Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản

1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản

Tải bản đầy đủ - 0trang

định và dựa trên nguồn lực đã xác định. Dự án bao gồm dự án đầu tư, dự án

sự nghiệp và dự án hỗn hợp.

Các chương trình mục tiêu tuỳ theo tính chất mức độ sẽ được giao cho

các Bộ, quan ngang Bộ, các cơ quan trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội

và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao vốn,

kinh phí để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia.

Các vấn đề được chọn để giải quyết bằng Chương trình mục tiêu quốc

gia là những vấn đề cấp bách, liên ngành, liên vùng, có tầm quan trọng đối

với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước mà Chính phủ cần phải

tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo để giải quyết. Các vấn đề mà Chính phủ

Việt Nam đã cam kết với quốc tế phải thực hiện theo chương trình chung của

thế giới hoặc khu vực. Các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu quốc

gia được lựa chọn phải cụ thể, rõ ràng, đo lường được, phù hợp với các mục

tiêu của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của một quốc

gia trong thời gian xác định, đồng thời không trung lặp với mục tiêu, đối

tượng của các chương trình khác đang thực hiện. Tổng mức kinh phí của các

chương trình mục tiêu được dự tốn theo từng năm, và huy động từ các nguồn

vốn khác nhau của quốc gia hoặc từ các nguồn vốn vay ODA, IDA. Các

chương trình mục tiêu quốc gia sẽ được tính tốn đến các đối tượng tác động,

đối tượng thụ hưởng và hiệu quả đạt được khi triển khai chương trình và có

các thông số cụ thể để đánh giá tiến độ thực hiện, triển khai và giám sát tình

hình thực hiện. Các mục tiêu cụ thể phải xác định theo thứ tự ưu tiên hợp lý,

đảm bảo đầu tư tập trung, có hiệu quả

1.1.1.2



Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học



Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) là một

chương trình trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo. Chương trình được thực hiện

từ tháng 1/2010 đến hết tháng 12/2016 sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vùng

nguồn vốn vay ODA ưu đãi của Ngân hàng Thế giới và khoản ODA tài trợ

khơng hồn lại của DFIT và chính phủ Bỉ.



Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) có đặc

thù vừa là Chương trình, vừa là Dự án thể hiện rõ ở hai khía cạnh: 1- là

chương trình sử dụng vốn phân bổ theo dòng ngân sách, một số hoạt động chi

tiêu theo quy định chung của Nhà nước Việt Nam, đồng thời tuân thủ những

quy định riêng cho SEQAP; 2- là dự án sử dụng vốn ODA, có hệ thống ban

quản lý, một số hạng mục chi tiêu tuân thủ theo quy định của nhà tài trợ

(những quy định này đã được Nhà nước Việt Nam chấp thuận tại hiệp định tài

trợ). Như vậy, chương trình SEQAP vừa mang những đặc điểm chung và

những đặc điểm riêng so với các chương trình, dự án trước đây của Việt Nam.

Mục tiêu của Chương trình SEQAP là nâng cao chất lượng giáo dục tiểu

học ở Việt nam, giảm bất công bằng trong kết quả đầu ra, tăng chu trình hồn

thành giáo dục tiểu học của học sinh bằng cách chuyển sang mơ hình dạy học

cả ngày (FDS) với sự hỗ trợ của Chính phủ cho các nhóm bị thiệt thòi.

Mục tiêu dài hạn của Chương trình là tạo ra nền tảng để thực hiện dạy

hoc cả ngày trong các trường tiểu học trên khắp cả nước vào năm 2020. Các

mục tiêu ngắn hạn của Chương trình là xây dựng khung chính sách cho mơ

hình FDS, thử nghiệm và áp dụng mơ hình FDS cho 36 tỉnh đã được chọn, và

tạo ra các điểu kiện thuận lợi cho tiến trình chuyển sang mơ hình FDS trên

tồn quốc.

1.1.2 Khái quát về đấu thầu các dự án

1.1.2.1

i)



Khái niệm đấu thầu và phân biệt với đấu giá



Khái niệm Đấu thầu:



Theo Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm

2013 của Quốc hội có nêu:

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng

cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá xây lắp, lựa

chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng, dự án đầu tư theo hình thức

đối tác cơng tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh,

công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.



