Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 15: Bố trí bộ quá nhiệt tổ hợp

Hình 15: Bố trí bộ quá nhiệt tổ hợp

Tải bản đầy đủ - 0trang

https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



khơng cần cao, nhưng khi đó phần bức xạ có nhiệt độ khói và

nhiệt độ hơi đều cao nên kim loại làm việc trong điều kiện nặng

nề, kim loại phải rất tốt, do đó sơ đồ này ít dùng.

Khi bố trí bộ q nhiệt đối lưu bức xạ thì u cầu về kim loại

đối với phần đối lưu có cao hơn, nhưng đã khắc phục được

nhược điểm trên. Tuy nhiên khi đó hơi trong phần đối lưu có

nhiệt độ cao hơn nên độ chênh nhiệt độ giữa khói và hơi sẽ bị

giảm làm tăng diện tích bề mặt phần quá nhiệt đối lưu.

Khi bố trí bức xạ đối lưu thì yêu cầu về kim loại đối với phần

đối lưu có cao hơn, nhưng đã khắc phục được nhược điểm trên.

Tuy nhiên khi đó hơi trong phần đối lưu có nhiệt độ cao hơn nên

độ chênh nhiệt độ giữa khói và hơi sẽ bị giảm làm tăng diện tích

bề mặt phần quá nhiệt đối lưu.

Khi bố trí bức xạ đối lưu bức xạ thì phần hơi ra của bộ quá

nhiệt vừa có nhiệt độ cao, đồng thời là phần bức xạ được bố trí

trong vùng khói cónhiệt độ cao kim loại phải làm việc trong điều

kiện rất nặng nề.

4. Các nguyên nhân làm thay đổi nhiệt độ hơi quá nhiệt

Trong quá trình vận hành, nhiệt độ hơi q nhiệt có thể

thayđổi do các nguyên nhân sau:

1. Do thay đổi phụ tải của lò, khi phụ tải tăng lên thì nhiệt

độ hơi quá nhiệt giảm xuống. Khi phụ tải giảm thì nhiệt độ hơi

quá nhiệt tăng

2. Do dao động áp suất trong đường hơi chung (ở các lò có

ống góp hơi chung): Khi áp suất trong đường hơi chung giảm thì

lượng hơi ra khỏi lò đivào ống góp chung tăng lên do đó tình

trạng sẽ xẩy ra như khi tăng phụ tải.



https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



3. Do thay đổi nhiệt độ của nước cấp: khi nhiệt độ nước cấp

tăng lên thì độ gia nhiệt nước trong các ống sinh hơi sẽ giảm,

do đó nhiệt độ khói ra khỏi buồng lửa (vào bộ quá nhiệt) sẽ

tăng làm cho nhiệt độ hơi quá nhiệt cũng tăng theo và ngược

lại.

4. Do thay đổi chất lượng nhiên liệu: khi chất lượng nhiên

liệu tăng nghĩa là lượng nhiệt cấp vào buồng lửa tăng thì nhiệt

độ hơi quá nhiệt tăng.

5. Do thay đổi hệ số khơng khí thừa: khi hệ số khơng khí

thừa tăng thì nhiệt độ hơi q nhiệt tăng.

6. Do đóng xỉ ở dàn ống sinh hơi, cụm Pheston: Khi đóng xỉ

ở dàn ống sinh hơi, cụm Pheston thì nhiệt độ hơi quá nhiệt tăng.

7. Do bám bẩn trên các bề mặt đốt của lò, do nảnh

hưởngcủa việc thổi tro bám.

8. Do có hiện tượng cháy lại trong bộ quá nhiệt: Khi có hiện

tượng cháy lại trong bộ quá nhiệt thì nhiệt độ hơi quá nhiệt

tăng.

9. Do thay đổi vị trí trung tâm ngọn lửa hoặc do máy cấp

than bột làm việc khơng đều, cấp than vào vòi phun khơng đều.

5. Tầm quan trọng của việc bảo đảm ổn định nhiệt độ hơi quá nhiệt

Nhiệt độ hơi quá nhiệt là nhiệt độ của hơi ra khỏi ống góp

hơi của bộ quá nhiệt trước khi sang tuốc bin. Nhiệt độ hơi quá

nhiệt thay đổi sẽ dẫn đến một loạt thay đổi khác gây ảnh hưởng

xấu đến chế độ làm việc của lò và tuốc bin.

- Khi nhiệt độ hơi thay đổi thì nhiệt dáng dòng hơi thay đổi

làm thay đổi cơng suất tuốc bin do đó có thể làm thay đổi tốc

độ quay của tổ tuốc bin máy phát, dẫn đến làm giảm chất lượng

dòng điện (thay đổi điện áp và tần số dòng điện).



https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



- Nếu nhiệt độ hơi quá nhiệtgiảm xuống sẽ làm giảm hiệu

suất nhiệt của chu trình đồng thời làm giảm cơngsuất tuốc bin,

mặt khác khi đó độ ẩm của hơi ở các tầng cuối tuốc bin tăng lên

làm giảm hiệu suất tuốc bin và làm tăng tốc độ ăn mòn cánh

tuốc bin.

- Nếu nhiệt độ hơi quá nhiệt tăng lên quá trị số qui định, khi

đó các chi tiết của bộ quá nhiệt cũng như tuốc bin phải làm việc

trong điều kiện nặng nề hơn, làm cho độ bền của kim loại giảm

xuống, có thể gây nổ các ống của bộ quá nhiệt hoặc làm cong

vênh các cánh của tuốc bin gây nên cọ xát giữa phần đứng yên

và phần quay của tuốc bin, gây sự cố.

