Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Phân tích thực trạng thực hiện nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại Chương trình SEQAP

2 Phân tích thực trạng thực hiện nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại Chương trình SEQAP

Tải bản đầy đủ - 0trang

định theo luật của Việt Nam, còn có những quy định của quốc tế (Ngân hàng

Thế giới –WB)

Tham gia Chương trình SEQAP, lần đầu tiên các cán bộ cấp huyện

trực tiếp tổ chức các hoạt động đấu thầu xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn

từ nhà tài trợ và vốn đối ứng Chính phủ phục vụ cho trường học.

2.2.3 Kết quả nghiên cứu

2.2.3.1 Quản lý về kế hoạch đấu thầu

Việc quản lý về kế hoạch đấu thầu (KHĐT) trong các gói thầu là một

sự quản lý cần thiết và bắt buộc tuân thủ Luật Đấu thầu hiện hành. Việc quản

lý về KHĐT này nhằm mục đích đề ra mục tiêu để thực hiện, KHĐT đã được

xác định cụ thể về mặt phạm vi, tiến độ, hình thức thực hiện, chi phí dự

tốn…

Theo báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2011 các gói thầu xây lắp tại

Chương trình thì: “Đối với một số trường tham gia Chương trình khơng đảm

bảo các tiêu chí tham gia theo u cầu tại cơng văn số 1282/BGD ĐT-GDTH

ngày 02/03/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo như số học sinh học 5 buổi/tuần

nhỏ hơn 50%, các trường có lớn hơn 200 học sinh… và khơng đạt tiêu chí

tham gia Chương trình”

Trong báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2012, tình trạng các trường

chưa đảm bảo các tiêu chí tham gia Chương trình đã giảm bớt rất nhiều, tuy

nhiên vẫn còn tình trạng các gói thầu ghi sai hình thức đấu thầu là hình thức

chỉ định thầu so với kế hoạch WB phê duyệt là chào hàng cạnh tranh. Tuy

trong KHĐT do UBND huyện phê duyệt là chỉ định thầu nhưng các gói thầu

vẫn tiến hành theo quy trình của hình thức chào hàng cạnh tranh.

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự chỉ đạo địa phương khắc

phục kịp thời với các sai sót của các năm trước nên các KHĐT đã được

UBND huyện phê duyệt với hình thức đấu thầu là chào hàng cạnh tranh. Tuy

nhiên, trong năm 2013 qua khảo sát, kiểm tra một số gói thầu ở địa phương

cho thấy tình trạng khoảng cách về mặt thời gian giữa KHĐT do WB phê



duyệt và KHĐT do UBND huyện phê duyệt khá xa nên dẫn đến có sự điều

chỉnh về thời gian phát hành hồ sơ, thời gian thực hiện hợp đồng, giá gói

thầu….

Năm 2014, khi Luật Đấu thầu số 43/2013/QH 13 ngày 26/11/2013 của

Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 và bổ sung thêm các hình thức đấu

thầu cho các gói thầu xây lắp. Các KHĐT của gói thầu của Chương trình tuân

thủ theo đúng Luật và tiến độ thực hiện các gói thầu đã được cải thiện đáng

kể.

Theo quy định của Luật Đấu thầu, KHĐT các gói thầu ở địa phương

phải được đăng tải lên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Tuy nhiên ở thời

điểm năm 2010 – 2014, Luật Đấu thầu của Việt Nam chưa có hình thức đấu

thầu chào hàng cạnh tranh, nên khơng thể đăng tải KHĐT lên hệ thống mạng

đấu thầu quốc gia. Vì vậy, để đảm bảo tính minh bạch của đấu thầu, KHĐT

các gói thầu xây lắp của Chương trình đều đăng tải lên trang thông tin điện tử

của Chương trình SEQAP.



