Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá chung và nguyên nhân hạn chế, tồn tại

3 Đánh giá chung và nguyên nhân hạn chế, tồn tại

Tải bản đầy đủ - 0trang

đồng tương đương với 1066 gói thầu, tiết kiệm gần 52,5 tỷ đồng (Xem chi tiết

tại Phụ lục 2) và thiết bị văn phòng, nội thất trường học cho các trường tiểu

học ở những vùng khó khăn. Tạo điều kiện cho học sinh dân tộc thiểu số, học

sinh vùng khó khăn có cơ hội tiếp cận với điều kiện vật chất hiện đại, chất

lượng giáo dục tốt hơn để đạt kết quả học tập tốt hơn, giảm khoảng cách giữa

các nhóm học sinh có lợi thế và các nhóm bị thiệt thòi.

Chương trình ban đầu tiến độ thực hiện còn chậm, nhưng khi đã quen

với các tài liệu hướng dẫn thực hiện của WB và các quy định của Chương

trình thì tiến độ thực hiện đã được cải thiện lên rất nhiều, tốc độ giải ngân

theo đúng kế hoạch và các gói thầu được thực hiện theo đúng hạng mục được

phê duyệt.

Thơng qua đấu thầu, Ban quản lý Chương trình SEQAP đã giám sát

trình tự thực hiện đấu thầu theo luật định cũng như trong quá trình thực hiện

hợp đồng và sử dụng tài sản của Nhà nước đúng mục đích ban đầu. Bất cứ sự

thay đổi về chuyển đổi mục đích sử dụng đều phải được sự đồng ý, chấp

thuận của các cấp quản lý và điều hành.

Từng bước nâng cao nhận thức và năng lực của các cấp về hoạt động

đấu thầu và thực hiện đúng quy định, thủ tục theo Luật định và giảm thiểu các

rủi ro có thể xảy ra.

Hàng năm Ban quản lý Chương trình SEQAP đều có các đợt tập huấn

mua sắm đấu thầu cho các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu ở các tỉnh thuộc

Chương trình SEQAP nhằm phát huy hiệu quả của công tác đấu thầu, đúc rút

những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, giải quyết những khúc mắc, khó khăn

trong q trình thực hiện đấu thầu. Và tập trung vào mục tiêu hỗ trợ và đào

tạo một đội ngũ về mua sắm đấu thầu cho ngành giáo dục tại các tỉnh.

Từng bước nâng caonhận thức cũng như của trách nhiệm của các đối

tượng được thụ hưởng Chương trình SEQAP như cán bộ quản lý, giáo viên,

hội phụ huynh, cộng đồng về chương trình, kế hoạch triển khai và các lợi ích

được thụ hưởng từ Chương trình. Từ đó, có sự tham gia giám sát của cộng



đồng người dân thụ hưởng và chịu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp từ Chương

trình về chất lượng các sản phẩm hàng hố, dịch vụ công được cung ứng.

Nâng cao khả năng tiếp cận với các hình thức đấu thầu, cách thức về

đấu thầu cho các doanh ngiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh

tế trên thế giới. Các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện về năng lực và khả năng

cạnh tranh để giành được các hợp đồng so với đối thủ cạnh tranh ngay trên thị

trường trong nước trước khi tham gia vào các gói thầu đấu thầu quốc tế.

2.3.2 Những điểm hạn chế

Tại thời điểm năm 2010, 2011, 2012 theo kế hoạch đấu thầu các gói

thầu xây dựng đều ghi hình thức chào hàng cạnh tranh theo hướng dẫn của

Ngân hàng Thế giới, trong khi theo Luật Đấu thầu của Việt Nam tại thời điểm

này khơng có hình thức này. Sự khác biệt này, gây khó khăn, hiểu lầm và làm

chậm tiến độ giải ngân của Chương trình.