Như vậy, đấu thầu là một quy trình mà bên mời thầu (người mua) lựa

chọn được một nhà thầu (người bán) trong rất nhiều nhà thầu theo quy định

của pháp luật nhằm mục đích có được loại hàng hoá dịch vụ thoả mãn các yêu

cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất.

ii)



Sự khác nhau giữa đấu thầu và đấu giá



Đấu thầu



Đấu giá



- Đấu thầu là hoạt động mua hàng

(bên mời thầu). Bên mời thầu chủ động

tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm mua

hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt

nhất và giá cả thấp nhất, đảm bảo các

yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và tiến

độ thực hiện mà bên mời thầu đã yêu

cầu.



- Đấu giá là hoạt động bán

hàng. Người bán chủ động tổ chức

phiên đấu giá nhằm bán hàng hóa,

dịch vụ của mình với giá cao nhất

có thể



- Đối tượng chào bán của người

bán hàng hóa, dịch vụ chỉ dựa trên hồ

sơ. Người mua chỉ có được hàng hóa,

dịch vụ định mua sau khi thực hiện

xong hợp đồng đã được ký kết



- Đối tượng mang ra chào

bán đã rất rõ ràng. Người mua

hàng có thể xem, kiểm tra chất

lượng trước khi đưa ra giá mua

hàng.



- Đấu thầu có sự khống chế về giá

trần hay còn gọi là giá gói thầu (trừ

một số trường hợp đặc biệt). Do người

mua bị giới hạn về khả năng tài chính

trong thanh tốn cho gói thầu. Vì vậy,

chỉ có người bán nào đưa ra giá thấp

(đưa về một mặt bằng tính) khơng vượt

q giá trần và đáp ứng các yêu cầu về

mặt chất lượng của người mua thì sẽ có

cơ hội trúng thầu



- Đấu giá có sự khống chế về

giá sàn. Người bán đặt ra một mức

giá khởi điểm để bắt đầu đấu giá

cho những người mua hàng. Bởi

vì giá các bên tham gia đưa ra

phải đủ bù đắp cho những chi phí

giới hạn của người bán. Và ai là

người đưa ra giá cao nhất sẽ là

người sở hữu hàng hóa, dịch vụ

đó.



- Đặt cọc: Để mua được hàng hóa,

dịch vụ… của người bán, thì thường

phải qua hai giai đoạn đấu thầu để lựa

chọn nhà thầu phù hợp nhất và giai

đoạn thương thảo, hoàn thiện hợp đồng

và ký hợp đồng.



- Đặt cọc đối với đấu giá chỉ

cần thực hiện một lần đối với

những người tham dự để xác định

tư cách tham dự và ràng buộc về

mặt trách nhiệm đối với người

mua.



- Mục đích: Xác định trách nhiệm

ràng buộc đối với người bán. Đó là đặt

cọc để bảo đảm dự thầu và đặt cọc để

đảm bảo thực hiện hợp đồng. Sau khi

thực hiện xong hợp đồng thì người bán

được nhận lại số tiền đã đặt cọc.

1.1.2.2 Phân loại các hoạt động đấu thầu

Có ba lĩnh vực của hoạt động đấu thầu thuộc các Chương trình mục tiêu

đó là: xây lắp cơng trình, dịch vụ tư vấn và hàng hóa.

Xây lắp cơng trình như xây dựng cầu, đường, nhà xưởng… các thông

số và yêu cầu về mặt kỹ thuật của cơng trình đã được dự tốn và xác định

trong Hồ sơ mời thầu nên việc đấu thầu chủ yếu dựa trên đấu thầu cạnh tranh

theo giá.



Dịch vụ tư vấn: thiết kế, kiểm toán, giám sát, xây dựng lộ trình, chính

sách… việc lựa chọn tư vấn dựa vào kinh nghiệm, uy tín được tích lũy của

các cá nhân, tổ chức. Về cơ bản những tiêu chí này rất khó định lượng nên

việc đánh giá và đàm phán đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và xác

định nhà thầu có đề xuất tốt nhất, thực sự phù hợp và sẵn sang cung cấp dịch

vụ tư vấn.

Mua sắm hàng hóa: từ mua sắm giản đơn (thiết bị văn phòng, hàng hóa

thơng dụng, phổ biến…) đến mua sắm phức tạp (tàu biển, động cơ máy bay,

…). Việc mua sắm thông thường căn cứ vào chào hàng của nhà thầu trên

những thông số/tiêu chuẩn kỹ thuật đã được xác định trong hồ sơ mời thầu.

