Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Phân định nội dung và mô hình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại các chương trình mục tiêu quốc gia

2 Phân định nội dung và mô hình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại các chương trình mục tiêu quốc gia

Tải bản đầy đủ - 0trang

hạng mục thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất, trình tự thực hiện,

đảm bảo tính đồng bộ của dự án và quy mơ gói thầu hợp lý

u cầu của các hạng mục của kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với từng

gói thầu bao gồm:

-



Tên gói thầu;

Giá gói thầu;

Nguồn vốn;

Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu;

Thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu;

Loại hợp đồng;

Thời gian thực hiện hợp đồng;



Tài liệu thiết kế kèm theo dự tốn được duyệt đối với gói thầu xây lắp,

u cầu về đặc tính, thơng số kỹ thuật đối với hàng hóa (nếu có) và điều

khoản tham chiếu đối với gói thầu tư vấn.

Việc các cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu để

làm cơ sở thực hiện và giám sát tình hình sử dụng có mục đích của các nguồn

vốn, đảm bảo cho các hạng mục được dự tốn chi tiết.

Thơng qua kế hoạch đấu thầu thì các cơ quan có thẩm quyền có sự

giám sát về tiến độ thực hiện cơng việc theo đúng kế hoạch của các dự án đã

đề ra.

1.2.1.2

(i)



Quản lý về hình thức đấu thầu, hồ sơ và kênh truyền thơng mời

thầu đến các nhà thầu



Hình thức đấu thầu



Nhà nước quản lý hoạt động đấu thầu thông qua Kế hoạch đấu thầu, hình

thức đấu thầu các hạng mục phải được ghi rõ các hình thức đấu thầu và được

nêu trong Mục 1 Chương 2 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13:

-



Đấu thầu rộng rãi: là hình thức lựa chọn nhà thầu mà không hạn chế số

lượng nhà thầu tham gia dự thầu.



-



Đấu thầu hạn chế: Đấu thầu hạn chế chỉ áp dụng trong trường hợp gói

thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có

một số nhà thầy đáp ứng yêu cầu của gói thầu



-



Chỉ định thầu: được áp dụng trong trường hợp bảo đảm bí mật quốc gia,

gói thầu cần triển khai ngay hoặc xử lý sự cố, hoặc loại hàng hoá, dịch vụ

không thể mua được từ nhà thầu khác, các gói thầu có giá gói thầu trong

hạn mức được quy định theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều

kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.



-



Chào hàng cạnh tranh: được áp dụng đối với các gói thầu có giá trị trong

hạn mức theo quy định của Chính phủ và đó là các gói thầu mua loại hàng

hố, dịch vụ, … đơn giản, thơng dụng, có sẵn trên thị trường với đặc tính

kỹ thuật chuẩn hố và tương đương về mặt chất lượng và các gói thầu xây

dựng cơng trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt.



(ii)



Hồ sơ



Hồ sơ yêu cầu là tồn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu,

mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, bao gồm các yêu cầu cho một dự án,

gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên

mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ đề xuất nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho

bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ yêu cầu.

(iii)



Kênh truyền thông tin



Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 có quy định bắt buộc bên mời thầu

phải có trách nhiệm cung cấp thông tin để đăng tải công khai trên hệ thống

mạng đấu thầu quốc gia và Báo Đấu thầu, cũng như khuyến khích đăng tải

trên trang thơng tin điện tử của Bộ, ngành, địa phương hoặc trên các thông tin

đại chúng khác. Các nội dung bắt buộc phải công khai được quy định tại

khoản 1 Điều 8 của Luật là:

- Kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư;



- Thông báo mời quan tâm, thông báo mời sơ tuyển;

- Thông báo mời chào hàng, thông báo mời thầu;

- Danh sách ngắn;

- Kết quả lựa chọn nhà thầu; nhà đầu tư;

- Kết quả mở thầu đối với đấu thầu qua mạng;

- Thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu;

- Văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu;

- Danh mục dự án đầu tư theo hình thức đối tác cơng tư, dự án có sử

dụng đất;

- Cơ sở dữ liệu về nhà thầu, nhà đầu tư, chuyên gia đấu thầu, giảng

viên đấu thầu và cơ sở đào tạo về đấu thầu;

