Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty năm 2013-2015

Bảng 2.12: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

73

Vòng quay các

khoản phải thu=

doanh thu

thuần/số dư bình

qn các khoản

phải thu



2,97



2,81



2,95



-0,16



94,5

8



0,14



104,8

2



Từ bảng số liệu 2.12 ta thấy, chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu

động của công ty được tính tốn bằng doanh thu thuần chia cho vốn lưu động bình

qn có xu hướng giảm nhẹ từ năm 2013 đến năm 2015. Năm 2013, vốn lưu động

của công ty đã luân chuyển được 1,78 vòng. Nhưng bắt đầu sang tới năm 2014, số

lần luân chuyển của vốn lưu động bắt đầu giảm khi chỉ đạt 1,70 vòng và giảm

xuống còn 1,51 vòng vào năm 2015. Từ năm 2014 đến năm 2015, tốc độ tăng

trưởng của doanh thu thuần đã nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng của vốn lưu động bình

quân. Năm 2014, vốn lưu động bình quân đạt47.203 triệu đồng, nhưng sang năm

2015, vốn lưu động bình quân đã tăng lên tới 67.846 triệu đồng (tăng 20.644 triệu

đồng – tương đương với 43,73%). Trong khi đó, doanh thu thuần năm 2014 chỉ đạt

mức 80.010 triệu đồng và sang năm 2015 đạt 102.592 triệu đồng (tăng 22.582 triệu

đồng- tương đương với 28,22%). Vốn lưu động bình quân tăng đột biến vào năm

2015 là do các khoản phải thu và hàng tồn kho của công ty tăng mạnh khi sang năm

2015 (hàng tồn kho tăng 161,35%, các khoản phải thu tăng 25,64%).

Song hành cùng chỉ tiêu số lần luân chuyển của vốn lưu động là chỉ tiêu kỳ

luân chuyển của vốn lưu động để đánh giá sự quay vòng của vốn lưu động là nhanh

hay chậm. Tỷ lệ nghịch với chỉ tiêu số lần luân chuyển của vốn lưu động thì kỳ ln

chuyển vốn lưu động của cơng ty tăng từ năm 2013 đạt 201,91 ngày lên tới 238,08

ngày vào năm 2015. Điều này do tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty giảm

từ năm 2013 đến năm 2015 khiến cho hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty

chưa được hiệu quả. Giữa hai chỉ tiêu số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn lưu

động có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, nếu biết một trong hai chỉ tiêu, ta có thể

tính được chỉ tiêu còn lại. Hai chỉ tiêu này đều phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn

lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng quan trọng trong



74

các doanh nghiệp thương mại, nó phản ánh tình hình quản lý, sử dụng vốn có hợp lý

hay khơng. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty đang có xu hướng giảm

sút sẽ khiến cho cơng ty phải tăng thêm một lượng vốn cần thiết đầu tư cho lưu

thơng hàng hóa, làm giảm vốn đầu tư cho các ngành sản xuất khác để tăng lợi nhuận

cho công ty, Bên cạnh đó, lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông của công ty phải

tăng lên làm cho lưu thông tiền tệ chưa được vững chắc. Bằng chứng là năm 2015

lượng tiền mặt của công ty đã tăng 31,64% so với năm 2014 và tăng 51,22% so với

năm 2013. Việc tăng tiền mặt cũng làm tăng các chi phí liên quan khác của công ty.

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty ngày càng giảm. Chỉ tiêu phản ánh

tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty đều giảm từ năm 2013 đến năm 2015.

Cùng với việc giảm số lần luân chuyển vốn lưu động của cơng ty thì kỳ ln chuyển

vốn lưu động của cơng ty tăng. Như vậy, việc quản lý và sử dụng vốn lưu động của

công ty chưa hiệu quả, công ty phải sử dụng thêm nhiều vốn hơn để đầu tư cho hoạt

động sản xuất kinh doanh, làm giảm vốn đầu tư cho các lĩnh vực cần phát triển

khác, làm tăng chi phí sử dụng vốn của cơng ty lên.

Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động thể hiện khả năng sinh lời của mỗi một đồng

vốn lưu động. Từ năm 2013 đến năm 2015, tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động tăng từ

11,08% đến 18,29%. Năm 2013, cứ 100 đồng vốn lưu động bình qn bỏ ra thì

cơng ty thu lại về 11,08 đồng lợi nhuận trước thuế. Nhưng sang tới năm 2015 con số

này đã tăng lên tới 18,29 đồng lợi nhuận trước thuế.Việc này là do tốc độ tăng của

lợi nhuận trước thuế lớn hơn tốc độ tăng của vốn lưu động bình quân. Với định

hướng kinh doanh giữ vững thị trường truyền thống về sản xuất đồ gỗ bằng cách

đầu tư dây chuyền công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất đồ gỗ, luôn cập nhật các

mẫu mã sản phẩm mới để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng công ty đã

không những giữ vững các khách hàng truyền thống mà còn thu hút được nhiều

khách hàng mới, đồng thời thực hiện kinh doanh than và tham gia xây dựng các

cơng trình xây dựng, Cơng ty cổ phần thương mại và dịch vụ chế biến lâm sản

Thành Cơng đã có những kết quả tốt trong hoạt động kinh doanh nên lợi nhuận

trước thuế của công ty tăng cao từ năm 2013 đến năm 2015.



