã hội

Nền văn hoá tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các thức tiêu

dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và cách thoả mãn của con

người sống trong đó.Chính vì vậy văn hố là yếu tố chi phối lối sống nên các nhà xuất

khẩu ít nhiều cũng bị chi phối nền văn hóa dân tộc. Do đó, nhà xuất khẩu phải quan

tâm tìm hiểu yếu tố văn hố ở các thị trường mà mình tiến hành hoạt động xuất khẩu.

 Các yếu tố chính trị- pháp luật

Yếu tố chính trị là nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế q trình quốc tế hố hoạt

động kinh doanh. Chính sách của chính phủ có thể làm tăng sự liên kết các thị trường

và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu bằng việc dỡ bỏ các hàng rào thuế

quan, phi thuế quan, thiết lập các mối quan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường. Khi

khơng ổn định về chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế của Đất nước và tạo ra tâm lý

khơng tốt cho các nhà kinh doanh.

Chính sách ngoại thương của chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay đổi. Sự thay

đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh xuất khẩu. Vì vậy họ

phải nắm bắt được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước để biết được xu hướng

vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước.

 Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ

- Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thời gian

thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn

nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất khẩu.

- Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị trường

tiêu thụ.

- Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên tai như

bão, động đất.

- Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép

các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thơng tin, tạo điều

kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, nâng

cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Đồng thời yếu tố cơng nghệ còn tác động đến q

8



trình sản xuất, gia cơng chế biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác có liên quan như

vận tải, ngân hàng,…

 Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến xuất

khẩu, chẳng hạn như:

- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển.

- Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép các nhà

kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn. Ngoài ra ngân

hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh băng các dịch vụ thanh toán

qua ngân hàng.

- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hoá cho phép các hoạt động xuất

khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt được mức độ thiệt hại

khi có rủi ro xảy ra…

 Cung hàng xuất khẩu, giá hàng xuất khẩu

- Cung hàng xuất khẩu là hoạt động bán hàng, kinh doanh ngoại thương mà hàng

hoá

dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác.

- Giá hàng xuất khẩu (giá hàng XK) là giá bán sản phẩm (hàng hóa) từ nước sản

xuất (nước xuất khẩu) sang nước nhập khẩu.

- Mối quan hệ giữa cung hàng xuất khẩu và giá hàng xuất khẩu có ảnh hưởng đến

phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất là khi giá hàng xuất khẩu tăng, cung hàng xuất khẩu tăng là bàn đạp

giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận thế nhưng một thách thức đặt ra là giá hàng xuất

khẩu tăng, cầu nhập khẩu giảm, nhà nhập khẩu tìm kiếm đối tác mới. Điều này ảnh

hưởng đến phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Lật lại vấn đề trong

trường hợp nhà nhập khẩu khơng có hoặc có ít sự lựa chọn do biến động thị trường,

chính sách của các nước xuất khẩu,… doanh nghiệp nhập khẩu chấp nhận giá cao.

Điều này giúp doanh nghiệp xuất khẩu mở rộng và phát triển thị trường tại nhiều khu

vực trên nước nhập khẩu hoặc hơn nữa là vươn ra quốc gia khác.

Thứ hai khi giá hàng xuất khẩu giảm, cung hàng giảm tại mức này doanh nghiệp

có thể giữ vốn duy trì cơng ty hoặc giảm xuất khẩu,…Điều này hạn chế phát triển thị

trường xuất khẩu của doanh nghiệp.

9



 Các đối thủ cạnh tranh và các hãng xuất khẩu cùng mặt hàng

Đối thủ cạnh tranh là những đối thủ có cùng phân khúc khách hàng, cùng sản

phẩm, cùng giá và có sức mạnh cạnh tranh trên cùng phân khúc thị trường.

Các hãng sản xuất cùng mặt hàng thường được xem như là đối thủ cạnh tranh của

nhau.

Đối thủ cạnh tranh trong nước hay ngoài nước càng mạnh, có uy tín cao,…thì

mức độ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu tất yếu cao.

