Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Khái quát tình hình triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về đảm bảo chất lượng giáo dục trường học ở Việt Nam

1 Khái quát tình hình triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về đảm bảo chất lượng giáo dục trường học ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

hình FDS với thời khóa biểu T35 sẽ u cầu học sinh dự học cả ngày trong 4

ngày /một tuần và học một buổi trong một ngày còn lại của tuần

Ngày học ở trường kéo dài đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn cho nhà

trường để có thể dạy học theo thời khóa biểu mở rộng. Cùng với việc thêm

thời gian, các nguồn lực này bao gồm việc nâng cao các kỹ năng, kiến thức và

kỹ thuật dạy học để cho phép giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường có thể

hoạt đơng theo phương thức cả ngày, cần có thêm diện tích và các phương

tiện dạy học, cần thêm thời gian dạy học, tăng chi phí vận hành nhà trường

với số giờ làm việc nhiều hơn, và cuối cùng là các chi phí khơng phải giáo

dục mà lại liên quan đến việc học sinh ở lại trường cả ngày. Chương trình

đảm bảo chất lượng giáo dục trường học cung cấp tất cả các nguồn lực cần

thiết cho nhà trường để chuyển từ dạy học một buổi sang dạy học tại trường

cả ngày.

Chương trình SEQAP có 4 thành phần :

 Thành phần 1: Xây dựng khung chính sách cho chuyển sang mơ hình dạy

học cả ngày (FDS). Đây là một thành phần mang tính chiến lược hướng tới sự

hồn thiện các u cầu chuyển đổi sang mơ hình FDS trong giai đoạn 2010 –

2016, tuy nhiên vẫn hướng tới xây dựng một khung chính sách cơng bằng,

hiệu quả hơn nhằm đẩy nhanh cải cách giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn

2016 – 2025. Thành phần này bao gồm hai tiểu mục thành phần và một vài

hoạt động, chủ yếu là hỗ trợ kỹ thuật sẽ được áp dụng trên cả nước và do cấp

trung ương thực hiện. Đặc biệt thành phần này thực hiện bốn lĩnh vực chính

là: (i) khuôn khổ đảm bảo chất lượng để chuyển đổi sang FDS, (ii) quản lý

nguồn nhân lực, bao gồm sử dụng giáo viên và khối lượng công việc cho giáo

viên và các mối liên hệ giữa các chuẩn nghề nghiệp và chức danh cho giáo

viên, (iii) quản lý sự tham gia của cộng đồng và phụ huynh để chuyển đổi

sang FDS, và (iv) các cơ chế tài trợ thường xuyên để chuyển đổi sang

FDS.Để chuyển sang mơ hình FDS cần xây dựng các hướng dẫn và quy trình

thực hiện, bên cạnh đó xây dựng một hành lang chính sách rộng hơn cần thiết

cho FDS để đảm bảo rằng sẽ có một mơi trường thuận lợi, chính sách liên



quan và các quy định khung cần thiết cho phép áp dụng và cải tiến thành cơng

mơ hình FDS.

 Thành phần 2: Cải thiện các nguồn lực cho chuyển sang mơ hình FDS.

Thành phần này hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn và đào tạo giáo viên, lãnh đạo

trường và cán bộ quản lý giáo dục nhằm thực hiện chuyển đổi thành công

sang FDS tại các tỉnh được chọn, trong đó tập trung vào phương pháp dạy

học, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, quản lý nhà trường. Thực hiện FDS cần

gắn liền với công tác đào tạo những lãnh đạo nhà trường, giáo viên và cán bộ

quản lý về các nội dung quan trọng nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn

ra thuận lợi. Điều này hết sức quan trọng để SEQAP sẽ đem lại những giờ

giảng viên trên lớp hiệu quả hơn trong bối cảnh thời gian dành cho học tập

tăng lên và cuối cùng là đem lại sự tiến bộ trong kết quả học tập.

 Thành phần 3: Cải tiện các nguồn lực vật chất và các nguồn lực hiện có

khác để chuyển sang mơ hình FDS. Thành phần 3 này sẽ hỗ trợ nâng cấp cơ sở

hạ tầng và các phương tiện của nhà trường và các chi phi bổ sung cần thiết cho

các trường Tiểu học trong chương trình để hỗ trợ chuyển thành cơng sang mơ

hình FDS. Thành phần này bao gồm (i) phần lương trả cho các giáo viên tuyển

thêm hoặc giờ dạy thêm; (ii) Các trang thiết bị và cơ sở vật chất bổ sung của

nhà trường; (iii) quĩ tài trợ cho các chi phí hoạt động liên quan đến ngày học

kéo dài; và (iv) quĩ phúc lợi cho một phần bữa ăn trưa của học sinh và các

khoản phúc lợi khác hỗ trợ cho các gia đình có khó khăn nhất để duy trì cho trẻ

em đến trường..

