Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

2 Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đối tượng cho vay: là các cá nhân và các hộ gia đình.

Quy mơ khoản vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mơ nhỏ nhưng

số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ

gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của

một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay

lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng

nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.

Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ

của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng

và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn

định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu

nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc

sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân

thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào

đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng.

Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường

người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải

chịu.Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu

vay của khách hàng.

Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được

coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản

thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất

khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình khơng chịu trả nợ, hoặc do sự biến

động về tình trạng sức khoẻ, cơng việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá

nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn.Ngồi ra, để có được khoản vay có

nhiều khách hàng giấu các thơng tin về tình hình sức khoẻ và cơng việc trong tương

lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản

cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu



9



phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất

nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.

Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản

cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi

thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay

này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản

cho vay khác của NHTM.

Từ trước đến nay, cho vay KHCN vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục

mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để

bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, khơng như hầu hết các khoản cho vay

khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay

KHCN ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy

nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần

bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn

thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản cho vay KHCN mới không

mang lại lợi nhuận.

Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, thu nhập này có thể thay

đổi tuỳ theo tình trạng cơng việc, sức khoẻ của người vay cũng như tình hình sản

xuất kinh doanh của họ. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có

trình độ học vấn hoặc có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả là những tiêu chí

quan trọng để ngân hàng thương mại quyết định cho vay.

Hạn mức cho vay KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay,

hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của

khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo.

Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác

nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý. Thơng thường, cho

vay cầm cố có hạn mức cao nhất, chẳng hạn như nếu khách hàng cầm cố sổ tiết

kiệm, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi có thể được cấp một hạn mức bằng 90% giá

trị tài sản cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức tín dụng dựa trên tài sản đảm



bảo của khách hàng, các ngân hàng cần phải định giá chính xác tài sản đó.Nếu định

giá quá thấp sẽ làm giảm số tiền vay của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ dẫn

đến rủi ro cho ngân hàng.

Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp lý của

khách hàng = nhu cầu vốn hợp lý - vốn tự có của khách hàng - vốn khách hàng vay

mượn từ nguồn khác) và hạn mức tín dụng, từ đó xác định số tiền cho vay. Nếu nhu

cầu vay hợp lý > hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn

mức tín dụng, nếu nhu cầu vay hợp lý < hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho

khách hàng vay số tiền theo nhu cầu vay hợp lý của khách hàng. Như vậy, sẽ vừa

thoả mãn nhu cầu vay của khách hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng.

1.2.2 Phân loại cho vay khách hàng cá nhân

Để có thể quản lý tốt cho vay KHCN cần thiết phải phân loại cho vay KHCN.

Có nhiều tiêu thức để phân loại một khoản cho vay, dưới đây tôi xin đề cập phân

loại các khoản cho vay KHCN theo một số tiêu chí sau:

 Căn cứ vào mục đích vay

Căn cứ vào mục đích vay có thể phân loại cho vay KHCN thành ba loại:



Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích cư trú

Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo

nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.Đặc điểm của khoản vay này là thời gian dài và quy

mô vay là lớn.

Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng

Đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm

phương tiện, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, giải trí,… Đặc điểm của khoản vay

này là quy mô nhỏ, thời gian ngắn, rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ mục đích cư trú.

Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh

Đó là các khoản cho vay để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh nhỏ ở

từng hộ gia đình, vay để buôn bán, thuê cửa hàng,… Đặc điểm của các khoản cho vay



11



này là thời hạn thường dài, qui mô tuỳ thuộc vào phương án kinh doanh của khách

hàng, rủi ro của khoản cho vay này rất cao và có khả năng xảy ra rủi ro đạo đức.

 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

Cho vay KHCN trả một lần khi đến hạn

Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu

tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đến hạn. Qui mơ của

món vay là tương đối nhỏ, các khoản vay trả một lần thường ngắn hạn và được

dùng để chi trả cho các chuyến đi nghỉ, mua các dụng cụ gia đình hoặc sửa chữa ô

tô, nhà ở… Rủi ro các món vay này là khơng lớn lắm.