Bảng 2. 3: Bất cập trong thực hiện Kế hoạch đấu thầu

STT



1

2



3



4



Nội dung



Tổng Điểm % số

số

trung phiếu

điểm bình cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

lớn hơn

3 (>3)

Kế hoạch đấu thầu chưa 121

3,025 40

được WB phê duyệt

Địa điểm xây dựng thay 120

3

37,5

đổi nhưng chưa điều chỉnh

lại kế hoạch đấu thầu

Giá trị gói thầu giữa kế 128

3,2

30

hoạch đấu thầu của WB

chấp thuận không trùng

khớp với kế hoạch do

UBND huyện phê duyệt

Số lượng xây dựng ở các 106

2,65 22,5

địa điểm vượt quá so với

tiêu chí của Chương trình

(2

phòng

học/điểm

trường)



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

nhỏ hơn

3 (<3)

30



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

bằng 3

(=3)

30



32,5



30



22,5



47,5



50



27,5



Nguồn: Tác giả



Qua bảng khảo sát 2.3, tác giả có một số đánh giá:

Kế hoạch đấu thầu chưa được WB phê duyệt, theo yêu cầu cầu WB tất

cả các kế hoạch đấu thầu của các gói thầu phải trình WB phê duyệt. Nhưng

trong năm đầu tiên, do chưa hiểu hết được các quy tắc của WB, các Ban quản

lý SEQAP huyện triển khai hoạt động đấu thầu các gói thầu của huyện khi chỉ

mới có kế hoạch đấu thầu của UBND huyện phê duyệt. Các KHĐT này có

một số tiêu chí chưa đáp ứng các tiêu chí tham gia Chương trình, vì vậy cần

có sự rà sốt lại và báo cáo giải trình vấn đề này với Bộ GD &ĐT.



Địa điểm xây dựng thay đổi nhưng chưa điều chỉnh lại kế hoạch đấu

thầu, trong quá trình thực hiện, do việc phân bổ vốn giữa các trường và điểm

trường của huyện nên đã xảy ra tình trạng thay đổi về địa điểm xây dựng so

với kế hoạch đấu thầu đã được WB phê duyệt. Tuy nhiên việc này lại chưa

được báo cáo cho Ban quản lý SEQAP trung ương và WB được biết. Ban

quản lý SEQAP trung ương chỉ biết khi có đồn tư vấn vùng đi kiểm tra cơng

tác đấu thầu và đồn kiểm tốn độc lập đến các huyện kiểm tốn quy trình

thực hiện các gói thầu.

Giá trị dự tốn gói thầu giữa kế hoạch đấu thầu của WB chấp thuận

không trùng khớp với kế hoạch đấu thầu do UBND huyện phê duyệt.Do

khoảng cách về mặt thời gian giữa kế hoạch của WB phê duyệt và kế hoạch

đấu thầu do UBND huyện phê duyệt cách xa nhau, nên giá cả nguyên vật liệu

có sự thay đổi nên làm thay đổi các giá dự tốn của gói thầu dẫn đến giá dự

tốn khơng trùng với giá ban đầu được WB phê duyệt. Ở một số huyện,

nguyên nhân còn do việc dự tốn chi tiết còn thiếu chính xác nên dẫn đến phải

điều chỉnh so với kế hoạch ban đầu.

2.2.3.2 Quản lý về lựa chọn hình thức đấu thầu, hồ sơ và kênh truyền thông

mời thầu đến nhà thầu

Đối với Chương trình SEQAP, tại cấp huyện, theo hiệp định tài trợ của

WB công tác đấu thầu xây dựng cho các gói thầu được áp dụng hình thức

chào hàng cạnh tranh. Hình thức đấu thầu các gói thầu này phải tuân thủ đúng

theo kế hoạch đấu thầu đã được WB và UBND huyện phê duyệt. Tuy nhiên ở

thời điểm năm 2010 – 2014, theo Luật Đấu thầu của Việt Nam chưa có hình

thức đấu thầu chào hàng cạnh tranh cho các gói thầu xây dựng. Vì vậy, có sự

khơng tương thích giữa quy định của Việt Nam và WB, gây khó khăn cho các

cấp quản lý về việc quản lý và thực hiện các gói thầu. Mặt khác, các cấp này

chịu sự quản lý của các cấp Nhà nước và nhà tài trợ, nên trong q trình triển

khai còn nhiều khó khăn, vướng mắc.

Hồ sơ mời thầu được áp dụng theo mẫu chuẩn theo các hình thức đấu

thầu. Hồ sơ mời thầu này đặt ra các yêu cầu về năng lực nhà thầu một cách rõ



ràng và chỉ có các tiêu chí được nêu rõ trong hồ sơ mời thầu mới được sử dụng

làm căn cứ đánh giá nhà thầu. Bên mời thầu có trách nhiệm cung cấp thơng tin

để quảng cáo mời thầu đến các nhà thầu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

và Báo Đấu thầu.

