Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



của mình. Do đó, rất dễ có sự nhầm lẫn giữa loại hình NHTM và các trung gian tài

chính khác. Peter Rose đã định nghĩa về NHTM như sau: “Ngân hàng là loại hình

tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc

biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh tốn – và thực hiện nhiều chức năng tài

chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.

Như vậy, có thể phân biệt NHTM với các trung gian tài chính khác ở chỗ

NHTM là tổ chức kinh tế duy nhất được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán và

làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế.

NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với rất nhiều hoạt động đa dạng

trong đó có ba hoạt động chính đó là: nhận tiền gửi, cho vay và hoạt động đầu tư.

Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn của ngân hàng từ những nguồn tiền

chưa được sử dụng trong nền kinh tế với cam kết hoàn trả và trả lãi đúng hạn. Tiền

gửi tồn tại ở các dạng: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi có

kì hạn của doanh nghiệp. Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của

NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.Khi một ngân hàng

bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và

thanh toán hộ cho khách hàng.

Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng vay với cam kết khách

hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.Hoạt động này

thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc

trưng của ngân hàng. Cho vay bao gồm: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và

tài trợ cho dự án. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ tiêu: Dư nợ cho vay

bình quân trong kì và dư nợ cho vay cuối kì. Dư nợ cho vay bình quân trong kì là

bình quân của tổng dư nợ cho vay đầu kỳ và dư nợ cho vay cuối kỳ báo cáo mà

ngân hàng đã cho vay ra, dư nợ cuối kì là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho

vay vào thời điểm cuối kì.

Hoạt động đầu tư được thể hiện thơng qua việc ngân hàng nắm giữ các chứng

khốn vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hoá tài sản. Ngân hàng giữ nhiều loại

chứng khốn, có thể xếp loại theo nhiều tiêu thức, ví dụ như theo tính thanh khoản,



theo chủ thể phát hành, theo mục tiêu nắm giữ…Theo chủ thể phát hành có thể chia

thành: chứng khốn của Chính phủ Trung ương hoặc địa phương (do kho bạc Nhà

nước phát hành); chứng khốn của các ngân hàng khác, các cơng ty tài chính (bao

gồm các cổ phiếu và các giấy nợ khác do các ngân hàng, các cơng ty tài chính phát

hành hoặc chấp nhận thanh toán); chứng khoán của các cơng ty khác. Ngân hàng

giữ chứng khốn vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia

tăng ngân quỹ khi cần thiết.

Các hoạt động khác bao gồm một số hoạt động như: mua bán ngoại tệ, bảo

quản vật có giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý

ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và

dài hạn, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ mơi giới đầu tư

chứng khốn, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý.

1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Hoạt động cho vay có thể được hiểu “là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc

hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi

vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao

tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi

vay có trách nhiệm hồn trả vơ điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến

hạn thanh tốn”. Còn theo cách tiếp cận đơn giản hơn, tại điều 3- Quyết định

1627/2001/QĐ-NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức

tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào một mục đích và thời

gian nhất định theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi”.

Có nhiều cách phân loại cho vay, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tôi xin đưa

ra cách phân loại khách hàng theo đối tượng khách hàng. Theo cách phân loại này

thì cho vay bao gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính

và cho vay khách hàng cá nhân.

Khách hàng doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công

ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi,

cơng ty hợp danh. Hình thức cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp rất đa dạng



7



như cho vay ngắn hạn theo món, vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay theo

dự án đầu tư, cho vay hợp vốn,…

Khách hàng tổ chức tài chính ở đây bao gồm các ngân hàng khác, hợp tác xã

tín dụng, các cơng ty bảo hiểm, các cơng ty tài chính,…Hình thức cho vay đối với

các tổ chức tài chính cũng hết sức đa dạng.Thường cho vay NHTM nhằm đáp ứng

các nhu cầu ngắn hạn của các ngân hàng này và các giao dịch thường diễn ra trên

thị trường tiền tệ liên ngân hàng.

Khách hàng cá nhân ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự,

năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật. Đối

tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vốn để mua nhà, sửa

chữa nhà, xây dựng nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương

án sản xuất kinh doanh và đáp ứng một số yêu cầu khác. Các phương thức vay vốn

đa dạng như: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm,

cho vay theo hạn mức,…Thời hạn cho vay linh hoạt tuỳ vào mục đích vay của

khách hàng và kết quả thẩm định của chuyên viên quan hệ khách hàng. Lãi suất cho

vay được xác định dựa trên biểu lãi suất cho vay của ngân hàng, hoặc cũng có thể

phụ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng và ngân hàng. Về tài sản đảm bảo cho

khoản vay bao gồm bất động sản (nhà, đất,…), động sản (hàng hoá, máy móc thiết

bị, phương tiện vận tải…), số dư tài khoản tiền gửi, các chứng chỉ tiền gửi và các

giấy tờ có giá khác, tài sản có giá trị khác.

1.2 Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân

Cho vay KHCN là hoạt động tín dụng của ngân hàng cho chủ thể là các cá

nhân, hộ gia đình.Ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân phục vụ việc sản xuất kinh

doanh, tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên

tắc hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi.

Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại

hình cho vay khác như sau:



Đối tượng cho vay: là các cá nhân và các hộ gia đình.

Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mơ nhỏ nhưng

số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ

gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của

một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay

lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng

nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.

Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ

của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng

và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn

định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu

nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc

sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thối người dân

thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào

đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng.

Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường

người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải

chịu.Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu

vay của khách hàng.

Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được

coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản

thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất

khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình khơng chịu trả nợ, hoặc do sự biến

động về tình trạng sức khoẻ, cơng việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá

nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn.Ngồi ra, để có được khoản vay có

nhiều khách hàng giấu các thơng tin về tình hình sức khoẻ và cơng việc trong tương

lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản

cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×