Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.2: Quá trình sáng tạo và phân phối giá trị

Hình 1.2: Quá trình sáng tạo và phân phối giá trị

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



hơn so với các tiêu chí khác. Tiêu chí này khá phù hợp khi dùng để đánh giá năng

lực cạnh tranh giữa các thương hiệu trong ngành thực phẩm đồ ăn nhanh vì khách

hàng của các doanh nghiệp này chủ yếu là khách hàng đại chúng do đó doanh

nghiệp càng sở hữu số lượng khách hàng ổn định lớn càng tỏ rõ ưu thế của họ trên

thị trường hay chính là họ chiếm lĩnh thị phần vượt trội. Khách hàng sử dụng đồ ăn

nhanh tại các thị trường mới như Việt Nam thường có sự thay đổi nhanh, mong

muốn thử những thứ mới mẻ do đó để thu hút, và tạo lập được những khách hàng

trung thành các thương hiệu đồ ăn nhanh trong dài hạn phải ln hồn thiện nâng

cao hình ảnh thương hiệu, chất lượng dịch vụ, cũng như làm mới mình thơng qua

các chương trình marketing.

- Khả năng thu hút và phát triển khách hàng

Khả năng thu hút và phát triển khách hàng chính là thể hiện năng lực của hoạt

động marketing và phát triển thị trường. Năng lực này thể hiện qua việc đưa ra

những kế hoạch chính sách nhằm thu hút, lơi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm của

mình thay vì các thương hiệu khác, đồng thời mở rộng và tìm kiếm các thị trường

tiềm năng. Đây là hoạt động có tầm quan trong và mang tính chiến lược dài hạn vì

bất kì một thị trường nào cũng sẽ đến giai đoạn bão hòa và suy thối, đặc biệt

những thị trường có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp khiến thị phần các công ty

bị thu hẹp thì việc thu hút khách hàng và phát triển nguồn khách hàng mới sẽ có

tính quyết định để doanh nghiệp đó có thể tồn tại đứng vững so với đối thủ cạnh

tranh.

- Chất lượng quá trình cung ứng dịch vụ

Đây là tiêu chí quan trọng nhất khơng chỉ đối với ngành thực phẩm đồ ăn

nhanh mà là đối với tất cả các ngành dịch vụ đặc biệt khi các sản phẩm của các

thương hiệu dường như không tạo nhiều sự vượt trội, khác biệt thì chất lượng dịch

vụ là yếu tố để người tiêu dùng lựa chọn thương hiệu của doanh nghiệp đó thậm chí

mong muốn trở thành khách hàng trung thành của mình. Quá trình cung ứng dịch vụ

bao gồm rất nhiều thành tố chủ yếu là các điểm tiếp xúc và tương tác trực tiếp với

khách hàng như không gian cơ sở vật chất, thái độ phục vụ của nhân viên, thời gian



20



phục vụ, hình thức phục vụ, sự quan tâm chia sẻ đối với mong muốn của khách

hàng....Tuy nhiên việc cân đối giữa chất lượng dịch vụ và chi phí ln là bài tốn kinh

tế đòi hỏi doanh nghiệp phải tính tốn hiệu quả để tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài.

- Giá cả

Giá cả luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong mua sắm, tiêu dùng của

người dân tại thị trường Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Đặc biệt trong

lĩnh vực cung ứng thực phẩm cuộc chiến về giá luôn là cuộc đấu gay gắt giữa các

thương hiệu, thực phẩm đồ ăn nhanh cũng không ngoại lệ. Đây có thể coi là điểm

hạn chế của các thương hiệu đồ ăn nhanh nước ngoài, khi mà Việt Nam là một quốc

gia châu Á có mức thu nhập bình qn đầu người chưa cao, người tiêu dùng trong

thời gian ngắn chưa thay đổi thói quen tiêu dùng dựa theo giá cả. Trong khi đó mức

giá đồ ăn của các thương hiệu ăn nhanh kinh doanh nhượng quyền khó có thể thay

đổi khi tỉ lệ nội địa hóa nguyên liệu đầu vào chưa cao. Vì thế giá cả là vấn đề gây

trở ngại nhất trong năng lực cạnh tranh hiện tại của các thương hiệu nước ngoài khi

muốn cạnh tranh với đồ ăn vỉa hè giá rẻ tại Việt Nam.

