Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TẠI CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TẠI CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

trao đổi, giao lưu, rút kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất

lượng bài giảng.

Thực hiện các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ngoài giờ lên lớp, đẩy

mạnh việc tổ chức triển khai các mơ hình thư viện thân thiện, thư viện đa

chức năng vào giờ ra chơi, tổ chức ngày hội đọc sách… đẩy mạnh triển khai

các loại hình câu lạc bộ học sinh với mục tiêu giúp học sinh tự tin làm quen

với cách học mới.

Xây dựng tiếp các tài liệu nhằm hỗ trợ cho các học sinh ở vùng khó

khăn với mục tiêu chú trọng hướng tới đáp ứng các nhu cầu năng lực cho học

sinh dân tộc thiểu số. Đặc biệt chú trọng hệ thống tài liệu mơn Tốn và Tiếng

Việt cho học sinh dân tộc, cần chú trọng tới khả năng nhận thức của học sinh

để từ đó thiết kế các tài liệu phù hợp với khả năng của các em. Đến 6/2017,

82% học sinh lớp 5 của trường tiểu học thuộc chương trình SEQAP đạt loại

khá, giỏi mơn Tốn và Tiếng Việt. Đến năm 2020 trên toàn quốc, nâng tỷ lệ

này lên 92%.

Phối hợp với các Vụ, Cục chức năng, trường đại học, Hiệu trưởng các

trường tiểu học tham gia tổ chức khảo sát đánh giá kết quả học tập của các

học sinh của các trường tiểu học tham gia Chương trình SEQAP nhằm đánh

giá kết quả thực hiện hoạt động dạy học cả ngày.

Tăng cường quản lý, giám sát, đánh giá việc quản lý và sử dụng các

quỹ giáo dục nhà trường và Quỹ phúc lợi học sinh theo đúng mục đích sử

dụng với nguồn kinh phí được phân bổ. Đồng thời thực hiện một cách công

khai, minh bạch các khoản chi tiêu và có sự tham gia giám sát của hội phụ

huynh và chính quyền địa phương. Tích cực vận động sự tham gia của cộng

đồng, cha mẹ học sinh khơng thuộc diện được hỗ trợ đóng góp tham gia hỗ

trợ các bữa ăn trưa ở trường cho các học sinh còn khó khăn, học sinh dân tộc

và đảm bảo những học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số là những người

được nhận hỗ trợ nhiều nhất từ Chương trình SEQAP.



Tạo điều kiện gia tăng hàng năm số lượng học sinh được học cả ngày ở

các trường tham gia SEQAP, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số. Hết năm

6/2017 toàn bộ 100% các trường tham gia SEQAP thực hiện đúng lộ trình

triển khai dạy học cả ngày và trên phạm vi toàn quốc là 90% vào năm 2020.

Yêu cầu các tỉnh tiếp tục cập nhật dữ liệu vào hệ thống của Chương

trình SEQAP nhằm phân tích và xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá tiến độ

thực hiện theo từng giai đoạn và chuyển giao bộ chỉ số này cho Bộ Giáo dục

vào tháng 6/2017.

(ii)



Xây dựng lộ trình Chính sách

Tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên cho các cán



bộ quản lý trường tiểu học FDS. Phối hợp với các Vụ, Cục chức năng, Học

viện quản lý giáo dục… tiến hành soạn thảo các thơng tư liên quan đến

chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho các cán bộ quản lý trường tiểu học

FDS.

Tiếp tục nghiên cứu và xây dựng các quy chuẩn về chức danh nghề

nghiệp giáo viên tiểu học công lập, xếp lương theo chức danh nghề nghiệp

giáo viên tiểu học và các cán bộ quản lý giáo dục.

Rà soát và thống nhất lại toàn bộ hệ thống nghiên cứu chính sách để

cung cấp các tư liệu cần thiết để hồn thiện lại lộ trình FDS và chuyển giao

tồn bộ các tài liệu nghiên cứu này sang Bộ GD&ĐT vào tháng 12/2016.

(iii)



Tăng cường năng lực cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý để thực



hiện FDS

Ban quản lý SEQAP trung ương chỉ đạo các địa phương tiến hành kế

hoạch tập huấn bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tại địa

phương.Đến tháng 06/2017, các cán bộ được tập huấn về thực hiện FDS cần

đạt 97%, giáo viên được tập huấn về hiệu quả thời gian dạy tăng thêm là 95%.