 Thành phần 4: Quản lý và điều phối thực hiện chương trình.

Chương trình SEQAP được thực hiện trên phạm vi 36 tỉnh nơi có điều

kiện kinh tế xã hội khó khăn, trong đó ưu tiên cho nhóm học sinh nghèo, học

sinh có hồn cảnh đặc biệt khó khănvà được phân cấp triệt để tới các Phòng

Giáo dục nên các hoạt động đấu thầu mua sắm sẽ được xử lý ở cấp huyện và

xuống đến cấp xã/trường đặc biệt là đối với cơng tác xây dựng trường học.

Quy trình thực hiện các gói thầu xây dựng được thực hiện theo quy định của



WB và tuân thủ theo những sửa đổi, bổ sung theo hướng dẫn của Ngân hàng

đã được thỏa thuận trong Hiệp định tài trợ.

Số tiền được tài trợ sẽ được dùng để xây dựng cơ sở vật chất cho các

trường tiểu học thuộc Chương trình SEQAP, mua trang thiết bị cung cấp cho

lớp học, văn phòng phẩm, dụng cụ học tập, hỗ trợ học sinh bữa ăn trưa, lương

tăng thêm cho giáo viên, quỹ hỗ trợ cho học sinh, tổ chức tập huấn cho cán bộ

quản lý, cán bộ chuyên môn… ở địa phương. Ở Ban quản lý Chương trình

SEQAP thì để chi trả cho các tư vấn, nhân viên trong nước, tư vấn quốc tế

thực hiện Chương trình, in ấn tài liệu, mua trang thiết bị, chi phí hoạt động

của Ban quản lý ... Và theo quy định của WB, bất kỳ một hoạt động nào sử

dụng tiền của WB đều phải thực hiện hoạt động đấu thầu áp dụng phương

pháp chọn nhà thầu theo hướng dẫn của WB.

2.1.2 Tình hình triển khai và kết quả thực hiện hoạt động đấu thầu tại

Chương trình SEQAP

2.1.2.1 Phân cấp quản lý tại Chương trình SEQAP



Các nhà tài trợ: WB, Bỉ, DFIT



Chính phủ Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo



Ban Quản lý Chương trình

SEQAP



Sở Giáo dục và Đào tạo



Nguồn: Tài liệu dự án

Phòng giáo dục/Ban quản

lý SEQAP huyện



Phòng giáo dục/Ban quản

lý SEQAP huyện



Phòng giáo dục/Ban quản

lý SEQAP huyện



2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức tại Ban quản lý SEQAP Trung ương

Giám đốc Ban Quản lý Chương trình SEQAP



Bộ

phận

Hành

chính



Bộ

phận

Tài

chính



Bộ

phận

Đào

tạo

bồi

dưỡn

g



Bộ

phận

Xây

dựng



bản



Bộ

phận

Mua

sắm

đấu

thầu



Bộ

phận

Chính

sách



Bộ

phận

Cơng

nghệ

thơng

tin



Bộ

phận

Dạy

học cả

ngày

(FDS)



Nguồn: Tài liệu dự án



Chức năng nhiệm vụ chính của từng bộ phận:

- Bộ phận Hành chính: Tiếp nhận các cơng văn từ các nơi, phân loại và gửi

đến các bộ phận kỹ thuật; gửi đi các công văn của các bộ phận đã được Giám

đốc ký; lưu trữ các văn bản theo quy định của Nhà nước. Quản lý thiết bị và

các tài sản cố định được sử dụng tại Ban quản lý SEQAP. Và cấp phát văn

phòng phẩm theo nhu cầu của các bộ phận theo định mức mà Nhà nước đã

quy định.

- Bộ phận Tài chính: Lên dự tốn ngân sách, theo dõi và giám sát tiến độ

thực hiện của Ban quản lý SEQAP. Theo dõi và tổng hợp số liệu về tiến độ

giải ngân của các tỉnh thuộc Chương trình SEQAP. Thực hiện các hoạt động

thanh toán nội bộ theo quy định của Nhà nước.

- Bộ phận Đào tạo bồi dưỡng và bộ phận FDS: Xây dựng và lập kế hoạch

đào bồi dưỡng trong năm. Lên dự toán và chuẩn bị các tài liệu phục vụ các

đợt tập huấn nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên và cán bộ quản

lý.Mời các tác giả tham gia và phối hợp với tư vấn của bộ phận biên soạn tài

liệu, tổ chức thẩm định tài liệu trước khi ban hành.

