Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.11: Các khoản mục chi phí của công ty năm 2013-2015

Bảng 2.11: Các khoản mục chi phí của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

70

5

Nguồn: Báo cáo tài chính cơng ty năm 2013-2015

Mặc dù vòng quay vốn kinh doanh đang có xu hướng giảm sút, nhưng các chỉ

số về tỷ suất sinh lời đều có xu hướng tăng điều này là do việc tiết kiệm chi phí

khiến cho các tỷ suất lợi nhuận đều tăng. Các khoản mục chi phí của cơng ty đều

được thể hiện quả bảng 2.11. Giá vốn hàng bán là khoản mục chi phí có tỷ trọng lớn

nhất trong tổng chi phí hoạt động của cơng ty. Giá vốn hàng bán của công ty năm

2014 so với năm 2013 đạt 104,81%, năm 2015 so với năm 2014 đạt 122,22%. Giá

vốn hàng bán của công ty năm 2013 đạt 68.902 triệu đồng và sang tới năm 2015,

giá vốn hàng bán của công ty đã lên tới 88.263 triệu đồng (tương đương với 28,1%).

Giá vốn hàng bán được cấu thành thì chi phí ngun vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Cả 3 khoản mục cấu thành nên giá vốn hàng

bán đều tăng từ năm 2013 đến năm 2015. Trong đó, khoản mục chi phí sản xuất

chung chiếm tỷ trọng cao nhất, là nguyên nhân chính làm tăng giá vốn hàng bán khi

năm 2013 mới chỉ đạt 50.892 triệu đồng thì năm 2015 con số này đã lên tới 66.562

triệu đồng (tương đương với 30,79%).Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản

chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận kinh doanh của công ty như:

tiền lương, phụ cấp ăn ca cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, cơng cụ dụng

cụ xuất dùng cho phân xưởng, khấu hao tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng,

chi phí dịch vụ mua ngồi và cá chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng,

bộ phận sản xuất. Như vậy, khơng phải là chi phí ngun vật liệu hay chi phí nhân

cơng là chi phí chính cấu thành nên tổng chi phí sản xuất mà là khoản mục chi phí

chung (đang chiếm tỷ trọng 77,65%). Công ty cần phải nâng cao trình độ tổ chức sản

xuất và lao động, năng lực quản lý, hạn chế tối đa các thiệt hại, tổn thất trong quá

trình sản xuất, định kỳ tổ chức phân tích chi phí nhằm phát hiện những khâu còn yếu

kém trong quản lý, những yếu tố làm tăng chi phí để có thể khắc phục kịp thời.

Như vậy, các chỉ tiêu đánh giá về mức độ sinh lời của công ty đều tăng qua

các năm. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh, Tỷ suất lợi nhuận trước thuế

vốn kinh doanh, Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, ROAđều tăng từ năm 2013 đến



71

năm 2015. Đây là sự cố gắng của tồn bộ cán bộ cơng nhân viên và ban lãnh đạo

cơng ty để có được kết quả này. Càng ngày công ty càng hoạt động sản xuất kinh

doanh có lãi, việc này tạo điều kiện cho cơng ty có vốn ngày càng phát triển, đồng

thời tạo được nhiều công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, giảm tỷ lệ thất

nghiệp trên địa bản, đời sống của công nhân viên ngày càng được nâng cao.

Lợi nhuận của công ty mang lại chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh chứ

không phải các hoạt động khác. Việc này chứng tỏ công ty làm ăn thực sự hiệu quả

và bền vững.

Chi phí của cơng ty đặc biệt là chi phí giá vốn hàng bán được cấu thành từ chi

phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung

đềuđược cơng ty kiểm sốt tốt, có mức tăng tương ứng với năng lực sản xuất và giá

cả thị trường chung.

Tuy nhiên, Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của công ty

đều giảm từ năm 2013 đến năm 2015. Điều này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn kinh

doanh của cơng ty càng giảm. Qua phân tích trên cho thấy rằng, việc giảm tốc độ

luân chuyển vốn kinh doanh là do tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc độ tăng

của vốn kinh doanh. Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty chưa

hiệu quả khi việc đầu tư vốn kinh doanh của công ty chưa có mức tăng doanh thu

tương ứng.