Trong giai đoạn đầu thực hiện Chương trình SEQAP các gói thầu xây

dựng, theo cơ chế quản lý thì kế hoạch đấu thầu được Ngân hàng Thế giới phê

duyệt toàn bộ kế hoạch của các huyện gửi lên, bất kỳ sự sửa đổi, chỉnh lý đều

được Ngân hàng xem xét và cấp thư không phản đối . Tuy nhiên do sai sót của

một số gói thầu nên tồn bộ các gói thầu gửi sang đã bị gửi lại để chỉnh sửa

nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chung của các tỉnh khác. Năm 2012, WB

đã chuyển cho Ban quản lý SEQAP trung ương việc xét duyệt kế hoạch đấu

thầu của các huyện, và việc phê duyệt theo các gói thầu. Vì vậy, ban quản lý

SEQAP Trung ương chủ động trong công tác phê duyệt kế hoạch đấu thầu,

việc phê duyệt theo từng gói thầu gửi lên, khơng bắt buộc là phải theo từng

tỉnh, từng huyện tổng hợp xong mới gửi lên, chính vì vậy đã đẩy nhanh tiến

độ thực hiện ở các địa phương.

Các hạng mục, tên gọi của các gói thầu giữa kế hoạch đấu thầu và hợp

đồng có sự khác biệt tương đối gây khó khăn và những hiểu lầm cho việc

kiểm tra và đánh giá thực tế của các gói thầu.



Các gói thầu xây dựng ở các địa phương thuộc Chương trình vừa phải

chịu sự quản lý của cả Bên cho vay và Luật Đấu thầu hiện hành tại thời điểm

thực hiện. Vì vậy có sự khác biệt nhất định khi thực hiện gây cản trở quá trình

thực hiện như đối với Luật Đấu thầu của Việt Nam, giá trúng thầu khơng được

vượt q giá dự tốn của gói thầu đã được phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng

với hướng dẫn của WB thì giá trúng thầu được phép vượt q 5-7% giá gói

thầu được dự tốn. Vì vậy, khi thực hiện có một số gói thầu vượt q giá dự

tốn thì cơ quan có thẩm quyền khơng phê duyệt kết quả trúng thầu, phải giải

trình và tốn nhiều thời gian gây chậm tiến độ thực hiện gói thầu. Ở một số

đơn vị khác, giá trúng thầu vượt quá giá dự toán tuy nhiên việc này lại khơng

giải trình cho Ban quản lý Chương trình SEQAP trung ương.

Cơ chế quản lý tài chính của Chương trình SEQAP có sự khác biệt so

với cơ chế quản lý về mặt tài chính với cơ chế quản lý tài chính trong nước

nên dẫn đến các thủ tục về đấu thầu khi giải ngân có một số trở ngại, khó

khăn nên dẫn đến việc giải ngân nguồn vốn của chương trình có thể khơng đạt

được theo kế hoạch đề ra ở năm 2010, 2011.

Các mẫu hồ sơ mời thầu, báo cáo đánh giá xét thầu, hợp đồng đều phải

áp dụng mẫu của Ngân hàng Thế giới và điều này đã được ghi trong biên bản

ghi nhớ giữa các bên. Tuy nhiên, một số địa phương đều chưa áp dụng và một

số địa phương khác áp dụng chỉ một phần.

Áp dụng các phương pháp đánh giá thầu theo Luật Đấu thầu của Việt

Nam vào việc đánh giá các gói thầu thực hiện theo hướng dẫn của WB như

báo cáo đánh giá xét thầu của các gói thầu xây dựng đã loại nhà thầu ngay ở

bước đánh giá tư cách hợp lệ khi áp dụng phương thức chào hàng cạnh tranh.

Việc quản lý lưu trữ hồ sơ đấu thầu và thông tin dữ liệu về đấu thầu còn

chưa khoa học gây khó khăn cho việc kiểm tra, kiểm toán và thanh tra. Các tài

liệu, hồ sơ liên quan đến gói thầu chưa được lưu trữ thành tập riêng biệt, và

cần có danh mục hồ sơ để theo dõi…

Việc tuân thủ các bước của quá trình đấu thầu theo Luật Đấu thầu trong

quá trình thực hiện mới chỉ tuân thủ một phần và chưa triệt để như: bản gốc



của hồ sơ dự thầu phải có chữ ký nháy của 2 người khơng lưu trữ bảo mật hồ

sơ trước khi chấm thầu trong khi thực tế mới có 1 người ký, sự hợp lý và

logic về mặt thời gian giữa các tài liệu…..