- Bộ phận Xây dựng cơ bản: hướng dẫn các tỉnh tham gia Chương trình để

triển khai các hoạt động xây dựng cơ bản. Phối hợp với bộ phận Mua sắm đấu



thầu theo dõi hoạt động đấu thầu xây dựng cơ bản ở các tỉnh để phục vụ việc

chỉ đạo và giám sát thực hiện, hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho các tỉnh. Và báo cáo

tình hình thực hiện cơng tác xây dựng ở các tỉnh theo yêu cầu quy định của

Việt Nam và WB.

- Bộ phận Mua sắm đấu thầu: lập kế hoạch đấu thầu cho toàn bộ Ban quản lý

Chương trình và trình lên Bộ Giáo dục và WB phê duyệt. Tổ chức triển khai

kế hoạch đấu thầu được phê duyệt theo đúng tiến độ. Tổ chức tập huấn và

hướng dẫn quy trình thủ tục mua sắm đấu thầu của WB và Chính phủ Việt

Nam đã quy định trong Hiệp định tài trợ cho các tỉnh thuộc Chương trình

SEQAP. Đơn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình triển khai công tác

mua sắm đấu thầu của Ban quản lý và các tỉnh tham gia SEQAP. Tổ chức

công tác hậu kiểm đấu thầu hàng năm cho hoạt động đấu thầu ở các Ban quản

lý SEQAP huyện. Báo cáo định kỳ cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và WB về kết

quả triển khai mua sắm đấu thầu của Ban quản lý SEQAP và các Ban quản lý

SEQAP huyện.

- Bộ phận Chính sách: chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ phận

khác xây dựng chính sách dạy học cả ngày, tổ chức các cuộc hội thảo, tập

huấn xây dựng chính sách, nâng cao năng lực thực hiện chính sách dạy học cả

ngày cho cán bộ các tỉnh tham gia Chương trình

- Bộ phận Cơng nghệ thơng tin: xây dựng các nội dung để các Sở và Ban

quản lý SEQAP huyện cung cấp thông tin. Nghiên cứu, triển khai chương

trình DFA ở các huyện tham gia Chương trình phù hợp với hệ thống EMIS đã

có ở Bộ Giáo dục và Đào tạo. Và ứng dụng công nghệ thông tin trong cơng

tác quản lý Chương trình.

2.1.2.3 Tình hình thực hiện

Chương trình SEQAP được thực hiện từ tháng 01/2010 giai đoạn ban

đầu việc giải ngân rất chậm và được thực hiện chủ yếu ở Ban quản lý SEQAP

trung ương. Tình hình giải ngân được thể hiện ở dưới bảng sau:



Bảng 2. 1: Tình hình giải ngân qua các năm của Chương trình SEQAP

(đơn vị: triệu VNĐ)



Năm

2010

2011

2012

2013

2014

2015



Ngân sách phân

bổ

179,019

417,179

308,948

630,893

928,445

672,200



Số Giải ngân thực Tỷ lệ giải ngân

tế

(%)

27,515

15.369877

277,481

66.513655

522,605

169.1563

751,752

119.15674

881,684

94.963502

729,421

108.51252



Nguồn: Báo cáo kiểm tốn tài chính các năm của Chương trình SEQAP



Trong giai đoạn đầu thực hiện chương trình SEQAP năm 2010, tiến độ

giải ngân rất chậm và thực hiện chủ yếu ở Ban quản lý SEQAP trung ương, tỷ

lệ giải ngân chỉ đạt 15.36% bởi Chương trình SEQAP là chương trình đầu tiên

của Việt Nam thực hiện phân cấp triệt để đến cấp huyện, xã và các đơn vị thụ

hưởng muốn giải ngân thì phải theo Hiệp định tài trợ và sự kiểm soát của các

Nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam. Mặt khác, năm 2010 các địa phương đang

xây dựng ban quản lý cấp huyện nhằm quản lý và điều phối các hoạt động

thuộc Chương trình, các kế hoạch đấu thầu gửi lên các huyện còn chậm, và

các kế hoạch gửi lên còn nhiều sai sót cần phải chỉnh sửa nên dẫn đến tiến độ

thực hiện chậm. Các năm tiếp theo tiến độ giải ngân đã được cải thiện rất

nhiều, tuy nhiên so với tiến độ được thiết kế ban đầu còn rất chậm. Với đặc

điểm, số vốn còn thừa sau khi giải ngân sẽ được chuyển cho năm tiếp theo vì

vậy, năm 2012, 2013 và 2015 số tiền giải ngân của thực tế cao hơn so với kế

hoạch phân bổ.