Ngược lại nếu doanh nghiệp xuất khẩu mạnh, có nhiều năm kinh nghiệm và tạo dựng

được nhiều mối quan hệ tốt từ đó giúp doanh nghiệp xuất khẩu vượt qua đối thủ cạnh

tranh hay các hãng xuất khẩu cùng mặt hàng để từ đó phát triển thị trường xuất khẩu

một cách dễ dàng,thuận lợi hơn.

b. Các yếu tố thuộc mơi trường quốc tế

 Mơi trường văn hóa

Mỗi nước có bản sắc văn hố riêng biệt quyết định mạnh mẽ đến hành vi, thái độ,

tâm lý, sở thích... của người tiêu dùng nước đó. Có thể hiểu văn hố như là một sản

phẩm của con người được nhận thức và truyền bá từ người này sang người khác, từ thế

hệ này sang thế hệ khác với cách ứng xử, thái độ, niềm tin... của người dân và nhiều

vấn đề quan trọng khác. Nó biểu hiện thể chế của một xã hội và trở thanh bản sắc dân

tộc. Mỗi dân tộc có nền văn hố riêng biệt nhưng cũng có nhiều cái chung, những đặc

trưng tiêu biểu trong cuộc sống cho tất cả các nhóm nước, các vùng. Nền văn hố cho

phép nắm bắt hành vi, thái độ, sở thích liên quan đến sản phẩm, liên quan đến thị

trường xuất khẩu của doanh nghiệp.

 Mơi trường luật pháp – Chính trị

Môi trường luật pháp của nước nhập khẩu ảnh hưởng tới mặt hàng, số lượng,

cách thức của hàng hoá nhập khẩu, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng

những quy tắc nếu muốn hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của họ.

Mơi trường luật pháp - chính trị và các thơng lệ quốc tế: Đòi hỏi các nhà kinh

doanh quốc tế phải có hiểu biết về khung cảnh luật của đàm phán quốc tế. Trước hết

phải nắm chắc các nguyên tắc của luật chi phối đàm phán quốc tế, của luật quốc tế.

Nghiên cứu kỹ vấn đề này sẽ có hướng đi phù hợp, tìm cách xâm nhập thị trường đó dễ

dàng hơn.

10



 Ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Khi xuất khẩu hàng hoá từ nước này sang nước khác, người xuất khẩu phải đối

mặt với các hàng rào thuế quan, phi thuế quan. Mức độ lỏng lẻo hay chặt chẽ của các

hàng rào này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước nhập

khẩu và xuất khẩu.

Ngày nay, đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác

nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết với mục tiêu

đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia nào tham gia vào các liên minh

kinh tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại thì sẽ có nhiều thuận lợi trong hoạt

động xuất khẩu của mình. Ngược lại, đó chính là rào cản trong việc thâm nhập vào thị

trường khu vực đó.

 Nhu cầu của thị trường nước ngồi

Do khả năng sản xuất của nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng được nhu cầu

tiêu dùng trong nước, hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất không đa dạng nên

không thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, nên cũng là một trong những yếu

tố để thúc đẩy xuất khẩu của các nước có khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước

và cả nhu cầu của nước ngoài.

 Đối thủ cạnh tranh quốc tế

Xuất khẩu hàng hóa sang một thị trường nào đó điều khơng thể tránh khỏi cạnh

tranh.

Người nhập khẩu không thể chọn một nhà cung cấp duy nhất mà họ có rất nhiều

sự lựa chọn và cân nhắc. Do đó cạnh tranh là khơng thể tránh khỏi trong mơi trường

tồn cầu hóa như hiện nay.

 Chính sách thương mại của nước nhập khẩu

Các chính sách thương mại của nước nhập khẩu như:

- Thuế quan nhập khẩu là môt loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu.

- Hạn ngạch của thuế quan là biện pháp quản lý xuất nhập khẩu; hàng hóa trong

hạn ngạch mức thuế quan thấp, hàng hóa ngồi hạn ngạch mức thuế quan cao hơn.

- Thuế đối kháng là loại thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà

xuất khẩu sản phẩm đó được chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp.