Theo báo cáo kiểm toán đấu thầu năm 2011 của Chương trình SEQAP,

hồ sơ mời thầu gói thầu xây lắp chưa đúng theo mẫu quy định thực hiện mặc

dù đã được Ban quản lý SEQAP TW ban hành theo công văn số 289/BGDĐTSEQAP ngày 17/12/2010. Bên cạnh đó, từ lúc thời gian phát hành hồ sơ đến

thời điểm nhận hồ sơ dự thầu theo quy định trong hồ sơ mời thầu vẫn chưa đủ

và đúng quy định ban hành.

Báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2012, 2013 thì hồ sơ mời thầu các

gói thầu xây lắp về cơ bản đã làm theo mẫu quy định hướng dẫn của Ban

quản lý Chương trình SEQAP. Tuy nhiên, trong hồ sơ mời thầu vẫn mắc các

lỗi như yêu cầu rõ nhãn hiệu/thương hiệu của hàng hóa, sản phẩm. Theo quy

định của Luật Đấu thầu hiện hành, hồ sơ mời thầu không được ghi rõ nhãn

hiệu của hàng hóa mà chỉ ghi các thơng số kỹ thuật của sản phẩm để nhằm

nâng cao khả năng cạnh tranh cho các nhà cung cấp nhằm mục đích có được

sản phẩm chất lượng tương đương và cao hơn trong khi đó giá cả cạnh tranh

và thấp hơn.

Báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2013 của Chương trình có nêu lên

vấn đề: “Chưa có cơ sở dữ liệu thơng tin về các nhà thầu thuộc tỉnh/huyện và

chưa lập danh sách các nhà thầu đã được mời”. Điều này có thể gây khó khăn

cho chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu phù hợp để gửi thư và khó khăn

trong việc kiểm soát số lượng nhà thầu được mời so với số lượng nhà thầu

nộp hồ sơ dự thầu. Bên cạnh đó, báo cáo kiểm tốn cũng chỉ ra, kế hoạch đấu

thầu và kết quả đấu thầu của các đơn vị đăng tải lên trang web của Chương

trình thay vì đăng tải lên trang web của Bộ KH&ĐT.

Báo cáo kiểm toán 2013 cũng chỉ ra một số đơn vị gia hạn thời hạn

nộp hồ sơ dự thầu nhưng chưa thông báo tới nhà thầu bằng văn bản. Thực tế

này làm ảnh hưởng tới các nhà thầu không đủ thời gian để chuẩn bị hồ sơ dự

thầu theo khung thời gian quy định ban đầu trên hồ sơ mời thầu và chưa thông



báo về việc gia hạn. Việc này làm ảnh hưởng đến nguyên tắc công khai và

minh bạch của đấu thầu, vi phạm vào Điều 33, Luật Đấu thầu số

61/2005/QH11.

Báo cáo năm 2014, các tình trạng sai phạm của các năm trước đã khơng còn

nữa và đã được khắc phục một cách triệt để.

Bảng 2. 4: Bất cập trong việc thực hiện hình thức đấu thầu, hồ sơ và kênh

truyền tin đến nhà thầu

ST

T



Nội dung



Tổng

số

điểm



Điểm

trung

bình



1



Chưa có danh sách các

nhà thầu trên địa bàn

huyện

Thời gian phát hành và

nhận hồ sơ chưa tuân thủ

về thời gian

Hồ sơ mời thầu yêu cầu

rõ về nhãn hiệu của sản

phẩm

Sự khác biệt giữa hình

thức đấu thầu ghi trong

quyết định phê duyệtcủa

huyện và Kế hoạch đấu

thầu do WB phê duyệt

Đăng tải thơng tin gói

thầu lên hệ thống mạng

đấu thầu quốc gia và Báo

Đấu thầu



125



2



3



4



5



3,125



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

lớn hơn

3 (>3)

37,5



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

nhỏ hơn

3 (<3)

25



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

bằng 3

(=3)

37,5



71



1,775



0



80



20



124



3,1



37,5



22,5



40



123



3,075



35



35



30



139



3,475



52,5



17,5



30



Nguồn: Tác giả

Qua bảng khảo sát 2.4, tác giả đưa ra một số đánh giá:



Các huyện trong q trình thực hiện đấu thầu chưa có bảng danh sách

thống kê năng lực của các nhà thầu trên địa bàn để từ đó đánh giá năng lực

thực hiện gói thầu và gửi thư mời thầu đến tối thiểu 3 nhà thầu tiềm năng.