Bảng 2. 2: Kết quả thực hiện đấu thầu

Nội dung



Số lượng luỹ kế từ 2010 đến 30/6/2015



Tổng số phòng học đã xây



1560



Tổng số phòng vệ sinh đã xây



1055



Tổng số phòng đa năng đã xây



240



Nguồn: Báo cáo tiến độ thực hiện các kỳ của Chương trình SEQAP.



Thơng qua đấu thầu, đã có 1560 phòng học, 1055 phòng vệ sinh và 240

phòng đa năng được xây dựng tương đương với 1066 gói thầu đã được đấu

thầu và trao thầu, hoàn thành 94% kế hoạch đề ra (xem chi tiết tại phụ lục 2).

Đây là điều kiện và cơ sở cơ bản để gia tăng số lượng học sinh được học cả

ngày ở các trường tham gia SEQAP, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số.

Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng được cải thiện ở các trường thực

hiện dạy học cả ngày. Sau 6 năm thực hiện chương trình, chất lượng giáo dục

tồn diện và kết quả học tập của học sinh của mơn Tốn và mơn Tiếng Việt

được cải thiện một cách rõ rệt. Tỷ lệ học sinh đạt kết quả khá, giỏi hai môn

đạt 88% năm 2015 tăng 8% so với năm 2010, tỷ lệ học sinh học yếu kém, tỷ

lệ học sinh đi học không đều và bỏ học giảm dần.

Phòng học đa năng là sản phẩm đặc thù của Chương trình SEQAP

(Chương trình đầu tiên được xây dựng trong các dự án vốn vay IDA của

ngành). Phòng đa năng cho trường tiểu học thuộc đối tượng địa bàn khó khăn,

giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động của nhà

trường. Phòng đa năng có thể được khai thác với nhiều chức năng, mục đích

sử dụng và gắn liền với yêu cầu đổi mới phương pháp, kỹ thuật dạy học, giáo

dục toàn diện cho học sinh tiểu học. Chính việc được hỗ trợ đầu tư xây dựng

từ Chương trình SEQAP sẽ giúp phát triển đồng đều mơ hình FDS ở các đối

tượng địa bàn theo vùng miền, đặc biệt là vùng khó khăn, vùng miền núi, dân

tộc…tạo tiền đề và điều kiện cho các trường chuyển đối sang dạy học cả ngày

đạt kết quả, nâng cao chất lượng dạy – học và giảm, thu hẹp khoảng cách giữa

học sinh vùng khó với học sinh các vùng có lợi thế.

2.1.3 Thống kê về một số tài liệu, văn bản Quản lý Nhà nước về đấu thầu

áp dụng cho Chương trình đến thời điểm hiện tại

2.1.3.1 Những tài liệu, văn bản quy định của WB mà Nhà nước đã chấp nhận

cho áp dụng khi thực hiện Chương trình SEQAP (ghi tại Hiệp định tại chính

ký giữa Nhà nước Việt Nam và WB)

- Hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay IBRD và Tín dụng IDA- tháng 5/2004,

sửa đổi tháng 10/2006



- Hướng dẫn tuyển chọn và thuê tư vấn do Bên vay của Ngân hàng Thế giới

thực hiện, tháng 5/2004, sửa đổi vào ngày 01/10/2006.

- Các mẫu chuẩn Hồ sơ mời thầu; Báo cáo đánh giá thầu

2.1.3.2 Những tài liệu, văn bản quy định của Nhà nước Việt Nam

- Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc Hội

- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng

cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội, trong đó có sửa đổi

bổ sung 21 điều của Luật đấu thầu

- Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi

hành Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và việc lựa chọn nhà thầu xây dựng.

- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc hội.

- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

- Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10/2/2010 về quy định chi tiết lập Hồ sơ

mời thầu hàng hóa

- Thơng tư số 06/2010/TT-BKH ngày 09/3/2010 về quy định chi tiết lập Hồ sơ

mời thầu dịch vụ tư vấn

- Thông tư số 15/2010/TT - BKH ngày 29/6/2010 về quy định chi tiết về lập

Báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu dịch vụ tư vấn

- Thông tư số 01/2011/QĐ-BKHĐT ngày 04/12/2010 về quy định chi tiết

kiểm tra về công tác đấu thầu

- Thông tư liên tịch số 20/2010/TTLT-BKH-BTC ngày 21/9/2010 Quy định

chi tiết việc cung cấp thông tin về đấu thầu để đăng tải trên Báo Đấu thầu



- Công văn 515/SEQAP-MSĐT ngày 23/11/2012 về việc áp dụng mẫu hồ sơ

yêu cầu cho hình thức chào hàng cạnh tranh đối với các gói thầu xây dựng

thuộc Chương trình SEQAP.