- Sự đa dạng hóa của các sản phẩm

Tập khách hàng mà đồ ăn nhanh hướng tới chủ yếu là hai bộ phận giới trẻ và

gia đình điểm chung của hai đối tượng khách hàng này chính là nhu cầu của họ vơ

cùng đa dạng giới trẻ ln thích thử sự mới mẻ còn khách hàng gia đình lại có nhiều

đối tượng từ già tới trẻ với những nhu cầu khác biệt. Do đó sự đa dạng của sản

phẩm ln là điều thu hút khách hàng đặc biệt là khách hàng Việt Nam. Các cửa hàng

có nhiều sản phẩm mới lạ, đáp ứng nhiều nhu cầu đa dạng của khách hàng thì khả năng

họ lựa chọn và quay trở lại càng cao. Đơi khi đó là vì yếu tố tâm lí người tiêu dùng

thích có nhiều sự lựa chọn để có thể có thể sử dụng đồng tiền một cách tối ưu.

- Mạng lưới cung ứng dịch vụ (hay kênh phân phối)

Bản chất của chuỗi cửa hàng ăn nhanh là hệ thống các cửa hàng cùng một

thương hiệu cung cấp cùng một chất lượng dịch vụ và giá cả do đó hệ thống phân

phối là điều kiện cơ bản để tồn tại hình thức kinh doanh này. Tuy nhiên khác với hệ

thống phân phối chiều dọc như các loại hình kinh doanh sản xuất khác, đồ ăn nhanh



21



phân phối chiều ngang do đó độ dài kênh khơng quan trọng mà mạng lưới phân

phối rộng lớn mới là mục tiêu doanh nghiệp hướng tới. Chuỗi cửa hàng ăn nhanh

càng chiếm giữ được hệ thống phân phối rộng khắp và tại các vị trí thuận lợi sẽ

càng có lợi thế cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường bởi khả năng tiếp cận và tạo nhận

diên thương hiệu với người tiêu dùng càng cao. Hơn thế nữa đồ ăn nhanh bản chất

là hướng tới khách hàng có nhu cầu lớn về sự thuận tiện, nhanh chóng vì thế mà địa

điểm đơi khi là ưu tiên số một khi khách hàng chọn sử dụng thương hiệu đồ ăn

nhanh nào.

- Công nghệ.

Công nghệ sử dụng trong ngành thực phẩm ăn nhanh chủ yếu là việc áp dụng

các thiết bị máy móc trong hoạt động vận hành hoạt động cung ứng sản phẩm cho

khách hàng. Mặc dù là các máy móc thiết bị hiện đại nhưng nó có tính ứng dụng

thuận tiện cao vì thế nhân viên các hệ thống dễ dàng sử dụng. Vì lẽ đó hầu như về

thiết bị máy móc các thương hiệu đồ ăn nhanh khơng có mấy sự khác biệt, do đó

năng lực cạnh tranh chủ yếu tập trung ở hệ thống công nghệ thơng tin, và khả năng

áp dụng nó hiệu quả để vận hành hoạt động của cửa hàng cũng như hỗ trợ hoạt động

quản lí điều hành của doanh nghiệp ví dụ như áp dụng các công nghệ thông tin

trong tương tác với khách hàng nhưhoạt động điều tra khảo sát và nhận phàn nàn từ

khách hàng, trong các chương trình khuyến mại, truyền thông quảng bá thương

hiệu, trong đào tạo nhân viên…

- Nguồn nhân lực

Nhân lực là yếu tố cốt lõi và có vai trò rất quan trọng để doanh nghiệp tồn tại

và phát triển lâu dài đặc biệt là ngành dịch vụ đòi hỏi sự tương tác, tiếp xúc liên tục

giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp. Đối với ngành dịch vụ ăn uống nói

chung và cung ứng đồ ăn nhanh nói riêng thì sự tương tác này càng đòi hỏi nguồn

nhân lực có kĩ năng giao tiếp, ứng xử tốt bởi khách hàng đánh giá chất lượng dịch

vụ của một thương hiệu phục vụ trong lĩnh vực ăn uống thơng qua cả một q trình

xun suốt từ khi tiếp đón khách hàng vào cửa hàng, tư vấn bán hàng, chế biến sản

phẩm, phục vụ khách hàng, thanh toán, chào hỏi khách hàng khi họ rời khỏi. Tất cả



