Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.13: Hàng tồn kho của công ty năm 2013-2015

Bảng 2.13: Hàng tồn kho của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

76

mục có tỷ trọng lớn nhất trong hàng tồn kho khi chiếm lần lượt 38,4% và 36,44%.

Hàng tồn kho của công ty năm 2014 so với năm 2013 đạt 104,99%, năm 2015 so

với năm 2014 đạt 261,35%. Bên cạnh đó, nhìn vào tốc độ tăng trưởng của hai thành

phần có tỷ trọng lớn nhất trong hàng tồn kho thì ta thấy cả hai thành phần này đều

có tốc độ tăng trưởng cao nhất khi sang tới năm 2015: Nguyên liệu vật liệu của

công ty tăng từ 8.541 triệu đồng đến 16.521 triệu đồng (tương đương với 93,43%),

chủ yếu là các gỗ thơng và gỗ mít để thực hiện sản xuất đồ gỗ. Ngồi ra còn có các

loại than bùn, than cám công ty sử dụng để sản xuất ra các loại than thành phẩm với

các tỷ lệ theo yêu cầu của khách hàng. Thành phẩm của công ty tăng từ 3.717 triệu

đồng năm 2014 lên tới 15.667 triệu đồng vào năm 2015 (tương đương với

321,49%). Điều này là do công ty chưa dự đoán được những biến động xấu của thị

trường khiến cho các khách hàng thường xuyên bị giảm sút nhu cầu, đồng thời cơng

ty khơng tìm kiếm được các khách hàng mới làm cho lượng thành phẩm tồn kho bị

dồn ứ nhiều vào năm 2015. Ngoài ra trong lĩnh vực về than, khi một số văn bản

pháp luật mới ra đời hạn chế việc buôn bán, xuất khẩu than cũng làm cho cầu về sản

phẩm than giảm sút trong khi năng suất lao động vẫn tăng cao, dẫn đến một lượng

lớn than thành phẩm bị tồn trong kho.

Vòng quay các khoản phải thu được tính bằng doanh thu thuần chia cho số dư

bình quân các khoản phải thu. Từ bảng số liệu 2.8 ta thấy vòng quay các khoản phải

thu của cơng ty khơng có nhiều sự biến động lớn khi chỉ dao động với biên độ hẹp

quanh mức 2.91 vòng (trung bình 3 năm). Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số

tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi

khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà

doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới khơng còn nữa. Việc chiếm dụng vốn

này thoạt nhìn khơng mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ

rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, khơng trả lúc này thì trả lúc khác,

cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm

trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị

trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp



77

phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong

khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng

thanh tốn những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần

thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp

này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ

sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số

tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến

hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vòng quay các khoản phải thu

của công ty ở mức độ thấp chứng tỏ số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày

càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh

nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp

sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.

Như vậy, vốn lưu động của công ty chưa được sử dụng thật sự tốt để đạt được

hiệu quả cao khi tốc độ luân chuyển vốn còn thấp, vòng quay hàng tồn kho và các

khoản phải thu còn chậm khiến cho cơng ty cần phải dùng nhiều vốn hơn để thực

hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.2.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty cổ phần thương mại và

dịch vụ chế biến lâm sản Thành Công

Để phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn cố định, luận văn đi phân tích

bảng số liệu sau:



78

Bảng 2.14: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty năm

2013-2015

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu



So sánh

2014/2013

2015/2014

Chênh Tỷ lệ Chênh Tỷ lệ

lệch

(%)

lệch

(%)