11



- Thuế chống bán phá giá là một loại thuế quan đặc biệt để ngăn chặn đối phó với

hàng hóa được nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh

không lành mạnh.

Các công cụ phi thuế quan như:

- Hạn ngạch là việc hạn chế số lượng đối với một loại hàng hóa nhập khẩu thơng

qua thơng qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu là quy định lượng hàng

hóa lớn nhất được phép nhập khẩu vào thị trường nào đó trong 1 năm.

- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật như là những quy định về tiêu chuẩn vệ

sinh an tồn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định vè an toàn

lao động, bao bì đóng gói, tiêu chuẩn về mơi trường sinh thái,…

- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là hình thức quốc gia nhập khẩu yêu cầu quốc gia

xuất khẩu hạn chế xuất khẩu môt cách tự nguyện nếu không sẽ bị trả đũa.

2.2.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp



 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực của doanh nghiệp thuộc về nhân tố lao động của doanh

nghiệp. Trình độ chun mơn, năng lực làm việc là nhân tố cơ bản làm nên hiệu quả

kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp sở hữu đội ngũ lao động

chuyên nghiệp, sáng tạo và kinh nghiệm sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh cao hơn,

cũng như mở ra nhiều bước đột phá mới cho doanh nghiệp, và ngược lại.



 Cơ chế tổ chức quản lý của doanh nghiệp

Doanh nghiệp hoạt động dưới một bộ máy điều hành hợp lý và năng lực sẽ là

nền tảng để đưa doanh nghiêp từng bước đi lên.Cơ chế quản lý thích hợp sẽ giúp

doanh nghiệp biết cách sử dụng và quản lý các nguồn lực một cách hiệu quả

nhất.Và ngược lại, một doanh nghiệp điều hành với bộ máy lạc hậu, cồng kềnh sẽ

làm doanh nghiệp chậm tiến và hạn chế hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của mình.



 Tài chính

Vốn là yếu tố khơng thể thiếu trong q trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Cơng ty có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có vị thế hơn trên thị trường, chủ động trong

khâu nguyên vật liệu và tài chính trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang bị máy

móc, kỹ thuật, cũng như cơ hội nhận được nhiều hợp đồng giá trị hơn. Nguồn tài



12



chính mạnh sẽ giúp cho doanh nghiệp giải quyết tốt các tình huống xảy ra trong

kinh doanh cũng như chủ động hơn trong việc xoay vòng vốn.



 Công nghệ làm ra sản phẩm xuất khẩu

Công nghệ làm sản phẩm xuất khẩu ở các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết sử

dụng các máy móc, thiết bị, phương tiện Trung Quốc, Việt Nam ở mức độ đơn giản,

lạc hậu, tiềm ẩn các nguy cơ mất an toàn lao động, lãng phí tài nguyên và chủ yếu

sử dụng lao động đơn giản. Đây là những vấn đề đặt ra từ lâu với ngành sản xuất

chế biến gỗ nguyên liệu.



 Tình hình chấp hành chính sách pháp luật

Bên cạnh những hoạt động trên đối với xã hội, hiệu quả kinh doanh của doanh

nghiệp nói chung và hoạt động kinh doanh xuất khẩu nói riêng còn được đánh giá

qua thái độ chấp hành các chính sách và quy định của doanh nghiệp. Một doanh

nghiệp sẽ được đánh giá cao nếu như ý thức chấp hành, tuân thủ các quy định đầy

đủ và nghiêm túc.Hơn nữa, các doanh nghiệp này chính là tấm gương và hình mẫu

doanh nghiệp đẹp mà Nhà nước ta muốn xây dựng, để tạo nên một môi trường kinh

doanh lành mạnh, phát triển.

2.3 Một số cách thức phát triển thị trường xuất khẩu

2.3.1 Phát triển thị trường theo chiều rộng

Thứ nhất, phát triển thị trường theo vùng địa lý.

Hiện nay nhiều cơng ty lớn mạnh thì việc mở rộng thị trường không chỉ bao

hàm vượt ra khỏi biên giới, khu vực mà còn vươn sang cả châu lục khác.