Đơn đốc các tỉnh báo cáo tình hình triển khai các hoạt động đánh giá

kết quả tập huấn tại địa phương theo các chỉ số đã được thiết kế theo lộ trình,

tiến độ thực hiện.

Hồn thành thẩm định, hiệu chỉnh và ban hành các chương trình bồi

dưỡng cho các gáo viên về tin học, mỹ thuật, âm nhạc… Chương trình bồi

dưỡng giáo viên dạy tiếng và chữ dân tộc như: H’mông, Jrai, Chăm,

Kh’mer…

(iv)



Xây dựng cơ bản

Tiếp tục hỗ trợ các địa phương trong công tác xây dựng, triển khai kế



hoạch thực hiện xây dựng đến cuối tháng 12/2016. Đồng thời, cập nhật và thu

thập số liệu báo cáo của các tỉnh thực hiện các cơng trình.

Hỗ trợ các địa phương trong công tác xây dựng cơ bản, quyết tốn vốn

đầu tư, cơng tác bảo hành, khắc phục các tồn tại và quản lý sử dụng.

Thành lập các đoàn kiểm tra của Ban quản lý SEQAP trung ương nhằm

đi kiểm tra đột xuất về quy trình, tiến độ thực hiện, chất lượng cơng trình…

của một số địa phương.

(v)



Mua sắm đấu thầu

Tiếp tục xem xét, phê duyệt các kế hoạch đấu thầu của các địa phương



gửi lên theo nguồn vốn được phân bổ của các tỉnh đến tháng 12/2016.

Hỗ trợ các địa phương giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong

quá trình thực hiện.

Yêu cầu các tỉnh báo cáo tình hình thực hiện, các tư vấn đấu thầu thu

thập các số liệu, báo cáo của các tỉnh để đánh giá q trình thực hiện.

Thành lập các đồn kiểm tra của Ban quản lý SEQAP trung ương phối

hợp với cán bộ của WB và cán bộ của Bộ KH&ĐT nhằm kiểm tra đột xuất và



định kỳ về quy trình thực hiện, báo cáo… nhằm đánh giá việc thực hiện của

địa phương.

Đánh giá và đưa ra phương án hành động với các khuyến nghị của WB

và Bộ KHĐT về hoạt động đấu thầu của Chương trình SEQAP.

Báo cáo đánh giá về quy trình thực hiện về đấu thầu ở các địa phương.

Đưa ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện và đề xuất giải pháp

khắc phục những mặt còn tồn tại.

(vi)



Quản lý tài chính

Tiếp tục cập nhật lại các thơng tin, rà sốt các vấn đề vướng mắc trong



quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn của SEQAP, đôn đốc các tỉnh tiếp tục

lên kế hoạch phân bổ nguồn vốn năm 2016.

Yêu cầu các tỉnh báo cáo số liệu giải ngân theo các hạng mục của tỉnh

nhằm đánh giá tình hình thực hiện, kiểm sốt, giám sát tính tuân thủ các quy

định của Nhà nước và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích. Hồn thành các báo

cáo giải ngân 6/2017 và quyết toán hết nguồn vốn được giao vào 6/2017.

Triển khai các kế hoạch hành động cho các nội dung được khuyến nghị

trong báo cáo Kiểm toán tài chính.

3.1.2 Nhận dạng những cơ hội và thách thức với Quản lý Nhà nước đối

với hoạt động đấu thầu tại Chương trình giai đoạn tới

3.1.2.1 Cơ hội

Chương trình SEQAP là chương trình đầu tiên sử dụng nguồn vốn IDA,

thực hiện hoạt động đấu thầu theo hướng dẫn của Nhà tài trợ và phân cấp triệt

để đến cấp huyện, xã. Đây là một bước thử nghiệm của hoạt động đấu

thầunhằm giảm bớt công việc thực hiện ở cấp Ban quản lý SEQAP trung

ương, giảm bớt các khâu trung gian nhằm tránh sử dụng lãng phí nguồn lực

quốc gia và nâng cao năng lực thực hiện hoạt động đấu thầu của các cấp địa

phương. Chương trình SEQAP chính là mơ hình để nhằm nhân rộng việc thực



hiện phân cấp triệt để về hoạt động đấu thầu tại địa phương ở các Chương

trình mục tiêu quốc gia, các dự án ở các ngành, lĩnh vực khác.