Cho vay trả góp

Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc

nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Khoản cho vay được trả làm nhiều

lần theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, phương thức này được dùng để

tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà… hoặc để tài trợ cho

các phương án sản xuất kinh doanh, thuê cửa hàng, mua sắm các tài sản lưu động

khác… Nhìn chung, các khoản cho vay trả góp này mang lãi suất cố định, tuy nhiên

loại mang lãi suất thả nổi cũng đang dần trở nên phổ biến. Thường thì trong tổng

khối lượng cho vay tiêu dùng do các NHTM cung cấp thì hơn 80% được thực hiện

trên cơ sở trả góp. Điều này xuất phát từ việc khả năng tài chính của khách hàng

khơng đủ để chi trả khoản vay một lần duy nhất thêm vào đó việc định kỳ trả nợ vào

mỗi tháng hay đến kỳ lương là thuận lợi hơn. Hình thức cho vay này lại được chia

nhỏ thành: cho vay trả gốc và lãi hàng tháng đều nhau (niên kim cố định), trả gốc

hàng tháng bằng nhau, lãi trả theo số dư gốc (niên kim không cố định), hoặc trả lãi

hàng kì còn gốc trả cuối kì.

Cho vay thơng qua phát hành thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng ngân hàng cũng như các loại thẻ thanh tốn khác đã nhanh chóng

được chấp nhận sử dụng, thẻ tín dụng cung cấp một hạn mức tín dụng thường xun

và quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ có nhu cầu.Những

người sử dụng thẻ tín dụng có thể vay trả dần hoặc trả một lần vì họ có thể tính tiền



mua hàng vào tài khoản thẻ tín dụng của mình.Trong tương lai thẻ tín dụng sẽ rất

phát triển bởi công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho những người sở hữu thẻ tín dụng có

thể tiếp cận đến một số lượng lớn các dịch vụ tài chính, bao gồm cả tài khoản tiết

kiệm và tài khoản thanh toán cũng như hạn mức tín dụng.

 Căn cứ vào hình thức cho vay

Cho vay gián tiếp:

Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các

doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho KHCN của

họ, theo hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng

hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Tuy nhiên, hình

thức cho vay gián tiếp này ngồi những ưu điểm ra thì còn gặp rất nhiều hạn chế, cụ

thể như sau:

 Ưu điểm:

- Các NHTM dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay.

- Các NHTM sẽ tiết kiệm và giảm được các chi phí khi cho vay.

- Là cơ sở để mở rộng quan hệ với khách hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho

các hoạt động khác của ngân hàng.

Nếu NHTM quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ, thì hình thức cho vay

KHCN gián tiếp có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay KHCN trực tiếp.

 Nhược điểm:

- Các ngân hàng thương mại khi cho vay không tiếp xúc trực tiếp với khách

hàng mà thông qua các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá, dịch vụ, nhất là trong

việc lựa chọn khách hàng, tiêu chí lựa chọn của doanh nghiệp và ngân hàng không

giống nhau.

- Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng cả trước, trong và sau khi vay vốn, khi

doanh nghiệp thực hiện bán lẻ hàng hoá và dịch vụ.

- Kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ của hình thức cho vay này rất phức tạp.

Cho vay trực tiếp



13



Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để tiến

hành cho vay hoặc thu nợ.

 Ưu điểm:

- Việc cho vay tiến hành trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng do vậy ngân

hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, và kĩ năng của chuyên

viên quan hệ khách hàng, do đó các khoản vay này thường có chất lượng cao hơn so

với cho vay gián tiếp thông qua các doanh nghiệp bán lẻ.