Tuy nhiên để có thể phát triển thị trường theo vùng địa lý thì sản phẩm của

doanh nghiệp sản xuất ra phải phù hợp và có một khả năng tiêu chuẩn nhất định đối

với những khu vực thị trường mới. Có như vậy mới có khả năng sản phẩm được

chấp nhận và từ đó mới tăng được khối lượng hàng hóa bán ra và công tác phát triển

thị trường mới thu được kết quả.

Song trước khi ra quyết định phát triển thị trường ra một khu vực địa lý khác

thì cơng tác nghiên cứu thị trường là rất cần thiết, không thể dễ dàng cứ đem sản

phẩm của mình đến một chỗ khác bán là thành công mà phải xem xét tới khả năng

của doanh nghiệp, các khó khăn về tổ chức tài chính,…Nhưng nếu sản phẩm được

chấp nhận thì sẽ là điều kiện tốt để doanh nghiệp phát triển.

13



Thứ hai, mở rộng đối tượng tiêu dùng.

Bên cạnh việc mở rộng ranh giới thị trường theo vùng địa lý, chúng ta có thể

mở rộng và phát triển thị trường bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm

khách hàng của đối thủ chuyển sang sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mình.

Có thể trước đây sản phẩm của doanh nghiệp chỉ nhằm vào một số đối tượng

nhất định trên thị trường thì nay đã thu hút thêm nhiều đối tượng khác nữa. Điều

này cũng làm tăng doanh số bán và dẫn tới tăng lợi nhuận. Một số sản phẩm đứng

dưới góc độ người tiêu dùng xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng được nhiều mục

tiêu sử dụng khác nhau. Do đó ta có thể dễ dàng nhằm vào những nhóm người tiêu

dùng khác nhau khơng hoặc ít quan tâm tới hàng hố, sản phẩm do doanh nghiệp

sản xuất ra. Nhóm người này cũng có thể được xếp vào khu vực thị trường còn bỏ

trống mà doanh nghiệp có khả năng khai thác.

Phát triển thị trường theo chiều rộng nhằm vào các nhóm người tiêu dùng mới

là một trong các cách phát triển thị trường song nó lại đòi hỏi cơng tác nghiên cứu

thị trường phải được nghiên cứu căn kẽ, cẩn thận nếu không công tác phát triển thị

thị trường sẽ không đạt hiệu quả cao.

Việc tăng số lượng người tiêu dùng hàng hoá nhằm tăng doanh số bán từ đó

thu được lợi nhuận cao hơn.

Để xem xét việc phát triển theo chiều rộng sẽ đi tính và đánh giá các chỉ tiêu

sau:

-



Thứ nhất, chỉ tiêu số lượng thị trường mới:



Chỉ tiêu này có cơng thức tính như sau:

Đơn vị: thị trường

Số lượng thị trường



=



Tổng số lượng thị



-



Tổng số lượng thị



mới

trường năm sau

trường năm trước

Việc tính tốn chỉ tiêu này nhằm giúp công ty đánh giá được số lượng thị

trường mới mà công ty đã mở rộng thêm được qua mỗi năm.Chỉ tiêu này có giá trị

càng lớn thì chứng tỏ việc mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ nguyên liệu của công ty

càng hiệu quả.

-



Thứ hai, chỉ tiêu số lượng thị trường thực mới.



Chỉ tiêu này có cơng thức tính như sau:

Đơn vị tính: thị trường

14



Số thị trường

thực mới



Số thị trường mới



=



trong năm A



-



Số thị trường mất đi

trong năm A



Đây là chỉ tiêu phản ánh thực chất số thị trường mà cơng ty có thêm được, do

trong q trình phát triển thị trường xuất khẩu gỗ nguyên liệu, công ty có thể mất đi

thị trường cũ. Do vậy, chỉ tiêu này giúp chỉ ra số thị trường thực chất mà cơng ty có

thêm được trong 1 năm.

-



Thứ ba, chỉ tiêu tốc độ gia tăng thị trường mới.