1.1.2.3 Khái quát Luật đấu thầu hiện hành

Luật đấu thầu bao gồm 13 chương và 96 điều với kết cấu rõ ràng nhằm

tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong đấu thầu nghiên cứu, áp dụng, cụ thể

như sau:

- Chương I. Quy định chung

Gồm 19 điều (từ Điều 1 đến Điều 19): Quy định về phạm vi điều chỉnh;

đối tượng áp dụng; áp dụng Luật đấu thầu, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc

tế; giải thích từ ngữ; tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư; bảo đảm cạnh

tranh trong đấu thầu; điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu;

thông tin về đấu thầu; ngôn ngữ sử dụng trong đấu thầu; đồng tiền dự thầu;

bảo đảm dự thầu; thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; chi

phí trong đấu thầu; ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu; đấu thầu quốc tế; điều

kiện đối với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu; các trường hợp hủy thầu;

trách nhiệm khi hủy thầu và đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu.

- Chương II. Hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và

tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp: Gồm 3 mục, 13 điều (từ Điều 20 đến Điều

32):

+ Mục 1. Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 08 điều (từ

Điều 20 đến Điều 27) quy định về đấu thầu rộng rãi; đấu thầu hạn chế; chỉ

định thầu; chào hàng cạnh tranh; mua sắm trực tiếp; tự thực hiện; lựa chọn



nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; tham gia thực hiện của cộng

đồng;

+ Mục 2. Phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 04 điều

(từ Điều 28 đến Điều 31) quy định về phương thức một giai đoạn một túi hồ

sơ; phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn một

túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ;

+ Mục 3. Tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, gồm 01 điều (Điều 32)

quy định về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp.

- Chương III. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu

Gồm 06 điều (từ Điều 33 đến Điều 38): Quy định về nguyên tắc lập kế

hoạch lựa chọn nhà thầu; lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu; nội dung kế hoạch

lựa chọn nhà thầu đối với từng gói thầu; trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà

thầu; thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn

nhà thầu.

- Chương IV. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; xét

duyệt trúng thầu

Gồm 05 điều (từ Điều 39 đến Điều 43): Quy định về phương pháp đánh

giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng

hóa, xây lắp, hỗn hợp; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu

cung cấp dịch vụ tư vấn; phương pháp đánh giá hồ sơ đề xuất; xét duyệt trúng

thầu đối với đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và xét duyệt trúng thầu đối với

đấu thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp.

- Chương V. Mua sắm tập trung, mua sắm thường xuyên, mua thuốc,

vật tư y tế; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công

Gồm 4 mục, 11 điều (từ Điều 44 đến Điều 54):

+ Mục 1. Mua sắm tập trung, gồm 02 điều quy định (từ Điều 44

đến Điều 45): Quy định chung về mua sắm tập trung; thỏa thuận khung;

+ Mục 2. Mua sắm thường xuyên, gồm 02 điều (từ Điều 46 đến

Điều 47): Điều kiện áp dụng; tổ chức lựa chọn nhà thầu;

+ Mục 3. Mua thuốc, vật tư y tế, gồm 05 điều (từ Điều 48 đến Điều

52): Lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; mua thuốc tập trung; ưu



đãi trong mua thuốc; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu

thầu thuốc, vật tư y tế; thanh tốn chi phí mua thuốc, vật tư y tế;

+ Mục 4. Cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gồm 2 Điều (từ Điều

53 đến Điều 54): hình thức lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà thầu.

- Chương VI. Lựa chọn nhà đầu tư

Gồm 05 điều (từ Điều 55 đến Điều 59): Quy đinh về kế hoạch lựa chọn

nhà đầu tư; quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế

hoạch lựa chọn nhà đầu tư, hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời

thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả lựa chọn nhà đầu tư; phương pháp đánh giá hồ

sơ dự thầu; xét duyệt trúng thầu trong lựa chọn nhà đầu tư.

- Chương VII. Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng

Gồm 02 điều (từ Điều 60 đến Điều 61): Quy định lựa chọn nhà thầu,

nhà đầu tư qua mạng; yêu cầu đối với hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương VIII. Hợp đồng

Gồm 2 mục, 11 điều (từ Điều 62 đến Điều 72):

+ Mục 1. Hợp đồng với nhà thầu, gồm 06 điều (từ Điều 62 đến

Điều 67): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp

đồng; hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng;

nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng;

+ Mục 2. Hợp đồng với nhà đầu tư, gồm 05 điều (từ Điều 68 đến

Điều 72): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp

đồng; hợp đồng với nhà đầu tư được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng.