- Chuyên viên quan hệ khách hàng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng

các khoản vay, song doanh nghiệp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thường coi trọng nhiều đến

việc tăng doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay, hơn nữa các doanh

nghiệp thường đưa ra quyết định cho vay một cách nhanh chóng, nên dẫn đến tình

trạng có những khoản cho vay cấp ra khơng chính đáng, ngược lại có thể từ chối khách

hàng tốt của mình, như vậy hình thức này đã khắc phục nhược điểm này nếu cho vay

gián tiếp.

- Hình thức cho vay trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay gián tiếp, vì khi

quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt các phát sinh, hơn nữa

có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.

Cho vay trực tiếp với đối tượng khách hàng là rất rộng do đó việc đưa ra các

dịch vụ, tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường và quảng

bá hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng.

 Nhược điểm:

- Việc mở rộng và tăng doanh số cho vay không thuận lợi bằng hình thức cho

vay KHCN gián tiếp.

- Do cán bộ ngân hàng phải làm việc trực tiếp với khách hàng nên Ngân hàng

tốn nhiều thời gian và chi phí so với hình thức cho vay gián tiếp, nhất là khi lượng

khách hàng đến đông cùng một thời gian sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng.

 Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay:

Cho vay có tài sản bảo đảm



Là cho vay với tài sản bảo đảm là bất động sản, động sản… hình thành từ vốn

vay hoặc tài sản thuộc sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn của Ngân hàng. Tài

sản bảo đảm làm tăng tính an tồn cho khoản vay do Ngân hàng có thể tạo áp lực để

buộc khách hàng phải trả nợ hoặc trong tình huống xấu nhất khách hàng khơng trả

được nợ thì việc phát mại tài sản bảo đảm cũng giúp giảm bớt tổn thất cho Ngân

hàng. Cho vay có tài sản đảm bảo lại được chia thành hai loại:

Loại 1bao gồm các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của chính

khách hàng. Có thể chia các hình thức đảm bảo của loại này thành hai loại nhỏ sau:

i. Cho vay cầm cố là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với điều

kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân

hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được

ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín dụng

của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường là các tài sản mà ngân hàng có thể

kiểm sốt và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ

không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng chẳng hạn như: các giấy

tờ có giá, ngoại tệ mạnh, kim loại quý,…

ii. Cho vay thế chấp là hình thức mà người vay phải chuyển toàn bộ các giấy tờ

chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ

trong thời gian cam kết. Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế

chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất,…hoặc là những động

sản mà người vay vẫn cần sử dụng như ô tô, xe máy,…Việc thế chấp bằng tài sản

cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay. Tuy

nhiên, q trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát

của tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế. Việc định giá tài sản đảm bảo cũng là

một khó khăn lớn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng tránh định giá quá cao gây

thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp gây ảnh hưởng đến khả năng vay của

khách hàng.

Loại 2 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay.Khi khách

hàng có nhu cầu vay vốn nhưng khơng có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó khơng



15



đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể u cầu khách hàng

sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm

bảo. Nếu khách hàng khơng có khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ phát mại tài sản đó để

thu nợ. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản hoặc sử dụng không cẩn thận làm

giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo

quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng, đồng thời chuyển

toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.

Cho vay khơng có tài sản bảo đảm

Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, khơng có

tài sản bảo đảm.Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt

để cho vay. Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn

định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xun còn có một phần tích

luỹ để trả nợ vay (thuộc đối tượng là công chức, viên chức trong biên chế nhà nước,

nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…), các cán bộ công nhân viên tại các

doanh nghiệp đang thanh tốn lương hay có quan hệ với ngân hàng; ngồi ra thu

nhập hình thành từ sản xuất kinh doanh cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn trả

nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá trị không lớn, thời hạn vay ngắn.

 Căn cứ vào thời hạn:

Cho vay ngắn hạn là khoản vay có thời gian dưới 12 tháng và được sử dụng để

bù đắp sự thiếu hụt chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình.Rủi ro cho ngân

hàng là khá nhỏ khi cho vay ngắn hạn, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra

và nếu có ngân hàng cũng có thể dự tính được.

Cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.

Chủ yếu được sử dụng để phục vụ cho các nhu cầu vốn có thời hạn tương đối dài

hơn như mua ô tô, xây dựng nhà cửa….

Cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng hay tối đa lên tới 20

năm. Cho vay dài hạn được cung cấp khi quy mô khoản vay lớn, chủ yếu phục vụ



cho nhu cầu mua sắm đất đai, nhà cửa. Nhìn chung, đối với ngân hàng, tín dụng dài

hạn tiềm ẩn rủi ro lớn.

 Căn cứ theo loại tiền:

Cho vay đồng nội tệ là khoản vay được giải ngân cho KHCN bằng đồng nội tệ.

Cho vay đồng ngoại tệ là khoản vay được giải ngân cho KHCN bằng đồng

ngoại tệ theo nhu cầu của khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được quy định về quản lý

ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1.2.3 Quy trình cho vay đối với khách hàng cá nhân của

ngân hàng thương mại

Thực tế cho thấy việc đánh giá một khoản cho vay KHCN là không hề đơn

giản, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

Thông tin về khách hàng là khơng đầy đủ, khách hàng thường có hiện tượng

che giấu tình trạng tài chính, sức khỏe của bản thân khách hàng… Thêm vào đó, các

cá nhân và hộ gia đình khơng dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài chính.Thực tế

cho thấy, tỷ lệ các khoản cho vay KHCN khơng được thanh tốn thường gấp nhiều

lần so với tỷ lệ các khoản cho vay đối với doanh nghiệp hay tổ chức tài chính khác

khơng được thanh tốn.Một đặc điểm chính giúp ngân hàng giảm bớt thua lỗ từ các

khoản cho vay này là giá trị của chúng thường nhỏ và được đảm bảo bằng các tài

sản thế chấp có tính thanh khoản cao trên thị trường. Các chun viên quan hệ

khách hàng đã tổng kết rằng trong hầu hết các loại hình cho vay, cho vay KHCN có

số lượng các khoản vay có nợ xấu (nợ quá hạn) lớn nhất, điều này làm tăng các

khoản nợ có vấn đề của các ngân hàng thương mại do đó làm ảnh hưởng đến hoạt

động kinh doanh của các ngân hàng.

Quy trình cho vay được các chuyên viên quan hệ khách hàng áp dụng giúp cho

quá trình cho vay diễn ra một cách khoa học, hạn chế và ngăn ngừa rủi ro và nâng

cao chất lượng tín dụng.

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ xin vay của KHCN.

Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, họ đến gặp nhân viên của ngân hàng và

ghi những thông tin cần thiết vào hồ sơ xin vay.Chuyên viên quan hệ khách hàng sẽ



17



hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ cho vay đầy đủ và đúng quy định theo mẫu của

ngân hàng bao gồm: đơn xin vay vốn, phương án vay vốn và kế hoạch trả nợ, danh

mục các tài sản cầm cố, thế chấp và giấy tờ liên quan, các giấy tờ chứng minh

nguồn thu nhập (nếu có), hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân và các giấy tờ liên

quan khác.

Bước 2: Thẩm định tín dụng. Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình cho

vay KHCN, quyết định chất lượng của món vay, thường bao gồm các nội dung sau:

Thẩm định tư cách đạo đức và mục đích vay của khách hàng: Chuyên viên

quan hệ khách hàng phải đảm bảo khách hàng vay vốn có đủ năng lực pháp luật và

năng lực hành vi dân sự, đủ tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng. Nếu một khách

hàng muốn vay vốn từ ngân hàng, họ phải trả lời đầy đủ những câu hỏi của chuyên

viên quan hệ khách hàng về lý do xin vay hay nhu cầu tín dụng xuất phát từ đâu.