106,2

128,2

4.685

22,582

2

2

152,4

130,1

29.277

25,660

6

6

129,3

138,9

15.993

27,468

7

9

113,5

113,3

10.873

12,153

6

5

111,6

113,4

8.934

11,513

5

5

120,9

115,9

8.204

7,549

0

1



2013



2014



2015



Doanh thu thuần



75.325



80.010



102.592



Vốn cố định



55.809



85.086



110.745



Vốn cố định bình

quân



54.454



70.447



97.915



Nguyên giá TSCĐ



80.190



91.063



103.216



Nguyên giá TSCĐ

bình quân



76.693



85.627



97.139



Khấu hao lũy kế



39.249



47.453



55.001



40.941



43.610



48.215



2.669



106,5

2



4,604



110,5

6



1,38



1,14



1,05



-0,25



82,11



-0,09



92,25



0,98



0,93



1,06



-0,05



95,14



0,12



113,0

3



0,73



0,51



0,44



-0,22



69,87



-0,08



84,94



Vốn cố định đang

dùng cho hoạt

động sản xuất kinh

doanh

Hiệu suất sử dụng

vốn cố định=

Doanh thu

thuần/Vốn cố định

bình quân

Hiệu suất sử dụng

tài sản cố định=

Doanh thu thuần/

Nguyên giá TSCĐ

bình quân

Hệ số huy động

vốn cố định trong

kỳ= Vốn cố định

đang dùng cho

hoạt động



79

SXKD/Vốn cố

định

Hệ số hao mòn

TSCĐ= Khấu hao

lũy kế/Tổng

nguyên giá



0,49



0,52



0,53



0,03



106,4

7



0,01



102,2

6



Từ bảng số liệu 2.11 ta thấy, hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty đang

ngày một giảm khi năm 2013, hiệu suất sử dụng vốn cố định đạt 1,38 nhưng sang

tới năm 2015 chỉ còn 1,05. Có nghĩa là, nếu năm 2013 cứ mỗi đồng vốn cố định

bình quân bỏ ra thì cơng ty thu về được 1,38 đồng doanh thu thuần nhưng sang tới

năm 2015, cứ mỗi đồng vốn cố định bình quân bỏ ra thì chỉ thu về được 1,05 đồng

doanh thu thuần. Việc này là do tốc độ tăng của doanh thu thuần nhỏ hơn tốc độ

tăng của vốn cố định bình quân đã khiến cho hiệu suất sử dụng vốn cố định giảm.

Từ năm 2013 đến năm 2015 doanh thu thuần tăng 27.267 triệu đồng (tương đương

với 36,20%), trong khi đó, vốn cố định bình qn tăng 43.461 triệu đồng (tương

đương với 79,81%). Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty đang ngày càng

giảm. Điều này cho thấy việc sử dung vốn cố định của công ty là chưa đạt hiệu quả.

Tốc độ tăng của doanh thu thuần thấp hơn tốc độ tăng của vốn cố định. Như vậy,

mỗi đồng vốn cố định mà công ty bỏ ra để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh

doanh ngày càng tạo ra doanh thu ít hơn.

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty lại tăng từ năm 2013 đến năm

2015 khi đạt 0,98 vào năm 2013 và 1,06 vào năm 2015. Điều này có nghĩa là cứ 1

đồng ngun giá TSCĐ bình qn được bỏ ra thì cơng ty thu lại được 0,98 đồng

doanh thu thuần vào năm 2013 và được 1,06 đồng vào năm 2015. Hiệu suất sử dụng

tài sản cố định tăng là do tốc độ tăng của doanh thu thuần lớn hơn tốc độ tăng của

nguyên giá tài sản cố định bình qn. Điều này cho thấy cơng ty đã sử dụng hiệu

quả tài sản cố định của mình. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty tăng từ

năm 2013 đến năm 2015. Điều này chứng tỏ cơng ty đã sử dụng có hiệu quả các tài

sản cố định của mình. Hệ số hao mòn tài sản cố định của cơng ty có xu hướng tăng

từ năm 2013 đến năm 2015 nhưng vẫn ở mức thấp. Như vậy, hiện nay công ty đang

đi đúng hướng trong việc loại bỏ dần các TSCĐ đã lạc hậu, những máy móc khơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.13: Hàng tồn kho của công ty năm 2013-2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×