Thông qua hoạt động đấu thầu và cách thức phân cấp quản lý của

Chương trình giúp cho công tác kiểm tra, đánh giá, giám sát một cách rõ ràng

và minh bạch các khoản chi tiêu, ràng buộc trách nhiệm rõ ràng ở các bên liên

quan, giảm hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí tối đa trong viêc sử dụng

nguồn vốn vay của Chính phủ.

Việc phân cấp này của Chương trình SEQAP gắn liền với trách nhiệm

giải trình đối với các cơng việc được giao. Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát,

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền u cầu giải trình việc thực

hiện các quy định về hoạt động đấu thầu ở tất cả các khâu của quy trình đấu

thầu và các cá nhân liên quan đều phải có trách nhiệm cung cấp thơng tin, tài

liệu liên quan, giải trình việc thực hiện.

Với cách thức phân cấp này của Chương trình SEQAP thì sẽ đi đơi với

việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu cho cả các cấp quản lý

và cho các cán bộ thực hiện về đấu thầu. Những địa phương này sẽ hiểu rõ

mình cần xây dựng ở địa điểm nào cho phù hợp nhất, lựa chọn nhà thầu có

năng lực nhất và giá trúng thầu thấu thấp nhất, tạo sự chủ động phân bổ nguồn

lực và trong hoạt động đấu thầu cho các cấp quản lý ở địa phương. Tuy nhiên,

do trình độ của các Ban quản lý SEQAP huyện chưa đồng đều nhất là ở các

vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nên để sự phân cấp phát huy được

hiệu quả thì cần thiết phải tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao

trình độ của các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác đấu thầu và các cán bộ

quản lý. Và xa hơn nữa là tập trung vào mục tiêu đào tạo một đội ngũ cán bộ

chuyên trách về các hoạt động đấu thầu cho ngành giáo dục tại tỉnh và các

huyện.

Thơng qua đấu thầu, Chương trình SEQAP cung cấp các sản phẩm,

dịch vụ cơng tới các nhóm học sinh thiệt thòi. Vì vậy, một mặt nhằm nâng cao



ý thức, trách nhiệm của các đối tượng thụ hưởng trực tiếp, gián tiếp của

Chương trình SEQAP, mặt khác có sự tham gia giám sát của cộng đồng vào

quá trình thực hiện công tác đấu thầu đối với các sản phẩm, dịch vụ công

được cung cấp này.

Tạo điều kiện nâng cao năng lực và khả năng cạnh cho các doanh

nghiệp tại địa phương nhằm giành lấy cơ hội thực hiện gói thầu và cung cấp

các sản phẩm, dịch vụ cho chính địa bàn địa phương nơi mà doanh nghiệp

đang sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, nâng cao ý thức, trách nhiệm và quyền

lợi của chính doanh nghiệp khi cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công này tại

địa phương và đồng thời cũng tạo công ăn việc làm cho người dân ở địa

phương.

3.1.2.2 Thách thức

Do đặc điểm của Chương trình SEQAP là phân cấp triệt để tới các

Phòng Giáo dục và đào tạo, tức là nguồn tiền được chuyển thẳng từ Bộ Tài

chính xuống các tài khoản của Sở GD& ĐT và các huyện theo số liệu được

phân bổ. Các Ban quản lý SEQAP huyện chủ động trong các hoạt động đấu

thầu của huyện và Ban quản lý SEQAP Trung ương chỉ phê duyệt về Kế

hoạch đấu thầu và các hướng dẫn thực hiện. Như vậy, các phòng Giáo dục

đóng vai trò là bên mời thầu và có trách nhiệm của người có thẩm quyền như:

phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu và xử lý các tình huống

xảy ra trong đấu thầu. Tuy nhiên, sự phân cấp triệt để này bộc lộ nhiều thách

thức đó là:

Sự thiếu hiểu biết về các mục tiêu của dự án, nội dung đấu thầu mua

sắm và các thủ tục đấu thầu mua sắm đã được thỏa thuận giữa Chính phủ Việt

Nam và các nhà tài trợ.