- Thơng tin khác có liên quan;

1.2.1.3 Quản lý về chấp hành các định chế mở và xét thầu

(i)



Mở thầu



Quá trình mở thầu phải chấp hành đúng theo Khoản 4 Điều 14 của

Nghị định 63/2014/ND-CP của Chính phủ:

Việc mở thầu phải được tiến hành cơng khai và bắt đầu ngay trong

vòng 01 giờ, kể từ thời điểm đóng thầu (Nghị định 85/2009/ND-CP thì việc

mở thầu phải trùng với thời điểm đóng thầu). Chỉ tiến hành mở các hồ sơ dự

thầu mà bên mời thầu nhận được trước thời điểm đóng thầu theo yêu cầu của

hồ sơ mời thầu trước sự chứng kiến của đại diện các nhà thầu tham dự lễ mở

thầu, không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của các nhà thầu.

Việc mở thầu được thực hiện đối với từng hồ sơ dự thầu theo thứ tự chữ

cái tên của nhà thầu và theo trình tự: Yêu cầu đại diện từng nhà thầu tham dự

mở thầu xác nhận việc có hay khơng có thư giảm giá kèm theo hồ sơ dự thầu

của mình. Kiểm tra niêm phong, mở hồ sơ và đọc rõ các thông tin về: tên nhà

thầu. số lượng bản gốc, bản chụp của hồ sơ, giá dự thầu ghi trong đơn dự



thầu, giá trị giảm giá (nếu có), thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, thời

gian thực hiện hợp đồng, giá trị hiệu lực của đảm bảo dự thầu và các thông tin

khác liên quan.

Biên bản mở thầu phải ghi tất cả các thông tin trên và được ký xác nhận

bởi đại diện bên mời thầu và các nhà thầu tham dự lễ mở thầu, biên bản này

sẽ được gửi cho các nhà thầu tham dự.

Đại diện bên mời thầu phải ký xác nhận vào bản gốc của đơn dự thầu,

đơn giảm giá (nếu có), giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của

nhà thầu (nếu có), thỏa thuận liên danh (nếu có), bảo đảm dự thầu, các nội

dung đề xuất tài chính và các nội dung quan trong khác của từng hồ sơ dự

thầu.

(ii)



Xét thầu



Bên mời thầu thành lập tổ chuyên gia xét thầu, nhiệm vụ của tổ chuyên

gia đấu thầu là đánh giá các hồ sơ dự thầu. Nhà thầu được xem xét và đề nghị

trúng thầu khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: (theo Điều 42, 43 của Luật Đấu

thầu số 43/2013/QH13)

- Có hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất hợp lệ;

- Có năng lực và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu;

- Có đề xuất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu;

- Có giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá

(nếu có), phương pháp giá thấp nhất, có điểm kỹ thuật cao nhất đối với

phương pháp giá cố định, có điểm tổng hợp cao nhất đối với phương

pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá (đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi

tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp hỗn hợp);

- Có giá đề nghị trúng thầu khơng vượt giá gói thầu được phê duyệt.

Trường hợp giá dự tốn của gói thầu được phê duyệt thấp hơn hoặc cao

hơn giá gói thầu được phê duyệt thì dự tốn sẽ thay thế giá gói thầu làm

cơ sở xét duyệt trúng thầu;



- Đối với nhà thầu không được lựa chọn, trong thông báo kết quả lựa

chọn nhà thầu phải nêu rõ lý do nhà thầu không trúng thầu.

1.2.1.4 Quản lý về báo cáo kết quả xét thầu

Việc quản lý về báo cáo kết quả xét thầu phải được tuân thủ theo Điều

20: Trình, thẩm định, phê duyệt và cơng khai kết quả lựa chọn nhà thầu theo

Nghị định 63/2014/ND-CP như sau:

- Trên cơ sở báo cáo kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu trình

kết quả lựa chọn nhà thầu, nêu rõ ý kiến của bên mời thầu về các nội

dung đánh giá của tổ chuyên gia.

- Kết quả lựa chọn nhà thầu phải được thẩm định theo quy định tại

Khoản 1 và Khoản 4 Điều 106 của Nghị định 63/2014/ND-CP trước khi

phê duyệt

- Kết quả lựa chọn nhà thầu phải được phê duyệt bằng văn bản và căn cứ

vào tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu.