Ví dụ: Các ống xoắn của bộ qúa nhiệt được chế tạo bằng

thép 12X 1M được tính tốn để có thể làm việc ổn định đến

100.000 giờ ở nhiệt độ hơi 5850C, nhưng sẽ giảm đi còn 30.000

giờ nếu làm việc với nhiệt độ hơi là 5950C. Bởi vậy, cần thiết

phải tìm các biện phápđiều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt nhằm

đảm bảo ổn định nhiệt độ hơi quá nhiệt ở giá trị qui định.

Khi bố trí bộ quá nhiệt theo kiểu tổ hợp cũng có thể có tác

dụng điều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt trong phạm vi tương đối

rộng. Ví dụ khi hệ số khơng khí thừa tăng thì nhiệt độ buồng lửa

sẽ giảm, làm giảm lượng nhiệt trao đổi bức xạ trong buồng lửa,

do đó nhiệt độ khói ra khỏi buồng lửa tăng lên, tức là nhiệt độ

khói qua bộ quá nhiệt tăng, mặt khác sản lượng hơi bão hoà

sinh ra sẽ giảm, nghĩa là lượng hơi đi qua bộ quá nhiệt giảm, đối

với bộ quá nhiệt hoàn tồn đối lưu thì cả hai yếu tố đều tác

động làm nhiệt độ hơi quá nhiệt tăng. Nhưng ở bộ q nhiệt tổ

hợp thì khi hệ số khơng khí thừa tăng thì nhiệt độ buồng lửa sẽ

giảm, làm giảm lượng nhiệt trao đổi bức xạ trong buồng lửa,



https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



theo lập luận ở trên thì nhiệt độ hơi trong phần quá nhiệt đối

lưu sẽ tăng, trong khi đó lượng nhiệt phần quá nhiệt bức xạ

nhận được sẽ giảm nên nhiệt độ hơi quá nhiệt trong phần này

sẽ giảm, kết quả là nhiệt độ hơi quá nhiệt trong bộ quá nhiệt tổ

hợp sẽ thay đổi rất ít hoặc có thể khơng thay đổi tuỳ thuộc vào

tỷ lệ bề mặt hấp thu giữa các phần.

6. Cách điều chỉnh nhiệt độ quá hơi nhiệt Lò hơi

Có 2 phương pháp điều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt : điều chỉnh nhiệt độ

hơi quá nhiệt về phía hơi và điều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt về phía khói

6.1. Điều chỉnh nhiệt độ hơi q nhiệt về phía hơi.

Điều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt về phía hơi tức là tác

động trực tiếp vào phía hơi quá nhiệt để làm thay đổi lượng

nhiệt nó nhận được do đó thay đổi nhiệt độ của hơi.

Người ta đặt vào ống góp hơi của bộ quá nhiệt một thiết bị

gọi là bộ giảm ôn. Cho nước đi qua bộ giảm ơn, vì nước có nhiệt

độ thấp hơn hơi nên sẽ nhận nhiệt của hơi làm cho nhiệt độ hơi

quá nhiệt giảm xuống. Khi thay đổi lưu lượng nước qua bộ giảm

ơn thì sẽ làm thay đổi nhiệt độ hơi q nhiệt. Tuy nhiên, nếu vì

một lý do gì đó mà nhiệt độ nước cấp giảm xuống thì nhiệt độ

hơi quá nhiệt giảm xuống, nhưng mặt khác nhiệt độ nước cấp

giảm thì lượng hơi sinh ra cũng giảm theo, đòi hỏi phải tăng

lượng nhiên liệu cấp vào lò và khi đó cả nhiệt độ khói và lưu

lượng khói ra khỏi lò (đi vào bộ quá nhiệt) đều tăng lên. Hai yếu

tố này tác động ngược nhau có thể làm cho nhiệt độ hơi gần

như khơng thay đổi, do đó khơng cần thay đổi lượng nước giảm

ôn.

Hiện nay thường dùng 2 loại bộ giảm ôn: Bộ giảm ôn kiểu

bề mặt và bộ giảm ôn kiểu hỗn hợp.



https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



* Bộ giảm ôn kiều bề mặt:



Hình 16: Cấu tạo bộ giảm ơn kiểu bề mặt



https://www.facebook.com/NhanLamDoAnTuDongHoa/



Đây là một thiết bị trao đổi nhiệt biệt kiểu bề mặt, gồm cụm

ống đồng được uốn chữ U đặt trong góp hơi, hơi đi phía ngồi

ống các ống đồng sẽ nhả nhiệt cho nước giảm ôn đi trong. Nước

đi vào bộ giảm ôn sẽ nhận nhiệt của hơi qua bề mặt các ống

đồng làm cho độ quá nhiệt của hơi giảm xuống.

Bộ giảm ôn kiểu bề mặt thường được thiết kế với khoảng

điều chỉnh nhiệt độ hơi là 40-500C tương ứng với lượng nước qua

giảm ôn bằng 40-60% lượng nước cấp, do đó lượng nước sau khi

qua giảm ơn cần được đưa về trước bộ hâm nước. Ở bộ giảm ôn

kiểu bề mặt, nước giảm ôn không pha trộn với hơi nên yêu cầu

chất lượng nước giảm ôn không cần cao lắm, có thể dùng nước

cấp hoặc nước lò từ bao hơi tuỳ thuộc vào vị trí đặt bộ giảm ôn

ở đầu vào hay ở đầu ra của hơi. Cách nối bộ giảm ơn với đường

nước lò hoặc nước cấp được chỉ ra trên hình 17.



Hình 17: Cách nối bộ giảm ơn với đường nước lò hoặc nước cấp

Đối với các lò hơi nhỏ, người ta sử dụng bộ giảm ôn kiểu bề

mặt và được đặt trực tiếp vào bao hơi. Một phần hơi quá nhiệt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 15: Bố trí bộ quá nhiệt tổ hợp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×