Các Ban quản lý SEQAP huyện còn chưa quen với những hướng dẫn

của WB về quy trình thực hiện hình thức chào hàng cạnh tranh trong xây

dựng. Bên cạnh đó, năng lực thực hiện của Bên mời thầu còn nhiều hạn chế



và chưa tuân thủ triệt để các quy trình thủ tục đấu thầu theo các hướng dẫn

của WB.

Các hướng dẫn về đấu thầu của WB và Luật Đấu thầu của Việt Nam

chưa tương thích, các gói thầu thực hiện chịu sự quản lý của cả WB và Chính

phủ Việt Nam nên dẫn đến quá trình thực hiện thiếu sự thống nhất ở các địa

phương, gây khó khăn trong thực hiện pháp luật về Đấu thầu làm ảnh hưởng

đến tiến độ thực hiện và giải ngân cho Chương trình.

Tính chun mơn, chun nghiệp về đấu thầu ở các địa phương tham

gia Chương trình SEQAP chưa đồng đều và còn nhiều hạn chế, do các tỉnh

tham gia Chương trình SEQAP đều là các tỉnh, huyện vùng sâu, vùng xa còn

nhiều khó khăn về trình độ, nguồn nhân lực, tài chính nhất là vùng có các dân

tộc thiểu số.

Do cơ chế điều động, luân chuyển luân phiên và định kỳ chuyển đổi vị

trí cơng tác cán bộ công chức nên các cán bộ đã đi tập huấn về đấu thầu sau

một thời gian đã chuyển đi và người mới thực hiện công tác đấu thầu. Những

người cán bộ mới này lại phải bắt đầu làm quen lại từ đầu với những hướng

dẫn của WB và nghiên cứu lại các quy định luật pháp về Đấu thầu của Chính

phủ Việt Nam. Điều này gây ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả và tiến độ thực

hiện các gói thầu của Chương trình SEQAP.

Vấn đề về quản lý sau đấu thầu còn chưa được thực hiện thường xuyên

và còn nhiều bất cập. Việc quản lý về thực hiện hợp đồng còn chưa được quan

tâm đúng mức, tiến độ thi cơng một số cơng trình chưa thực hiện theo đúng

cam kết trong hợp đồng.

Cơ chế kiểm tra, giám sát còn chưa được coi trọng đúng mức. Trong

quá trình thực hiện việc kiểm tra còn mang tính hình thức, việc xử lý các vi

phạm thường là nhắc nhở, cảnh cáo chưa mang tính răn đe và đạt hiệu quả

cao.



Chế độ báo cáo đã được thực hiện tốt hơn so với các năm trước song

vẫn còn tiếp tục cần phải cải thiện. Vẫn còn một số báo cáo chưa đảm bảo

chất lượng do chỉ tập trung vào số liệu mà chưa có phân tích, đánh giá tình

hình thực tế, chưa đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu, các khó khăn, vướng mắc

gặp phải, nguyên nhân và giải pháp kiến nghị để hoàn thiện cơng tác đấu thầu

tại địa phương mình. Các số liệu thống kê báo cáo trong một số trường hợp

còn thiếu chính xác, khơng logic về mặt thời gian, giá trị hợp đồng cao hơn

giá dự toán nhưng chưa thấy báo cáo, không theo đúng biểu mẫu đã quy định,

…dẫn đến phải có yêu cầu chỉnh sửa, gây khó khăn cho quá trình theo dõi,

tổng hợp số liệu báo cáo của tỉnh.

3.1.3 Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện Quản lý Nhà nước đối với hoạt

động đấu thầu tại Chương trình giai đoạn tới

Trong quá trình thực hiện, tác giả nhận thấy việc ban hành các văn bản

hướng dẫn, yêu cầu các địa phương báo cáo giữa các bộ phần Kế hoạch đấu

thầu và Xây dựng cơ bản có nhiều nội dung bị trùng lặp. Vì vậy, các bộ phận

cần phối hợp với nhau trong công tác xây dựng văn bản yêu cầu địa phương

báo cáo tổng hợp số liệu nhằm giảm bớt số lượng văn bản và đẩy nhanh tiến

độ.