- Trường hợp lựa chọn nhà thầu trúng thầu, văn bản phê duyệt kết quả

lựa chọn nhà thầu phải bao gồm các nội dung sau: tên nhà thầu, giá

trúng thầu, loại hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng, các nội dung

cần lưu ý (nếu có).

Trong trường hợp hủy thầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Luật

đấu thầu số 43/2013/QH13, trong văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà

thầu hoặc văn bản quyết định hủy thầu và trách nhiệm của các bên liên quan

khi hủy thầu.

Sau khi có quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, bên mời

thầu phải đăng tải thông tin về kết quả lựa chọn nhà thầu lên hệ thống mạng

đấu thầu quốc gia và Báo Đấu thầu; gửi thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu

cho các nhà thầu tham gia dự thầu trong thời gian quy định tại Điểm n Khoản

1 Điều 12 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13. Nội dung thông báo kết quả

lựa chọn nhà thầu bao gồm: thông tin quy định tại Khoản 4 Điều 20 Nghị định

63/2014/ND-CP, danh sách nhà thầu khơng được lựa chọn và tóm tắt về lý do



khơng được lựa chọn của từng nhà thầu, kế hoạch hoàn thiện, ký kết hợp đồng

với nhà thầu được lựa chọn.

1.2.1.5 Quản lý giám sát Nhà nước về ký kết và thực hiện hoạt động triển

khai kết quả xét thầu

Sau khi lựa chọn được nhà thầu trúng thầu, bên mời thầu và nhà thầu

tiến hành ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng. Hợp đồng được được ký

kết giữa các bên là hợp đồng dân sự, được thỏa thuận bằng văn bản để xác

nhận trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện tồn bộ phạm vi cơng việc

thuộc hợp đồng. Hợp đồng đã được các bên ký kết, có hiệu lực và phù hợp

với quy định của pháp luật, là văn bản pháp lý buộc trách nhiệm của các bên

trong quá trình thực hiện.

Nội dung của hợp đồng phải được lập theo mẫu quy định trong hồ sơ

mời thầu, hồ sơ yêu cầu, đồng thời phù hợp với kết quả thương thảo hợp

đồng, kết quả lựa chọn nhà thầu trên cơ sở yêu cầu của gói thầu và theo

hướng dẫn của cơ quản quản lý nhà nước chuyên ngành. Việc thương thảo

hợp đồng chỉ được thương thảo về tiến độ, các giai đoạn của hợp đồng và

không được thương thảo về giá trúng thầu.

Trước khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận việc sử dụng

trọng tài để giải quyết tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Nội dung liên quan đến việc sử dụng trọng tài phải được quy định cụ thể trong

hợp đồng.

1.2.1.6 Quản lý về kiểm soát Nhà nước với hoạt động đấu thầu và xử lý sai

phạm phát sinh

Việc quản lý về kiểm tra hoạt động đấu thầu bao gồm: kiểm tra việc ban

hành văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành, địa phương, kiểm tra đào tạo về

đấu thầu, kiểm tra việc lập và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, kiểm tra

việc tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng và các hoạt động khác liên

quan đến đấu thầu.



Việc kiểm tra hoạt động đấu thầu được tiến hành thường xuyên hoặc

đột xuất theo quyết định của Bộ trưởng, cơ quan ngang Bộ,… người đứng đầu

dự án, chương trình có thẩm quyền kiểm tra. Việc kiểm tra này nhằm mục

đích đảm bảo q trình lựa chọn nhà thầu được tuân thủ đúng theo Luật đấu

thầu hiện hành. Mặt khác, đảm bảo hoạt động đấu thầu đạt đúng mục tiêu, đẩy

nhanh tiến độ thực hiện, tăng cường hiệu quả của công tác đấu thầu, kịp thời

phát hiện , ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu.

Việc xử lý vi phạm được quy định chi tiết trong điều 90 và các loại

hành vi bị cấm trong đấu thầu được quy định tại điều 89 của Luật đấu thầu số

43/2013/QH13 ngày 26/11/2013.