22



các tác nghiệp đó, người nhân viên chính là yếu tố trung tâm để thể hiện mức chất

lượng phục vụ của thương hiệu, khách hàng thông qua họ để đánh giá tồn bộ q

trình cung ứng dịch vụ của cả cửa hàng. Vì thế mỗi cá thể nhân viên dù ở vị trí nào

trong quy trình đều có sự ảnh hưởng rất lớn tới cả hình ảnh và uy tín thương hiệu

trong tâm trí khách hàng. Có thể khẳng định kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ,

doanh nghiệp sở hữu được đội ngũ nhân lực có chất lượng sẽ là doanh nghiệp có lợi

thế lớn để phát triển bền vững.

- Danh tiếng, uy tín và khả năng phối hợp chuỗi

Chữ tín của doanh nghiệp gắn liền với chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà

doanh nghiệp cung cấp. Nếu doanh nghiệp làm hài lòng khách hàng với chất lượng

dịch vụ tốt thì sẽ nâng cao uy tín của doanh nghiệp, đảm bảo thị phần của doanh

nghiệp. Nếu không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng một cách tốt nhất thì uy

tín sẽ bị giảm sút và làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thương hiệu là tất cả những danh tính, hình dạng và biểu tượng dùng để xác

định nguồn gốc của sản phẩm hay dịch vụ cung ứng bởi một doanh nghiệp và phân

biệt chúng với những sản phẩm hay dịch vụ của các doanh nghiệp khác.

Chất lượng của thương hiệu thể hiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thương hiệu có chất lượng là thương hiệu có danh tiếng trên thị trường khi mà sau

một quá trình, doanh nghiệp đã chứng minh được dịch vụ của họ mang đến cho

khách hàng một giá trị gia tăng nhất định. Thương hiệu và danh tiếng cũng là tài sản

vơ hình của doanh nghiệp. Giá trị vơ hình của thương hiệu được tạo ra từ vật chất cụ

thể của dịch vụ nhưng khi thương hiệu đã giành được vị thế của nó thì chính nó sẽ là

xung lực thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Tuy nhiên, dù

giá trị của thương hiệu khởi đầu được xây dựng trên nền tảng của chất lượng dịch vụ

nhưng nếu doanh nghiệp chỉ biết dựa vào chất lượng nói trên để khuếch trương

thương hiệu thì vơ hình chung doanh nghiệp đã giới hạn sức mạnh của thương hiệu.

Bởi vì thương hiệu cần được ni dưỡng thêm bằng những hoạt động khác của doanh

nghiệp để đạt tới mức giá trị vơ hình cao nhất. Nếu khơng chất lượng của thương hiệu

sẽ bị đồng nhất với chất lượng dịch vụ và không mang thêm cho thương hiệu của



23



doanh nghiệp một giá trị gia tăng mới nào dưới con mắt của khách hàng

- Khả năng phối hợp chuỗi

Là ngành kinh doanh về sản phẩm thực phẩm vì thế khả năng phối hợp chuỗi là

một trong những yếu tố quan trong giúp các chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh đạt lợi thế cạnh

tranh trong việc tạo ra những giá trị cao cho sản phẩm dịch vụ của mình. Hoạt động của

chuỗi có thể kể đến là liên kết chuỗi bên trong và liên kết chuỗi bên ngoài. Đối với kết

hợp chuỗi bên trong là nói tới chuỗi hoạt động từ khâu thu mua nguyên liệu- chế biến

thành phẩm- bán hàng – dịch vụ theo đúng mơ hình chuỗi giá trị. Ngồi ra khơng thể

thiếu đi sự hỗ trợ từ phía các bộ phận khác trong chuỗi giá trị như bộ phận thu mua, bộ

phận marketing, bộ phận kĩ thuật... để hoạt động hiệu quả. Doanh nghiệp càng có khả

năng phối hợp hoạt động trong chuỗi liên tục nhuần nhuyễn thì càng nâng cao năng lực

cạnh tranh của mình so với đối thủ đặc biệt là cuộc cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và

giá.