Qua khảo sát và hồ sơ thực tế cho thấy đây là một vấn đề xảy ra khá phổ biến

ở các huyện tham gia Chương trình SEQAP.

Sự thiếu hiểu biết về quy trình đấu thầu của Việt Nam nói chung và các

hướng dẫn về đấu thầu của WB nói riêng của các cán bộ thực hiện về đấu

thầu. Một phần do trình độ năng lực của các cán bộ này và một phần do sự

khác biệt giữa hai hệ thống.

Trong quá trình thực hiện càng bộc lộ rõ những điểm khác biệt giữa 2

hệ thống Luật pháp về đấu thầu. Để đảm bảo được những nguyên tắc công

bằng, minh bạch, đảm bảo cạnh tranh và hiệu quả của đấu thầu thì Ban quản

lý SEQAP TW và WB cần đưa ra những phương án giải quyết cho phù hợp

với quy định của Luật Đấu thầu hiện hành và thực tế thực hiện.

2.2.3.3 Quản lý về chấp hành các định chế mở thầu và xét thầu

Quá trình mở thầu và xét thầu phải thực hiện theo trình tự chặt chẽ và

logic. Những nhà thầu được công khai trong quá trình mở thầu mới được đưa

vào để xét thầu và đánh giá năng lực.Xét thầu là một quá trình quan trọng

nhất của Đấu thầu nhằm chọn ra nhà thầu đáp ứng các tiêu chí về mặt kỹ thuật

trong hồ sơ mời thầu và có giá dự thầu cạnh tranh. Đây là một cơng việc khó

khăn, muốn thực hiện tốt cơng tác đấu thầu theo quy định thì cần phải có đội

ngũ chun gia có chun mơn sâu và hiểu rõ về gói thầu. Nhưng trước hết

cần phải có cơng tác quản lý các hoạt động xét thầu nhằm đánh giá thầu một

cách minh bạch, chính xác và khách quan nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.

Theo báo cáo kiểm toán đấu thầu năm 2011, theo Luật Đấu thầu số

61/2005/QH11 ngày 299/11/2005 quy định tại Khoản 2, Điều 9 thì các thành

viên trong tổ chuyên gia xét thầu phải có chứng chỉ tham gia các khóa học về

đấu thầu. Tuy nhiêm, trong quá trình kiểm tra, chưa thấy trong hồ sơ có đính

kèm chứng chỉ tham gia của các thành viên trong tổ chấm thầu. Báo cáo kiểm

toán đấu thầu năm 2012 thì vấn đề này vẫn còn diễn ra và chưa được khắc



phục triệt để. Vấn đề này ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu của gói thầu do sự

hạn chế về trình độ, năng lực của thành viên tổ chấm thầu. Trong báo cáo

kiểm toán đấu thầu năm 2012 của Chương trình SEQAP, có một số điểm của

hồ sơ dự thầu chưa đáp ứng được các tiêu chí của hồ sơ mời thầu nhưng vẫn

được đánh giá là đạt như: chưa có bằng chứng chứng minh đủ vốn lưu động

thực hiện chương trình, cán bộ chủ chốt, kinh nghiệm thi cơng…Bên cạnh đó,

biên bản mở thầu, báo cáo đánh giá, biên bản xét thầu … còn chưa làm theo

mẫu quy định.

Theo báo cáo kiểm toán đấu thầu năm 2013, xảy ra các vấn đề về việc

tuân thủ các yêu cầu trong quá trình mở thầu và xét thầu. Một số đơn vị trong

quá trình mở thầu, hồ sơ dự thầu gốc của các nhà thầu phải có hai chữ ký của

người không quản lý và bảo mật hồ sơ thì trong q trình thực hiện mới chỉ có

một chữ ký. Từ lúc mở thầu đến xét thầu, hồ sơ phải được bảo mật cho đến

lúc tổ chuyên gia xét thầu tiếp nhận xét thầu. Công tác này thực hiện còn chưa

đúng quy trình bảo mật hồ sơ. Cụ thể ở gói thầu: “Xây dựng nhà vệ sinh

trường tiểu học Ngọc Chánh và Hố Gùi, huyện Đầm Dơi của tỉnh Cà Mau” hồ

sơ dự thầu của nhà thầu phải có hai chữ ký của những người khơng lưu hồ sơ

chào giá, tuy nhiên trong hồ sơ dự thầu mới có một chữ ký nháy của người

khơng lưu trữ hồ sơ dự thầu.