75

Vòng quay hàng tồn kho của công ty giảm mạnh từ 4,46 vòng vào năm 2013

xuống còn 2,97 vòng vào 2015. Điều này là do tốc độ tăng của hàng tồn kho bình

quân lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán.

Các thành phần chi tiết của hàng tồn kho của công ty được thể hiện qua bảng

sau:

Bảng 2.13: Hàng tồn kho của công ty năm 2013-2015

Đơn vị: Triệu đồng

So sánh

2014/2013

2015/2014

Chênh

Chênh

Chỉ tiêu



2013



2014



2015



lệch



Tỷ lệ



lệch



Tỷ lệ



(triệu



(%)



(triệu



(%)



đồng)

Hàng mua đang đi

đường

Nguyên liệu, vật

liệu

Công cụ, dụng cụ



52



60



70



8



7.790



8.541



16.521



751



765



563



848



-202



2.888



3.301



9.706



413



3.512



3.717



15.667



205



221

441



115

151

16.45



66

114



-106

-290



42.992



781



Chi phí sản xuất

kinh doanh dở

dang

Thành phẩm

Hàng hóa

Hàng gửi đi bán

Hàng tồn kho



15.669



0



đồng)

115,3

8

109,6

4

73,59

114,3

0

105,8

4

52,04

34,25

104,9



10

7.980

285



6.405



11.950

-49

-37



116,6

7

193,4

3

150,6

2

294,0

3

421,5

0

57,39

75,50

261,3



26.542

9

5

Nguồn: Báo cáo tài chính cơng ty năm 2013-2015



Hàng tồn kho bao gồm hàng mua đang đi đường, Ngun liệu, vật liệu, Cơng

cụ, dụng cụ, Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, Thành phẩm, Hàng hóa, Hàng

gửi đi bán. Trong đó, khoản mục nguyên liệu, vật liệu và thành phẩm là hai khoản



76

mục có tỷ trọng lớn nhất trong hàng tồn kho khi chiếm lần lượt 38,4% và 36,44%.

Hàng tồn kho của công ty năm 2014 so với năm 2013 đạt 104,99%, năm 2015 so

với năm 2014 đạt 261,35%. Bên cạnh đó, nhìn vào tốc độ tăng trưởng của hai thành

phần có tỷ trọng lớn nhất trong hàng tồn kho thì ta thấy cả hai thành phần này đều

có tốc độ tăng trưởng cao nhất khi sang tới năm 2015: Nguyên liệu vật liệu của

công ty tăng từ 8.541 triệu đồng đến 16.521 triệu đồng (tương đương với 93,43%),

chủ yếu là các gỗ thơng và gỗ mít để thực hiện sản xuất đồ gỗ. Ngồi ra còn có các

loại than bùn, than cám cơng ty sử dụng để sản xuất ra các loại than thành phẩm với

các tỷ lệ theo yêu cầu của khách hàng. Thành phẩm của công ty tăng từ 3.717 triệu

đồng năm 2014 lên tới 15.667 triệu đồng vào năm 2015 (tương đương với

321,49%). Điều này là do cơng ty chưa dự đốn được những biến động xấu của thị

trường khiến cho các khách hàng thường xuyên bị giảm sút nhu cầu, đồng thời cơng

ty khơng tìm kiếm được các khách hàng mới làm cho lượng thành phẩm tồn kho bị

dồn ứ nhiều vào năm 2015. Ngoài ra trong lĩnh vực về than, khi một số văn bản

pháp luật mới ra đời hạn chế việc buôn bán, xuất khẩu than cũng làm cho cầu về sản

phẩm than giảm sút trong khi năng suất lao động vẫn tăng cao, dẫn đến một lượng

lớn than thành phẩm bị tồn trong kho.

Vòng quay các khoản phải thu được tính bằng doanh thu thuần chia cho số dư

bình quân các khoản phải thu. Từ bảng số liệu 2.8 ta thấy vòng quay các khoản phải

thu của cơng ty khơng có nhiều sự biến động lớn khi chỉ dao động với biên độ hẹp

quanh mức 2.91 vòng (trung bình 3 năm). Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số

tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi

khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà

doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa. Việc chiếm dụng vốn

này thoạt nhìn khơng mấy quan trọng, vì theo logic thơng thường, khách hàng nợ

rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác,

cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm

trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị

trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.12: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×