2.2 Phân tích thực trạng thực hiện nội dung quản lý Nhà nước đối với

hoạt động đấu thầu tại Chương trình SEQAP

2.2.1 Mơ tả phương pháp nghiên cứu thực trạng

Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường

được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, đề tài vận dụng các

phương pháp thống kê, so sánh, phân tích số liệu thứ cấp, diễn dịch, quy nạp

từ các tài liệu của Chương trình như: báo cáo tiến độ thực hiện qua các năm,

báo cáo kiểm toán đấu thầu, báo cáo kiểm toán tài chính.... Và phương pháp

nghiên cứu bằng bảng hỏi với các cán bộ quản lý là:

+ Các cán bộquản lý thuộc Ban quản lý Chương trình SEQAP: 20 phiếu

+ Các cán bộquản lý thuộc đối tượng thụ hưởng Chương trình SEQAP: 20

phiếu

2.2.2 Quy mơ nghiên cứu

Chương trình SEQAP thực hiện công tác đấu thầu ở tất cả các cấp, cụ

thể là: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp trường trên phạm vi rộng lớn

gồm 36 tỉnh, 282 huyện, 1628 trường với nhiều hình thức, phương thức lựa

chọn nhà thầu và quy trình khác nhau, đặc biệt là đấu thầu ở cấp Trung ương.

Trong phạm vi quy định của bản luận văn thạc sĩ, khơng thể nào

nghiên cứu hết tồn bộ các công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu

thầu ở các cấp thực hiện Chương trình SEQAP. Tác giả chỉ tập trung nghiên

cứu công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại cấp huyện với

các gói thầu xây dựng cơ bản, với hình thức chào hàng cạnh tranh và hình

thức của hợp đồng là hợp đồng trọn gói. Vì những lý do sau đây:

Tham gia Chương trình SEQAP, lần đầu tiên cấp huyện thực hiện

công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu mà ngoài những quy



định theo luật của Việt Nam, còn có những quy định của quốc tế (Ngân hàng

Thế giới –WB)

Tham gia Chương trình SEQAP, lần đầu tiên các cán bộ cấp huyện

trực tiếp tổ chức các hoạt động đấu thầu xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn

từ nhà tài trợ và vốn đối ứng Chính phủ phục vụ cho trường học.

2.2.3 Kết quả nghiên cứu

2.2.3.1 Quản lý về kế hoạch đấu thầu

Việc quản lý về kế hoạch đấu thầu (KHĐT) trong các gói thầu là một

sự quản lý cần thiết và bắt buộc tuân thủ Luật Đấu thầu hiện hành. Việc quản

lý về KHĐT này nhằm mục đích đề ra mục tiêu để thực hiện, KHĐT đã được

xác định cụ thể về mặt phạm vi, tiến độ, hình thức thực hiện, chi phí dự

tốn…

Theo báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2011 các gói thầu xây lắp tại

Chương trình thì: “Đối với một số trường tham gia Chương trình khơng đảm

bảo các tiêu chí tham gia theo yêu cầu tại công văn số 1282/BGD ĐT-GDTH

ngày 02/03/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo như số học sinh học 5 buổi/tuần

nhỏ hơn 50%, các trường có lớn hơn 200 học sinh… và khơng đạt tiêu chí

tham gia Chương trình”

Trong báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2012, tình trạng các trường

chưa đảm bảo các tiêu chí tham gia Chương trình đã giảm bớt rất nhiều, tuy

nhiên vẫn còn tình trạng các gói thầu ghi sai hình thức đấu thầu là hình thức

chỉ định thầu so với kế hoạch WB phê duyệt là chào hàng cạnh tranh. Tuy

trong KHĐT do UBND huyện phê duyệt là chỉ định thầu nhưng các gói thầu

vẫn tiến hành theo quy trình của hình thức chào hàng cạnh tranh.

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự chỉ đạo địa phương khắc

phục kịp thời với các sai sót của các năm trước nên các KHĐT đã được

UBND huyện phê duyệt với hình thức đấu thầu là chào hàng cạnh tranh. Tuy

nhiên, trong năm 2013 qua khảo sát, kiểm tra một số gói thầu ở địa phương

cho thấy tình trạng khoảng cách về mặt thời gian giữa KHĐT do WB phê



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Khái quát tình hình triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về đảm bảo chất lượng giáo dục trường học ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×