Bên cạnh đó, để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao cũng như giá thành hiệu quả

đòi hỏi các hệ thống cửa hàng ăn nhanh phải cósự liên kết hợp tác sâu rộng với các bên

liên quan như các nhà cung cấp nguyên liệu, công ty vận tải, công ty tổ chức sự kiên,

quảng cáo và truyền thơng, cơng ty tài chính... Ví như sự cung cấp hàng hóa thường

xuyên chất lượng từ các nhà cung cấp, sự ổn định cũng như chất lượng nguồn nguyên

liệu của nhà cung cấp là nhân tố quyết định việc các cửa hàng ln có thể đáp ứng đầy

đủ chủng loại sản phẩm, chất lượng tiêu chuẩn về vệ sinh an tồn thực phẩm đồng thời

ngày càng giảm chi phí để cạnh tranh về giá cả. Doanh nghiệp càng tạo sự liên kết bền

chặt, lâu dà ivới các đối tác uy tín sẽ càng tạo được nhiều lợi thế cạnh tranh và tính ổn

định trong hoạt động kinh doanh.

1.2.2. Phương pháp xác định chỉ số NLCT dịch vụ của chuỗi cửa hàng

thực phẩm đồ ăn nhanh

Ở đây có thể hiểu, mỗi một thương hiệu là một khái niệm hỗn hợp tồn diện

của nhiều thuộc tính để tạo nên sự khác biệt về sức cạnh tranh cho sản phẩm dịch

vụ của thương hiệu. Chính vì thế để xác định chỉ số NLCT dịch vụ của một thương

hiệu cần phải dựa trên việc đánh giá tổng hợp các thuộc tính tạo nên chất lượng sản



24



phẩm dịch vụ của thương hiệu đó. Do đó để tính chỉ số NLCT sản phẩm dịch vụ của

thương hiệu tao thực hiện các bước sau

- Bước 1: Ứng với mỗi thương hiệu phải lượng định được các thơng số cơ bản

quan trọng, điển hình.

- Bước 2: Tìm giá trị trung bình đánh giá năng lực cạnh tranh của các yếu tố

thông qua việc khảo sát khách hàng theo thang điểm 5

- Bước 3: Ứng với mỗi tham biến phân tích đánh giá mức độ quan trọng của tham

biến vào cường độ sức cạnh tranh của thương hiệu, thực chất là xác định cơ cấu trọng

số của các tham biến đến sức cạnh tranh tổng thể của thương hiệu

- Bước 4: Xác định chỉ số nhóm về sức cạnh tranh thương hiệu trên thị trường

bằng tổng của tích giữa chỉ số tham biến với trọng số tương ứng của nó.

Knh =Knh =

Ai là điểm đánh giá trung bình năng lực cạnh tranh của yếu tố i

Ki là trọng số tương ứng của tham biến

Knh là năng lực cạnh tranh tổng thể của thương hiệu

- Bước 5: Xác định chỉ số sức cạnh tranh tương đối của thương hiệu trong mối

tương quan với các thương hiệu cạnh tranh khác



Kct =

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT dịch vụ của chuỗi cửa hàng thực

phẩm đồ ăn nhanh

1.3.1. Yếu tố mơi trường vĩ mơ

Mơi trường vĩ mơ chính là mơi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động. Môi

trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức tạp ảnh hưởng đến

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Mơi trường đó chính là tổng thể các nhân tố

cơ bản : Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị và pháp luật, nhân tố xã hội , nhân tố tự

nhiên, nhân tố công nghệ. Mỗi nhân tố này tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt



25



động kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng có thể là cơ hội hoặc thách thức đối với

doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải có sự am hiểu về các nhân tố trên và đưa ra

cách ứng xử cho phù họp đối với những đòi hỏi; những biến động của chúng đối với

những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thì vấn đề này cần được coi trọng.