Tiếp tục tập huấn, hội thảo nhằm phổ biến các hướng dẫn về thực hiện

đấu thầu theo hướng dẫn của WB và Luật Đấu thầu của Chính phủ Việt Nam

cho các tỉnh tham gia Chương trình SEQAP và nâng cao nghiệp vụ về đấu

thầu cho các cán bộ tham gia thực hiện và các cán bộ quản lý.

Tổng kết các bài học kinh nghiệm trong q trình thực hiện cơng tác

đấu thầu với cơ chế phân cấp triệt để của Chương trình SEQAP nhằm phổ

biến cho các địa phương khác thuộc Chương trình SEQAP tránh gặp phải các

lỗi tương tự và báo cáo lên các cơ quan quản lý nhằm điều chỉnh cách thức

quản lý và có những phương hướng nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng

mắc cho các địa phương trong q trình thực hiện cơng tác đấu thầu.



Tiếp tục thiết kế các nội dung báo cáo tiến độ thực hiện các gói thầu

nhằm đánh giá việc thực hiện đấu thầu ở địa phương, phát hiện những sai sót,

khó khăn, vướng mắc gặp phải trong q trình thực hiện. Từ đó, kịp thời sửa

đổi những văn bản chưa phù hợp, bổ sung những thiếu sót, cập nhật lại các hệ

thống văn bản hướng dẫn tránh trường hợp xảy ra các mâu thuẫn, đối nghịch

do sự khác biệt của hai hệ thống Luật đấu thầu của Việt Nam và hướng dẫn

thực hiện của WB.

Tăng cường thiết kế hệ thống thông tin và sử dụng công nghệ thông tin

trong việc quản lý hoạt động đấu thầu thuộc Chương trình SEQAP nhằm hệ

thống hóa các báo cáo, thông tin liên quan đến đấu thầu… nhằm giám sát tiến

độ thực hiện, số liệu báo cáo, dễ dàng tra cứu, thống kê, chiết xuất dữ liệu

theo yêu cầu từng giai đoạn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, đơn giản hóa các

thủ tục hành chính và giảm đi các chi phí vận hành.

Riêng đối với Chương trình SEQAP, cần có sự hỗ trợ từ các Sở, Ban,

ngành trong việc điều động, luân chuyển luân phiên, chuyển đổi vị trí cơng

tác cho các cán bộ cơng chức, viên chức đang làm công tác đấu thầu. Trong

thời gian thực hiện Chương trình SEQAP, đặc biệt là các cán bộ đã đi tham

gia tập huấn nghiệp vụ đấu thầu thì hạn chế hoặc giữ ngun vị trí cơng tác

hoặc có cơ chế chuyển giao cho người mới. Đồng thời, cũng tạo điều kiện về

các chính sách đãi ngộ như: mức tiền lương, tiền thưởng… cho các cán bộ

thực hiện công tác đấu thầu giúp họ yên tâm công tác cũng như bù đắp cho

các thiệt thòi về việc điều động, ln chuyển vị trí cơng tác.

Tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu ở các địa

phương thuộc Chương trình SEQAP. Đây là một cơng việc cần được tiến hành

một cách thường xuyên, Ban quản lý Chương trình SEQAP trung ương cần

đưa ra một bảng hệ thống các báo cáo chi tiết như: tên hạng mục gói thầu,

ngày mở thầu, ngày đóng thầu, ngày ký hợp đồng, giá trị gói thầu, ngày kết

thúc, giá dự tốn, so sánh tỷ lệ tiết kiệm, so về tiến độ thực hiện…Bên cạnh



đó, cần thường xuyên cử các chuyên gia tư vấn đấu thầu của Chương trình

xuống địa phương nhằm đánh giá quá trình kiểm tra, giám sát tại địa phương.