Cuộc trò chuyện giữa chuyên viên quan hệ khách hàng và khách hàng là rất quan

trọng bởi vì qua đó chun viên quan hệ khách hàng có điều kiện để nhận biết tính

cách cũng như mục đích xin vay của khách hàng.Nếu chuyên viên quan hệ khách

hàng phát hiện ra sự không trung thực của khách hàng đối với nhu cầu vay vốn thì

có nhiều khả năng hồ sơ xin vay của khách hàng sẽ bị từ chối.

Thơng thường thì những đặc điểm cơ bản của người đi vay được bộc lộ thơng

qua mục đích của việc vay tiền.Chun viên quan hệ khách hàng phải hỏi xem

khách hàng sẽ dùng khoản tiền vay vào mục đích gì và liệu mục đích đó có phù hợp

với chính sách cho vay của ngân hàng hay khơng.Các thơng tin trong q trình trao

đổi giữa chun viên quan hệ khách hàng với khách hàng sẽ dùng để đối chiếu với

các thông tin khách hàng cung cấp trong hồ sơ vay vốn.

Thẩm định tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng: Bao gồm

các công việc: xác định mức thu nhập của khách hàng, công việc đang làm, số dư

các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Nhân viên tín dụng phải được đảm bảo rằng

những khách hàng vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng

hạn các khoản nợ. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng của khách



hàng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân hàng. Những khách

hàng có thu nhập ổn định và thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản chi phí sinh hoạt

cần thiết cao thì khả năng vay sẽ cao.

Đối với những khách hàng có chất lượng tín dụng thấp thì ngân hàng yêu cầu

phải có người đứng ra bảo lãnh về việc hồn trả các khoản vay.Nếu người đi vay

khơng thanh tốn cho các khoản nợ được bảo lãnh thì người đứng ra bảo lãnh có

trách nhiệm phải thanh tốn.Tuy nhiên, nhiều ngân hàng chỉ xem việc có người bảo

lãnh là một đảm bảo về mặt tâm lý hơn là một nguồn đảm bảo thực sự.Người đi vay

sẽ thấy có trách nhiệm hơn trong việc hồn trả khoản vay vì uy tín của người bảo

lãnh.

Bước 3: Thẩm định tài sản đảm bảo.

Chuyên viên quan hệ khách hàng cần kiểm tra quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp

pháp các tài sản dùng làm vật đảm bảo của khách hàng.Khả năng chuyển tài sản thành

tiền trong những trường hợp cần thiết và sự ổn định về giá cả của tài sản.Định giá tài

sản đảm bảo cũng là một công đoạn rất quan trọng trong khâu thẩm định.Cuối cùng,

ngân hàng cần xem xét khả năng bảo quản tài sản của người đi vay.

Sau khi thẩm định xong, chuyên viên quan hệ khách hàng sẽ lập báo cáo thẩm

định trong đó ghi vắn tắt nhưng tổng quát về tình hình của khách hàng: tên, tuổi,

mục đích vay, số tiền vay, phương án trả nợ, tài sản đảm bảo và đưa ra ý kiến cho

vay hay không cho vay đối với khách hàng. Nếu cho vay thì phải ghi rõ số tiền, thời

hạn, lãi suất, phương án trả nợ và các điều kiện kèm theo rồi trình lên trưởng phòng

tín dụng xem xét. Nếu khơng cho vay thì phải ghi rõ lý do vì sao.

Bước 4: Xét duyệt và ký kết hợp đồng tín dụng.

Sau khi nhận báo cáo thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan, trưởng

phòng tín dụng xem xét lại và yêu cầu chuyên viên quan hệ khách hàng giải thích

bổ sung hoặc chỉnh sửa nếu có thiếu sót. Sau đó báo cáo sẽ được trình lên cấp có

thẩm quyền phê duyệt quyết định cho vay hay không cho vay. Trong trường hợp cần

thiết (ví dụ như đối với các khoản vay lớn hoặc thời gian dài vượt thẩm quyền phê



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×