Báo cáo kiểm toán đấu thầu năm 2014 của Chương trình SEQAP, xảy

ra các vấn đề về báo cáo đánh giá của các nhà thầu chưa đính kèm tài liệu

chứng minh về kinh nghiệm thi công, hợp đồng tương tự, khả năng tài chính

… của nhà thầu trúng thầu vào bảng báo cáo. Cũng chưa có minh chứng về

việc thơng báo trúng thầu về gói thầu tới các nhà thầu không trúng thầu. Vấn

đề này cho thấy năng lực trong công tác đấu thầu của tổ chuyên gia xét thầu

và trình độ hiểu biết về pháp luật của nhà thầu còn nhiều hạn chế.



Bảng 2. 5: Bất cập trong quá trình thực hiện mở và xét thầu

ST

T



Nội dung



Tổn Điểm

g số trung

điểm bình



1



Thời gian đóng thầu và mở

hồ sơ dự thầu không trùng

khớp

Bản gốc của hồ sơ dự thầu

chưa đủ 2 chữ ký của

người không lưu trữ hồ sơ

Hồ sơ dự thầu chào thầu

thiếu một số hạng mục

nhưng chưa có tài liệu bổ

sung

Hồ sơ dự thầu bị loại ở

bước đánh giá tư cách hợp

lệ

Hồ sơ dự thầu có dấu hiệu

thông thầu giữa các nhà

thầu



87



2



3



4



5



2,175



% số

phiếu cho

điểm chỉ

tiêu đánh

giá lớn

hơn 3

(>3)

12,5



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

nhỏ hơn

3 (<3)

70



% số

phiếu

cho điểm

chỉ tiêu

đánh giá

bằng 3

(=3)

17,5



139



3,475



52,5



20



27,5



124



3,1



37,5



32,5



30



125



3,125



35



22,5



42,5



72



1,8



2,5



85



12,5



Nguồn: Tác giả

Từ bảng khảo sát 2.5, tác giả rút ra một số đánh giá:

Việc thực hiện quy trình mở, xét thầu còn chưa tuân thủ triệt để các quy

định của WB và luật Đấu thầu của Chính phủ Việt Nam: Bản gốc của hồ sơ

dự thầu chưa đủ 2 chữ ký của người không lưu giữ hồ sơ (3,475); hồ sơ dự

thầu chào thầu thiếu một số hạng mục nhưng chưa có tài liệu bổ sung (3,1);

Hồ sơ bị loại ở bước đánh giá tư cách hợp lệ (3,125). Cụ thể ở gói thầu xây

dựng 01 phòng học đa năng ở trường tiểu học Ngũ Lạc A, huyện Duyên Hải,

tỉnh Trà Vinh; Gói thầu tại trường Tân Hùng B và Tập Ngãi B của huyện Tiểu

Cần, tỉnh Trà Vinh.



Hệ thống quy tắc của đấu thầu của WB là một quy trình có kết cấu ràng

buộc hữu cơ với nhau, không thể áp dụng phương pháp của Luật Đấu thầu

Việt Nam vào việc xét thầu theo hướng dẫn của WB. Việc gửi thư mời chào

giá đến tối thiểu 3 nhà thầu, tức là 3 nhà thầu này đã đạt các tiêu chuẩn tối

thiểu để đưa vào đánh giá kỹ thuật. Như vậy, không thể loại nhà thầu ngay ở

bước đánh giá tư cách hợp lệ của nhà thầu. Tuy nhiên, vẫn xảy ra trường hợp

nhà thầu bị loại ở bước đánh giá tư cách hợp lệ.

Theo quy định của Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày

29/11/200543/2013/QH13 ngày 26/11/2013 thì các thành viên trong tổ chuyên

gia xét thầu phải có chứng chỉ tham gia các khóa học về đấu thầu, có tối thiều

3 năm kinh nghiệm về lĩnh vực liên quan đến gói thầu. Tuy nhiên, ở một số

địa phương, một số thành viên trong tổ xét thầu chưa cung cấp được chứng

chỉ tham gia hoặc chưa đủ năm kinh nghiệm liên quan đến gói thầu. Các cán

bộ quản lý thuộc đối tượng thụ hưởng Chương trình có lý giải về vấn đề này

là do các cán bộ chấm thầu thường là các cán bộ phòng tài chính, kiêm nhiệm

cơng tác đấu thầu. Mặt khác, các địa phương thụ hưởng Chương trình SEQAP

đều là các huyện ở những vùng khó khăn, miền núi vì vậy thiếu nhân lực,

khơng có các cán bộ chuyên môn về đấu thầu, việc thực hiện thường là các

cán bộ tài chính kiêm nhiệm cơng tác đấu thầu và điều động những cán bộ

chưa đủ năm kinh nghiệm liên quan đến gói thầu.