Các địa phương cần phải có một bản báo cáo đánh giá về quá trình thực

hiện của địa phương mình trong năm. Theo nghiên cứu của tác giả, các báo

cáo của địa phương chỉ báo cáo theo các nội dung của Ban quản lý SEQAP

trung ương đưa ra mà chưa có một bản báo cáo đánh giá về quá trình thực

hiện của địa phương, nhằm tổng kết đánh giá những mặt mạnh, mặt còn yếu

của địa phương, những khó khăn trong quá trình thực hiện. Những báo cáo

này nhằm phát hiện những mặt tích cực cần nhân rộng, những mặt hạn chế,

yếu kém cần khắc phục, đồng thời sẽ là căn cứ để có văn bản nhắc nhở và báo

cho các địa phương khác biết để không lặp lại những sai lầm đó nữa. Và đó

cũng là cở sở để Ban quản lý SEQAP hồn thiện lại quy trình, văn bản hướng

dẫn triển khai cho các địa phương.

3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung Quản lý Nhà nước đối với hoạt

động đấu thầu tại Chương trình SEQAP

(i) Về phía Chương trình SEQAP

Rà sốt lại và kịp thời bổ sung, sửa đổi những văn bản còn tồn tại

những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện nhằm giảm bớt khoảng cách

giữa Luật Đấu thầu của Chính phủ Việt Nam với các hướng dẫn của WB về

thực hiện các gói thầu thuộc Chương trình SEQAP. Bởi Chương trình SEQAP

nhận vốn đầu tư IDA từ WB và các nhà tài trợ, việc thực hiện đấu thầu phải

thực hiện theo các hướng dẫn của WB, tuy nhiên các hướng dẫn thực hiện của

WB và Luật đấu thầu của Việt Nam còn có nhiều khác biệt. Chính sự khác

biệt này gây khó khăn cho q trình thực hiện các gói thầu của địa phương.

Tăng cường công tác quản lý sau đấu thầu nhằm đảm bảo các đơn vị

thực hiện tốt công tác giám sát các gói thầuthi cơng đúng tiến độ và đảm bảo

chất lượng cơng trình theo đúng cam kết trong hợp đồng. Yêu cầu các đơn vị

giải trình, báo cáo về quy trình thực hiện đối với các gói thầu có giá trúng



thầu vượt giá dự tốn của gói thầu, các gói thầu phê duyệt lại kế hoạch đấu

thầu có giá trúng thầu vượt giá dự toán kế hoạch do WB phê duyệt…

Kiến nghị với Bộ GD&ĐT về việc phân cấp, ủy quyền phải dựa trên cơ

sở năng lực thực tế và các điều kiện cụ thể của từng địa phương một mặt

nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các cấp, mặt khác phải đảm bảo

chất lượng thực hiện công tác đấu thầu tuân thủ theo đúng quy trình đấu thầu

theo quy định của pháp luật.

Báo cáo với Bộ GD&ĐT về việc xử lý các tình huống, các lỗi vi phạm

trong quy trình đấu thầu các gói thầu xây lắp tại địa phương. Báo cáo những

gói thầu bị chậm tiến độ trong việc thực hiện hợp đồng không đảm bảo chất

lượng vật tư, thiết bị, cơng trình. Bên cạnh đó, gửi thông tin các nhà thầu vi

phạm đến Bộ GD&ĐT để kịp thời đăng tải công khai, làm cơ sở răn đe đến

các nhà thầu khác.

(ii) Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ KH&ĐT giải quyết các kiến nghị, sai

phạm trong đấu thầu các gói thầu của Chương trình SEQAP nhằm đảm bảo

tính minh bạch công khai trong đấu thầu.

Yêu cầu các đơn vị tự tiến hành kiểm tra tra thường xuyên hoạt động

đấu thầu các gói thầu của địa phương mình nhằm tự phát hiện các sai sót để

chỉnh sửa. Các tư vấn đấu thầu vùng hậu kiểm các gói thầu nhằm mục tiêu

phát hiện những mặt tích cực cần nhân rộng, những điểm hạn chế, tồn tại cần

khắc phục, đồng thời sẽ là căn cứ để có văn bản nhắc nhở cho các địa phương

khác thực hiện đúng quy định của WB và Luật Đấu thầu của Việt Nam. Ngoài

ra, qua các hoạt động kiểm tra này, Bộ GD&ĐT sẽ phối hợp cùng WB và Bộ

KH&ĐT sẽ tổ chức các hoạt động thanh - kiểm tra giám các địa phương trong

việc thực hiện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TẠI CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×