1.2.1.7 Tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại các chương

trình mục tiêu quốc gia

Bộ chủ trì Quản lý Nhà nước về triển khai chương trình mục tiêu quốc

gia có trách nhiệm tổ chức xây dựng chương trình, dự án, lập kế hoạch về

nhiệm vụ, mục tiêu, kinh tế, giải pháp thực hiện để gửi Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Tài chính để thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Các cơ quan quản lý nhà nước chức năng các cấp có nhiệm vụ xây

dựng cơ chế, chính sách và hướng dẫn nghiệp vụ cho các Bộ, cơ quan Trung

ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nằm trong các chương trình

mục tiêu quốc gia để có căn cứ thực hiện.

Ban quản lý Chương trình mục tiêu quốc gia có nhiệm vụ xây dựng kế

hoạch thực hiện, mục tiêu đề ta, nhiệm vụ, đề xuất nguồn lực để thực hiện các

chương trình mục tiêu quốc gia. Và kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện của

các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia. Bên cạnh đó còn phải chịu

một phần trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí của các dự án được giao thực

hiện đảm bảo đúng mục đích, có hiệu quả, khơng để thất thốt. Vào cuối các

năm tài chính, Ban quản lý cần gửi báo cáo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ

Tài chính về tình hình thực hiện các dự án của Chương trình mục tiêu quốc

gia theo nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định



Ban quản lý dự án triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia có hoạt

động đấu thầu phải xây dựng kế hoạch đấu thầu và triển khai kế hoạch đó

theo đúng tiến độ đã được phê duyệt. Vào các kỳ báo cáo, Ban quản lý có

trách nhiệm báo cáo về tình hình thực hiện các gói thầu gửi về Ban quản lý

Chương trình mục tiêu quốc gia và phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng

kinh phí của Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

1.2.2Nội dung quá trình Quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại

các Chương trình mục tiêu quốc gia

1.2.2.1 Hoạch định các chính sách, định chế quản lý Nhà nước triển khai

Luật Đấu thầu đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia

Chính sách là một hệ thống các quy định, các cơng cụ và biện pháp

thích hợp của Nhà nước để điều chỉnh các hoạt động đấu thầu trong một thời

kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội của một quốc gia.

Và chính sách về quản lý đấu thầu được cụ thể bằng các điều Luật về

đấu thầu, các nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành luật, các thông tư. Các văn

bản luật và văn bản quy phạm này là vỏ bọc chứa đựng chính sách đó dưới

dạng ngơn ngữ và hình thức pháp lý. Việc xây dựng chính sách là q trình

quyết định điều gì cần đạt được, những việc phải làm, giải pháp cần triển

khai, cách làm và công cụ thực hiện…

Tuy nhiên trước hết cần xác định các vấn đề còn đang bất cập, nguyên

nhân gây ra những bất cập đó dẫn đến sự thất bại của mội chính sách, dẫn đến

tình trạng văn bản quy phạm pháp luật không đem lại hiệu quả mong muốn và

lãng phí nguồn lực lớn đầu tư cho văn bản, thậm chí còn dẫn đến cách hiểu

sai trong việc thực hiện chính sách, quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó.

Trong hoạt động đấu thầu, vấn đề nổi cộm lên trong quá trình mời thầu

là hiện tượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu và đang bị

biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau. Có thể là giữa nhà thầu và bên

mời thầu, hoặc giữa các nhà thầu nhằm mục đích lợi nhuận.



Một vấn đề bất cập khác của đấu thầu đó là bên mời thầu đưa ra hồ sơ

yêu cầu được “đo ni đóng giày” cho một nhà thầu của mình nhằm cản trở, hạn

chế sự tham gia của các nhà thầu khác. Đây là một hành vi bị cấm trong đấu

thầu, tuy nhiên hình thức này khơng có bằng chứng để minh chứng cho hành

động thông đồng giữa nhà thầu và bên mời thầu vì vậy rất khó để xử phạt.