2.2.3.4 Quản lý về báo cáo xét thầu và thẩm định báo cáo xét thầu

Hiện nay, theo Luật đấu thầu và hướng dẫn của WB các báo cáo xét

thầu được làm theo mẫu ban hành nhằm minh bạch, chuẩn hóa và hệ thống

hóa các thơng tin được đưa vào trong báo cáo. Sau khi có báo cáo, một tổ

chun gia được thành lập (khơng có sự tham dự của những chuyên gia đánh

giá xét thầu) để thẩm định lại báo cáo xét thầu nhằm đánh giá tính tuân thủ

của báo cáo xét thầu.

Theo báo cáo kiểm toán đấu thầu năm 2012 và 2013 của Chương trình

SEQAP có một số nhận xét của báo cáo như: sự thiếu cẩn trọng trong việc

đánh giá hồ sơ thầu của các nhà thầu, báo cáo đánh giá giá hồ sơ chưa đủ



thông tin hoặc thiếu các chữ ký của thành viên tổ chấm thầu… Đây là những

vi phạm vào quy trình đấu thầu

Báo cáo kiểm tốn đấu thầu năm 2014 của Chương trình SEQAP có

nêu về vấn đề hồ sơ dự thầu của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh kinh

nghiệm thi cơng các cơng trình có tính chất tương tự trong 3 năm gần đây.

Nhưng trong báo cáo đánh giá được đánh giá “đạt” nhưng chưa bổ sung tài

liệu này.

Qua báo cáo tiến độ các gói thầu xây dựng đã trao thầu hàng năm của

các huyện, tác giả nhận thấy một số gói thầu có giá trị trao thầu cao hơn giá

dự tốn gói thầu trên kế hoạch đấu thầu đã được phê duyệt. Theo quy định tại

Khoản 5, Điều 38 của Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 và Điểm e, Khoản 1,

Điều 43 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đây là hình thức vi phạm luật

pháp về hoạt động Đấu thầu và vi phạm nguyên tắc tính hiệu quả trong đấu

thầu. Vì vậy, Ban quản lý SEQAP trung ương cần báo cáo Bộ Giáo dục và

Đào tạo về vấn đề này để cử đoàn thanh tra đi kiểm tra, u cầu giải trình và

xem xét lại tồn bộ quy trình thực hiện đấu thầu nhằm đánh giá tính tuân thủ

và đưa ra các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu tại các gói thầu

này. Ở một số địa phương khác, giá trúng thầu cao hơn giá dự toán phê duyệt

theo kế hoạch đấu thầu của WB và Ban quản lý SEQAP TW, UBND huyện đã

phê duyệt chủ trương điều chỉnh biến động giá, đã phê duyệt lại dự tốn, tuy

nhiên chưa có cơng văn giải trình và báo cáo về sự thay đổi này với Ban quản

lý SEQAP TW và WB.

Trong quá trình kiểm tra, giám sát các tư vấn đấu thầu vùng cho biết ở

một số gói thầu, báo cáo xét thầu còn chưa tuân thủ chặt chẽ quy trình đấu

thầu nhưng trong báo cáo thẩm định gói thầu vẫn đánh giá tuân thủ như về

đảm bảo mặt thời gian từ lúc phát hành hồ sơ mời thầu đến lúc nhận hồ sơ dự

thầu của nhà thầu, thời gian mở thầu, thời gian xét thầu… Theo đánh giá của

các tư vấn đấu thầu vùng đó là do năng lực, trình độ của các cán bộ thực hiện

các gói thầu còn hạn chế, cán bộ thẩm định các gói thầu này cũng chưa hiểu

hết các quy định luật pháp về đấu thầu nên thực hiện còn tắc trách, hình thức.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Phân tích thực trạng thực hiện nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại Chương trình SEQAP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×