Công tác kiểm tra, giám sát và thanh tra hoạt động đấu thầu còn chưa

được coi trọng đúng mức. Các cuộc kiểm tra, hậu kiểm về đấu thầu và thanh

tra các gói thầu ở địa phương chưa dược tổ chức riêng biệt mà được lồng ghép

vào các hoạt động kiểm tra khác như: xây dựng cơ bản, dạy học cả ngày,

chính sách… Vì vậy, làm giảm thời gian thanh, kiểm tra và hiệu quả của hoạt

động này.

2.3.3 Nguyên nhân củanhững hạn chế

(i) Nguyên nhân khách quan

Việc thực hiện so với các quy định có một khoảng cách khơng nhỏ, một

phần là do sự khác biệt giữa các hướng dẫn của WB và Luật Việt Nam, dẫn

đến phải điều chỉnh cách thức quản lý Nhà nước cho phù hợp với các điều

kiện thực tế. Trước khi Luật Đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thì các gói thầu

xây dựng khơng có hình thức chào hàng cạnh tranh. Trong khi đó theo luật

định của các nhà tài trợ thì các gói thầu xây dựng dưới 2 tỷ đồng phải áp dụng

hình thức này. Vì vậy, thay vì ghi hình thức chào hàng cạnh tranh thì các tỉnh

đều ghi hình thức chỉ định thầu và thuận tiện trong quá trình giải ngân với

Kho Bạc huyện và báo cáo với các Sở. Tuy nhiên đây là một hình thức bị hạn

chế trong quá trình đấu thầu, chỉ áp dụng với các trường hợp đặc biệt và với

các gói thầu dưới 100 triệu đồng.

Trình độ năng lực của các cán bộ thực hiện cơng tác đấu thầu còn

nhiều hạn chế. Chương trình SEQAP được thực hiện ở những vùng sâu, vùng

xa, vùng còn nhiều khó khăn vì vậy còn rất thiếu nguồn nhân lực có trình độ,

chun mơn, năng lực về đấu thầu. Những cán bộ thực hiện công tác đấu thầu

thường là các cán bộ kiêm nhiệm các cơng tác khác như cán bộ tài chính, cán

bộ phòng kế hoạch.



Sự phối hợp giữa các Bộ Ban ngành trong việc thực hiện còn chậm và

làm cản trở quá trình thực hiện.Khi thực hiện các gói thầu, các mẫu về hồ sơ

chào giá, mẫu báo cáo, biên bản, mẫu hợp đồng đều phải thực hiện theo mẫu

của Nhà tài trợ. Tuy nhiên, khi đưa các hợp đồng và các điều kiện của hợp

đồng ra Kho Bạc Nhà nước thì lại không được chấp nhận giải ngân.

Do cơ chế luân chuyển cán bộ theo quy định của Việt Nam. Hàng năm

Ban quản lý Chương trình SEQAP ln có các đợt tập huấn nhằm nâng cao

nghiệp vụ đấu thầu cho các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu. Tuy nhiên,

vẫn xảy ra các sai sót trong quy trình thực hiện đó là do cứ 3 năm thì các cán

bộ sẽ thuyên chuyển công tác nên xảy ra hiện tượng người đi tập huấn nhưng

người khác lại thực hiện. Mặt khác, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đấu

thầu tại các Phòng giáo dục thường là người kiêm nhiệm mà khơng phải là

người có cơng tác chun mơn riêng về đấu thầu. Điều này gây khó khăn cho

người thực hiện, cần có thời gian nghiên cứu để áp dụng Luật vào trong thực

tế, bên cạnh đó có rất nhiều các văn bản dưới Luật để tham chiếu nên gây nên

khó khăn và nhầm lẫn trong quá trình thực hiện.