2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần thương mại

và dịch vụ chế biến lâm sản Thành Công

Để đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty, luận văn

đi thực hiện phân tích bảng sau:



72

Bảng 2.12: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty

năm 2013-2015

Đơn vị: Triệu đồng



Chỉ tiêu



Doanh thu thuần

Vốn lưu động

bình quân

Lợi nhuận trước

thuế

Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình

quân

Các khoản phải

thu bình quân

Số lần luân

chuyển vốn lưu

động ở trong

kỳ=Doanh thu

thuần/VLĐ bình

quân

Kỳ luân chuyển

vốn lưu động =Số

ngày trong kỳ/Số

lần luân chuyển

vốn lưu động

Tỷ suất lợi nhuận

vốn lưu động =

Lợi nhuận trước

thuế/VLĐ bình

qn

Vòng quay hàng

tồn kho= Giá vốn

hàng bán/HTK

bình quân



So sánh

2014/2013

2015/2014

Tỷ

Chênh

Chênh Tỷ lệ

lệ

lệch

lệch

(%)

(%)

106,

128,2

4.685

22.582

2

2

111,

143,7

4.955

20.644

7

3

119,

222,4

899

6.830

2

4

104,

122,2

3.315

16.046

8

2

185,0

619

104 13.662

7

112,

122,3

3.119

6.354

3

2



2013



2014



2015



75.325



80.010



102.59

2



42.248



47.203



67.846



4.680



5.578



12.408



68.902



72.217



88.263



15.440



16.060



29.721



25.345



28.464



34.818



1,78



1,70



1,51



-0,09



95,0

7



-0,18



89,20

9



201,91



212,39



238,08



10,47



105,

2



25,69



112,1



11,08



11,82



18,29



0,74



106,

7



6,47



154,7

6



4,46



4,50



2,97



0,03



100,

8



-1,53



66,03

9



73

Vòng quay các

khoản phải thu=

doanh thu

thuần/số dư bình

qn các khoản

phải thu



2,97



2,81



2,95



-0,16



94,5

8



0,14



104,8

2



Từ bảng số liệu 2.12 ta thấy, chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu

động của công ty được tính tốn bằng doanh thu thuần chia cho vốn lưu động bình

qn có xu hướng giảm nhẹ từ năm 2013 đến năm 2015. Năm 2013, vốn lưu động

của công ty đã luân chuyển được 1,78 vòng. Nhưng bắt đầu sang tới năm 2014, số

lần luân chuyển của vốn lưu động bắt đầu giảm khi chỉ đạt 1,70 vòng và giảm

xuống còn 1,51 vòng vào năm 2015. Từ năm 2014 đến năm 2015, tốc độ tăng

trưởng của doanh thu thuần đã nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng của vốn lưu động bình

quân. Năm 2014, vốn lưu động bình quân đạt47.203 triệu đồng, nhưng sang năm

2015, vốn lưu động bình quân đã tăng lên tới 67.846 triệu đồng (tăng 20.644 triệu

đồng – tương đương với 43,73%). Trong khi đó, doanh thu thuần năm 2014 chỉ đạt

mức 80.010 triệu đồng và sang năm 2015 đạt 102.592 triệu đồng (tăng 22.582 triệu

đồng- tương đương với 28,22%). Vốn lưu động bình quân tăng đột biến vào năm

2015 là do các khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty tăng mạnh khi sang năm

2015 (hàng tồn kho tăng 161,35%, các khoản phải thu tăng 25,64%).

Song hành cùng chỉ tiêu số lần luân chuyển của vốn lưu động là chỉ tiêu kỳ

luân chuyển của vốn lưu động để đánh giá sự quay vòng của vốn lưu động là nhanh

hay chậm. Tỷ lệ nghịch với chỉ tiêu số lần luân chuyển của vốn lưu động thì kỳ ln

chuyển vốn lưu động của cơng ty tăng từ năm 2013 đạt 201,91 ngày lên tới 238,08

ngày vào năm 2015. Điều này do tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty giảm

từ năm 2013 đến năm 2015 khiến cho hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty

chưa được hiệu quả. Giữa hai chỉ tiêu số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn lưu

động có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, nếu biết một trong hai chỉ tiêu, ta có thể

tính được chỉ tiêu còn lại. Hai chỉ tiêu này đều phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn

lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.11: Các khoản mục chi phí của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×