1.2.2.2 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đấu

thầu tại Chương trình mục tiêu quốc gia

Tại các chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng nguồn vốn nhà nước,

sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30%

nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án. Việc sử dụng vốn

nhà nước nhằm cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cơng thì đều phải tn thủ

các quy định có liên quan của Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định

63/2014/ND-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về

lựa chọn nhà thầu

Việc tổ chức thực hiện các hoạt động về đấu thầu tại các Chương trình

mục tiêu quốc gia cần phải tuân thủ theo quy định của Luật hiện hành và quy

định khác của pháp luật có liên quan. Việc tổ chức thực hiện trên cơ sở đảm

bảo mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ

phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi từ điều ước quốc tế, thoả thuận

quốc tế giữa Việt Nam với các nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều

ước quốc tế và thoả thuận quốc tế đó.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu khác với quy định

của Luật đấu thầu hiện hành thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế

đó.

1.2.2.3 Kiểm tra, kiểm soát và thanh tra Nhà nước về các hoạt động tại

Chương trình mục tiêu quốc gia



Nhà nước giám sát và kiểm tra hoạt động đấu thầu đối với các tổ chức,

dự án, chương trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước thông qua Thanh tra đấu

thầu.

Thanh tra hoạt động đấu thầu là thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực

đấu thầu. Việc thanh tra đấu thầu được tiến hành thường xuyên hoặc đột xuất

theo quyết định của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra. Việc

kiểm tra hoạt động đấu thầu bao gồm: kiểm tra việc ban hành văn bản hướng

dẫn về đấu thầu của các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, kiểm tra

việc lập và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, kiểm tra việc tổ chức lựa

chọn nhà thầu, việc ký kết hợp đồng và các hoạt động khác liên quan đến đấu

thầu.

Việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra Nhà nước nhằm sớm phát hiện các

thiếu sót, hướng dẫn chủ đầu tư và bên mời thầu giải quyết theo đúng quy

định và đúng thẩm quyền. Do đó, hoạt động kiểm tra cũng đã giúp tăng cường

nhận thức của các đối tượng được kiểm tra trong việc thực thi pháp luật.

Ngoài ra, kiểm tra, thanh tra về đấu thầu cũng đã góp phần ngăn ngừa các

hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói

riêng.

1.2.3 Tiêu chí đánh giá Quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại

các Chương trình mục tiêu quốc gia

1.2.3.1 Tiêu chí thống kê

Để giám sát q trình thực hiện ở các Chương trình mục tiêu quốc gia, vào

cuối các năm, các Bộ chủ quản đều yêu cầu các dự án, chương trình báo cáo

tổng kết cơng tác đấu thầu định kỳ theo kế hoạch hàng năm theo các tiêu chí

thống kê sau:

- Nội dung các gói thầu;

- Loại nguồn vốn;

- Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu;



- Thời gian phát hành hồ sơ mời thầu/hồ sơ yêu cầu;

- Thời gian mở thầu;

- Thời gian đánh giá thầu;

- Thời gian ký kết hợp đồng

- Nhà thầu trúng thầu;

- Giá đề nghị trúng thầu;

Việc xây dựng các tiêu chí thống kê này giúp kiểm sốt chặt chẽ tình

hình sử dụng vốn, tiến độ thực hiện các hạng mục đấu thầu, việc sử dụng có

đúng mục đích các nguồn vốn.

1.2.3.2 Tiêu chí mơ tả thống kê

Sau khi xác định bảng tiêu chí thống kê hoạt động đấu thầu hàng năm

thì phải kèm theo bảng giải trình và đánh giá việc thực hiện đấu thầu trong

năm đó của chương trình, dự án. Việc giải trình, đánh giá bao gồm: mơ tả các

gói thầu, số lượng, tổng giá gói thầu, tổng giá trúng thầu, tỷ lệ tiết kiệm thông

qua đấu thầu, phương pháp đánh giá…

Báo cáo tình hình thực hiện việc đăng tải thông tin trong đấu thầu lên

hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Báo cáo về tình hình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ

đấu thầu cho các nhân viên thực hiện công tác đấu thầu tại các dự án, chương

trình.

Báo cáo về kết quả đạt được trong hoạt động đấu thầu, những mặt còn

tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong q trình thực hiện. Bên cạnh đó cần nêu

kiến nghị, đề xuất để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và

thực hiện công tác đấu thầu.

1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu

tại Chương trình mục tiêu quốc gia

1.2.4.1 Yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định văn bản Quản lý Nhà nước



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Phân định nội dung và mô hình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại các chương trình mục tiêu quốc gia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×