Do các huyện tham gia Chương trình đều là những huyện còn khó

khăn, quá xa trung tâm và địa bàn phân tán rộng trong khi đó lại có sự hạn

chế về nhân lực và kinh phí cho các chuyến thanh, kiểm tra và giám sát việc

thực hiện các gói thầu của các địa phương.

(iii)



Nguyên nhân chủ quan



Do đội ngũ nhân lực về đấu thầu còn thiếu và năng lực đội ngũ cán bộ

thực hiện cơng tác đấu thầu còn hạn chế. Do hình thức đấu thầu mới nên trong

quá trình thực hiện vừa học vừa làm nên còn nhiều sai sót khơng đáng có.

Theo Luật Đấu thầu của Việt Nam, các nhà thầu có thể loại ở bước đầu tiên về

tư cách hợp lệ của nhà thầu. Nhưng theo hướng dẫn của WB, do các nhà thầu

này được Bên mời thầu gửi thư mời nên không thể loại ở bước đầu tiên về tư

cách hợp lệ. Bởi trước khi gửi thư mời thầubên mời thầu đã có sự đánh giá về

năng lực của nhà thầu nên bên mời thầu không thể loại nhà thầu ngay ở bước

đánh giá về tư cách hợp lệ của nhà thầu. Do sự khác biệt này nên trong giai



đoạn thực hiện ban đầu đã một số Ban quản lý SEQAP huyện do chưa hiểu

hết các hướng dẫn của WB đã loại các nhà thầu ở bước đầu.

Các cán bộ quản lý về hoạt động đấu thầu chưa thực sự hiểu biết về các

quy định, quy tắc và các hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới. Trong quá trình

thực hiện quản lý, do sự e ngại trong việc phê duyệt kết quả đấu thầu và có

tâm lý trơng chờ, ỷ lại vào các cán bộ thẩm định lại quy trình đấu thầu mà

khơng xem xét, kiểm tra kỹ lại hồ sơ, thủ tục trước khi phê duyệt.

Các cán bộ thực hiện công tác đấu thầu và cán bộ quản lý đấu thầu còn

bị động trong việc xử lý các tình huống xảy ra trong quá trình thực hiện. Có

vấn đề nào xảy ra trong hoạt động đấu thầu không tự giải quyết được và ngại

trách nhiệm nên chọn giải pháp xin ý kiến cấp trên chờ phê duyệt. Như vấn

đề, hợp đồng trao thầu không được Kho bạc huyện chấp thuận do sử dụng

mẫu của Ngân hàng Thế giới và trong quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu

ghi hình thức chào hàng cạnh tranh. Việc xử lý này, các cán bộ quản lý hồn

tồn có thể xử lý được bằng cách đưa ra biên bản ghi nhớ giữa Sở, Bộ

GD&ĐT và Bộ Tài Chính. Tuy nhiên, cán bộ quản lý vẫn gửi công văn về xin

ý kiến chỉ đạo xử lý tình huống này, vì vậy làm chậm tiến độ thực hiện và mặt

khác cho thấy cán bộ quản lý còn chưa nắm vững các quy định, hướng dẫn về

đấu thầu. Cũng với vấn đề trên, để xử lý nhanh vấn đề thì cán bộ thực hiện đã

sử dụng hai loại hợp đồng, với nhà thầu. Với công tác xử lý với Kho bạc, các

cán bộ thực hiện mang hợp đồng có mẫu của Chính phủ Việt Nam, khi cán bộ

thanh tra, kiểm tốn đến thì sử dụng mẫu hợp đồng của Ngân hàng Thế giới,

hành vi này đã kịp thời được phát hiện, xử lý và đưa vào công văn thông báo

cho các đơn vị khác biết và tránh mắc lại lỗi này.



CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TẠI CHƯƠNG

TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC

3.1 Phương hướng phát triển và quan điểm, mục tiêu hoàn thiện quản lý

Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại Chương trình đảm bảo chất

lượng giáo dục trường học

3.1.1 Phương hướng phát triển và nhiệm vụ Chương trình trong thời gian

tới 2017

Các hoạt động của Chương trình SEQAP đã được hình thành và đi vào

nề nếp, tuy nhiên để hoàn thành được những mục tiêu cuối cùng thì cần phải

có những định hướng phát triển, kế hoạch thực hiện, cách thức tiến hành…

cho những giai đoạn sắp tới:

(i)



Về lộ trình chuyển đổi sang dạy học cả ngày

Cần nâng cao chất lượng việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện dạy



học cả ngày, việc lập kế hoạch dạy học cả ngày nói chung và tích hợp kế

hoạch dạy học cả ngày vào kế hoạch của năm học mới theo phương án FDS

đã lựa chọn trên cơ sở sử dụng hợp lý, hiệu quả thời gian tăng thêm của

trường tiểu học tham gia Chương trình SEQAP.

Vận dụng tài liệu hướng dẫn sư phạm cho mơ hình T30 và T35 đã được

điều chỉnh và hoàn thiện vào trong các tiết dạy. Hướng dẫn và tạo điều kiện

cho giáo viên tích cực, chủ động thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trên

cơ sở vận dụng các kỹ thuật, phương pháp dạy học tích cực kết hợp sử dụng

các phương tiện dạy học truyền thống và hiện đại vào các bài giảng. Hoàn

thành mục tiêu đến tháng 6/2017, 85% các em học sinh được học ít nhất 30

tiết/tuần.

Tăng cường và nâng cao chất lượng các hoạt động dự giờ, đổi mới sinh

hoạt chuyên môn theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, sinh hoạt chuyên đề,



trao đổi, giao lưu, rút kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất

lượng bài giảng.

Thực hiện các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ngoài giờ lên lớp, đẩy

mạnh việc tổ chức triển khai các mơ hình thư viện thân thiện, thư viện đa

chức năng vào giờ ra chơi, tổ chức ngày hội đọc sách… đẩy mạnh triển khai

các loại hình câu lạc bộ học sinh với mục tiêu giúp học sinh tự tin làm quen

với cách học mới.

Xây dựng tiếp các tài liệu nhằm hỗ trợ cho các học sinh ở vùng khó

khăn với mục tiêu chú trọng hướng tới đáp ứng các nhu cầu năng lực cho học

sinh dân tộc thiểu số. Đặc biệt chú trọng hệ thống tài liệu mơn Tốn và Tiếng

Việt cho học sinh dân tộc, cần chú trọng tới khả năng nhận thức của học sinh

để từ đó thiết kế các tài liệu phù hợp với khả năng của các em. Đến 6/2017,

82% học sinh lớp 5 của trường tiểu học thuộc chương trình SEQAP đạt loại

khá, giỏi mơn Tốn và Tiếng Việt. Đến năm 2020 trên toàn quốc, nâng tỷ lệ

này lên 92%.

Phối hợp với các Vụ, Cục chức năng, trường đại học, Hiệu trưởng các

trường tiểu học tham gia tổ chức khảo sát đánh giá kết quả học tập của các

học sinh của các trường tiểu học tham gia Chương trình SEQAP nhằm đánh

giá kết quả thực hiện hoạt động dạy học cả ngày.

Tăng cường quản lý, giám sát, đánh giá việc quản lý và sử dụng các

quỹ giáo dục nhà trường và Quỹ phúc lợi học sinh theo đúng mục đích sử

dụng với nguồn kinh phí được phân bổ. Đồng thời thực hiện một cách công

khai, minh bạch các khoản chi tiêu và có sự tham gia giám sát của hội phụ

huynh và chính quyền địa phương. Tích cực vận động sự tham gia của cộng

đồng, cha mẹ học sinh không thuộc diện được hỗ trợ đóng góp tham gia hỗ

trợ các bữa ăn trưa ở trường cho các học sinh còn khó khăn, học sinh dân tộc

và đảm bảo những học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số là những người

được nhận hỗ trợ nhiều nhất từ Chương trình SEQAP.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá chung và nguyên nhân hạn chế, tồn tại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×