Chỉ tiêu này có cơng thức tính như sau:

Đơn vị tính: %

Tốc độ gia tăng



Số thị trường mới năm sau

x 100 (%)

Số thị trường mới năm trước

thị trường mới

Chỉ tiêu tốc độ gia tăng thị trường mới cho biết việc mở rộng thị trường xuất

=



khẩu gỗ nguyên liệu của công ty diễn ra nhanh hay chậm thông qua việc so sánh tốc

độ gia tăng thị trường mới giữa các năm với nhau. Tốc độ gia tăng thị trường mới

được coi là nhanh nếu đạt trên 100%, ngược lại nếu dưới 100% thì được coi là

chậm.

2.3.2 Phát triển thị trường theo chiều sâu

Các nhà sản xuất kinh doanh phát triển theo chiều sâu thường đặt câu hỏi liệu

với nhãn hiệu sản phẩm hiện tại của mình, với tiếng vang sẵn có về sản phẩm thì có

thể tăng khối lượng hàng bán cho nhóm khách hàng hiện có mà khơng phải thay đổi

gì cho sản phẩm. Từ đó dẫn tới tăng doanh số bán và thu được nhiều lợi nhuận hơn.

Hay nói cách khác doanh nghiệp vẫn tiếp tục kinh doanh những sản phẩm quen

thuộc trên thị trường hiện tại, nhưng tìm cách đẩy mạnh khối lượng hàng tiêu thụ

lên. Trong trường hợp này doanh nghiệp có thể vận dụng bằng cách hạ thấp giá sản

phẩm để thu hút người mua mua nhiều hơn trước hoặc quảng cáo sản phẩm mạnh

mẽ hơn nữa để đạt được mục đích cuối cùng là khơng để mất đi một người khách

nào hiện có của mình và tập trung sự tiêu dùng của nhóm khách hàng sử dụng đồng

thời nhiều sản phẩm tương tự sang sử dụng duy nhất sản phẩm của doanh nghiệp

mình.

Để xem xét phát triển theo chiều sâu, ta sẽ đi tính và đánh giá các chỉ tiêu sau

đây:

15



- Thứ nhất, chỉ tiêu thị phần tăng thêm.

Chỉ tiêu này có cơng thức tính như sau:

Đơn vị tính: %

Thị phần tăng thêm

=

Thị phần năm sau

Thị phần năm trước

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ khai thác thị trường hiện có của cơng ty qua

từng năm.Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn thì việc khai thác thị trường hiện có của

cơng ty càng hiệu quả và ngược lại.

-



Thứ hai, chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu.



Chỉ tiêu này có cơng thức tính như sau:

Đơn vị tính: %



Tốc độ tăng kim ngạch

xuất khẩu



Kim ngạch xuất khẩu năm sau

=



Kim ngạch xuất khẩu năm



x 100 (%)



trước

Chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch giúp phản ánh khả năng phát triển thị trường ở

các thị trường hiện có là nhanh hay chậm.

2.4 Phân định nội dung đề tài

Phát triển thị trường xuất khẩu là một hoạt động thách thức đối với doanh

nghiệp bởi thị trường xuất khẩu phức tạp, mang ý nghĩa sâu rộng. Khi đi nghiên cứu

về phát triển thị trường xuất khẩu ta có thể đánh giá dựa vào chỉ tiêu phát triển thị

trường theo chiều rộng và phát triển thị trường theo chiều sâu. Trong phạm vi

nghiên cứu đề tài khóa luận về phát triển thị trường xuất khẩu gỗ nguyên liệu của

một doanh nghiệp, dựa trên kiến thức tích lũy được trong thời gian thực tập tại công

ty TNHH thương mại Xuất nhập khẩu Tân Hà, em xin định hướng nghiên cứu của

mình trong bài khóa luận như sau:

- Đặc điểm doanh nghiệp như giới thiệu cơng ty, nhà máy, cơ sở vật chất,

nguồn lực,…từ đó có cái nhìn bao qt về cơng ty để đánh giá được mức độ ảnh

hưởng của các yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến phát triển thị trường

xuất khẩu như thế nào.



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (65 trang)

×