- Chương IX. Trách nhiệm của các bên trong lựa chọn nhà thầu, nhà

đầu tư.

Gồm 08 điều (từ Điều 73 đến Điều 80): Quy định về trách nhiệm của

người có thẩm quyền; trách nhiệm của chủ đầu tư; trách nhiệm của bên mời

thầu; trách nhiệm của tổ chuyên gia; trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư;

trách nhiệm của tổ chức thẩm định; trách nhiệm của bên mời thầu tham gia hệ

thống mạng đấu thầu quốc gia và trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư tham

gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương X. Quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu



Gồm 08 điều (từ Điều 81 đến Điều 88): Quy định về nội dung quản lý

nhà nước về hoạt động đấu thầu; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; trách nhiệm của bộ, cơ

quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của tổ chức vận hành

hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; xử lý tình huống; thanh tra, kiểm tra và

giám sát hoạt động đấu thầu và khiếu nại, tố cáo.

- Chương XI. Hành vi bị cấm và xử lý vi phạm trong đấu thầu

Gồm 02 điều (từ Điều 89 đến Điều 90): Quy định về các hành vi bị cấm

trong đấu thầu và xử lý vi phạm.

- Chương XII. Giải quyết kiến nghị và tranh chấp trong đấu thầu

Gồm 2 mục, 04 điều (từ Điều 91 đến Điều 94):

+ Mục 1. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu, gồm 02 điều (từ Điều

91 đến Điều 92): Quy định về giải quyết kiến nghị trong đấu thầu và quy trình

giải quyết kiến nghị;

+ Mục 2. Giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại tòa án, gồm 02

điều (từ Điều 93 đến Điều 94): Quy định về nguyên tắc giải quyết và quyền

yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Chương XIII. Điều khoản thi hành

Gồm 02 điều (từ Điều 95 đến Điều 96): Quy định về hiệu lực thi hành

và quy định chi tiết.

1.1.2.4



Nguyên tắc và quy trình hoạt động đấu thầu



Đấu thầu hoạt động trên nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh theo cơ chế thị

trường. Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói

riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực để thúc đẩy sản xuất

phát triển. Bên mời thầu tạo điều kiện và khuyến khích các nhà thầu tham gia

vào quá trình đấu thầu để tạo điều kiện cho các nhà thầu cạnh tranh với nhau

trong việc giành lấy cơ hội bán hàng hóa, dịch vụ của mình trong điều kiện

nền kinh tế cung đang vượt cầu. Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt buộc các

nhà cung ứng phải nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của

mình để đáp ứng yêu cầu của người mua trong khi giá cả ngày càng cạnh

tranh. Sự cạnh tranh này làm cho các nhà cung ứng phải tái cơ cấu lại doanh



nghiệp, đơn giản hóa cơ cấu tổ chức để tiết kiệm chi phí trong khi vẫn đảm

bảo và nâng cao hiệu quả công việc.

Nguyên tắc thứ hai của đấu thầu đó là đảm bảo sự cơng bằng, minh

bạch. Bên mời thầu có trách nhiệm đối xử cơng bằng với các nhà thầu trong

q trình đấu thầu. Trong quá trình thực hiện đấu thầu, phải hết sức tôn trọng

quyền lợi của các bên tham gia, mọi thành viên tham gia từ bên mời thầu đến

các nhà thầu đều bình đẳng trước pháp luật, mỗi bên đều có quyền lợi và trách

nhiệm được quy định trong Luật. Bên mời thầu khơng có quyền đối xử thiên

vị với một nhà thầu nào. Mọi thông tin công khai đều phải được thông báo

cho các nhà thầu tham gia biết và tuân thủ đúng các quy định của Luật đấu

thầu hiện hành. Trong q trình đấu thầu khơng được có các hành động như

bên mời thầu cung cấp các thông tin bí mật cho một nhà thầu mà các nhà thầu

kia không biết. Hoặc tạo lợi thế cho nhà thầu này và làm hạn chế sự tham gia

của các nhà thầu khác. Đây là một hành vi bị cấm trong đấu thầu, được gọi là

hành vi thông thầu giữa bên mời thầu và nhà thầu nhằm tạo điều kiện cho nhà

thầu đó thắng thầu vì mục đích lợi nhuận.

Ngun tắc thứ ba của đấu thầu là đảm bảo hiệu quả của công tác đấu

thầu. Hiệu quả trong công tác đấu thầu chính là sử dụng hiệu quả nguồn tiền

của Nhà nước. Việc sử dụng các nguồn tiền của Nhà nước có thể mang lại

hiệu quả ngắn hạn nhưng lại tạo ra hiệu quả dài hạn cho nền kinh tế. Hiệu quả

ngắn hạn của các gói thầu trước hết đó là thực hiện đảm bảo về mặt chất

lượng và tiết kiệm một cách tối đa so với nguồn ngân sách dự kiến để đảm

bảo tính khả thi, hiệu quả của cả một dự án. Hiệu quả dài hạn về mặt kinh tế

có thể dễ dàng nhìn nhận và đánh giá thơng qua chất lượng hàng hóa, dịch vụ,

cơng trình tương xứng với đồng tiền bỏ ra, tiết kiệm một cách tối đa nguồn

ngân sách Nhà nước, tạo hiệu ứng dây chuyền, tạo ra một nguồn tích kiệm lớn

cho ngân sách Nhà nước để phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khác của nền

kinh tế và xã hội. Hiệu quả xã hội của đấu thầu được thể hiện thơng qua khía

cạnh như tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao mức sống dân cư, tạo diện mạo

mới cho nền kinh tế của đất nước thơng qua các cơng trình kết cấu hạ tầng, xã

hội được nâng cấp, cải thiện. Đó sẽ là một động lực để thu hút các nhà đầu tư,



các doanh nghiệp nước ngồi tham gia vào các gói thầu tại Việt Nam vì vậy

cần tạo lập mơi trường đầu tư thơng thống cho các hoạt động đầu tư kinh

doanh.

1.1.2.5

quốc gia



Vai trò của đấu thầu trong triển khai các Chương trình mục tiêu



Cơng tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển

kinh tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường,

cụ thể vai trò của hoạt động đấu thầu trong triển khai các Chương trình mục

tiêu quốc gia thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng

các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thốt, lãng

phí. Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự

tham gia của các tổ chức nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước ở một mức độ

nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước;

Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về

tham phòng- chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các

hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền

của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện

các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước;

Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa

các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển;

Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các

cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh

bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt

chẽ với sự tham gia của nhiều bên;

Hoạt động đấu thầu có thể tạo điều kiện cho việc huy động vốn từ khu

vực tư nhân để phục vụ các mục đích cơng cũng như phát triển các ngành,

nhóm và khu vực đặc biệt của các Chương trình mục tiêu quốc gia như: Giáo

dục, y tế, giao thông, vận tải…. Hoạt động đấu thầu lại càng trở nên quan



trọng ở các nước đang phát triển khi nguồn lực nhà nước trở nên hạn hẹp

trong lúc nhu cầu của nền kinh tế quốc gia ngày càng lớn.

1.1.3 Một số lý luận chung về Quản lý Nhà nước

1.1.3.1 Khái niệm và vai trò của Quản lý Nhà nước

(i) Khái niệm

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước “Quản lý nhà nước là sự

tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá

trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các

mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và

nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. (14, tr47).

Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có hướng đích, tổ chức

của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm đạt

mục tiêu thông qua sử dụng các công cụ chính sách, biện pháp quản lý của

Nhà nước. (19, slide 17)

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng

cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá xây lắp, lựa

chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng, dự án đầu tư theo hình thức

đối tác cơng tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh,

công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. (9, Điều 4)

Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế, chỉ xuất hiện trong nền kinh

tế thị trường và đấu thầu là quá trình thực hiện hoạt động mua bán đặc biệt

trong đó người mua (bên mời thầu) lựa chọn người bán (nhà thầu) theo quy

định của pháp luật nhằm mục đích có được hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các

yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật và chi phí thấp nhất.

Như vậy, quản lý Nhà nước về đấu thầu là sự tác động có hướng đích, có

tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đến đối tượng quản lý đấu

thầu nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra thơng qua sử dụng các cơng cụ

chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu.

(ii) Vai trò của Quản lý Nhà nước



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Một số khái niệm và lý luận cơ bản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×