Nhân tố kinh tế.

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng

nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ

tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, đời sống và thu nhập dân cư tăng lên đồng nghĩa

với nhu cầu hàng hóa cũng tăng theo, điều này cũng có nghĩa là tốc dộ tích luỹ vốn

đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên , mức độ hấp dẫn đầu tư và ngoài cũng sẽ tăng

lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. Thị trường được mở rộng đây chính là

cơ hội tốt cho những doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ, biết tự hồn thiện mình,

khơng ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường. Nhưng nó cũng chính là thách thức đối

với những doanh nghiệp khơng có mục tiêu rõ ràng, khơng có chiến lược hợp lý.

Và ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái, bất ổn định, tâm lý người dân hoang

mang, sức mua của người dân giảm sút, các doanh nghiệp phải giảm sản lượng phải

tìm mọi cách để giữ khách hàng, lợi nhuận doanh số cũng sẽ giảm theo trong lúc đó

sự cạnh tranh trên thị trường lại càng trở nên khốc liệt hơn.

Các yếu tố của nhân tố kinh tế như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát tỷ giá hối

đoái... cũng tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Nhân tố chính trị và pháp luật.

Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ doanh

nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế đặc biệt đối với

các hệ thống fast food chủ yếu tồn tại dưới hình thức nhượng quyền thương

mại(franchise). Chính trị và pháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như

là cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị

trường nào dù là trong nước hay nước ngồi.

Khơng có sự ổn định về chính trị thì sẽ khơng có một nền kinh tế ổn định, phát

triển thực sự lâu dài và lành mạnh. Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếp đến hoạt



26



động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Mỗi thị trường đều có hệ thống pháp

luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là

môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Đặc biệt đối

với từng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan

hệ giữa các chính phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế ... Các doanh nghiệp này cũng

đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt này

có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch chiến lược phát triển,

loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường.

Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một môi

trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ

chức ... trong nền kinh tế. Hơn thế nữa việc nắm bắt cập nhật về chính trị và luật

pháp sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội, đi tắt đón đầu để hoạch định các

chiến lược kinh doanh lâu dài.

Nhân tố xã hội :

Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian nên đơi

khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà bất cứ doanh

nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó . Nhân tố xã hội có

thể bao gồm.

-Lối sống, phong tục, tập qn.

-Thái độ tiêu dùng.

-Trình độ dân trí.

-Ngơn ngữ.

-Tôn giáo.

-Thẩm mỹ...

Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về sản phẩm,

dịch vụ, chúng là những điều mà khơng ai có thể đi ngược lại được nếu muốn tồn tại

trong thị trường đó. Ví dụ như ở những thị trường ln có tư tưởng đề cao các giá trị

truyền thống như Ấn Độ, Nhật Bản hay Trung Quốc thì các sản phẩm ngoại nhập sẽ



27



kém khả năng cạnh tranh so với các Doanh nghiệp của quốc gia đó, và để thâm nhập

thị trường doanh nghiệp đó buộc phải có những sự thay đổi lớn mang tính địa phương

hóa ví dụ như Macdonald mặc dù là một thương hiệu đồ ăn nhanh nổi tiếng toàn cầu

nhưng khi muốn gia nhập thị trường Trung Quốc họ buộc phải có những thay đổi phù

hợp văn hóa của người Trung Quốc như tên thương hiệu chuyển sang ngôn ngữ của

người bản xứ. Sự khác biệt về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm của Doanh nghiệp

khi xuất sang thị trường nước ngồi đó có được thị trường đó chấp nhận hay khơng

cũng như việc liệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp được yêu cầu của thị trường

mới hay khơng. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiếu nghiên cứu kỹ các yếu tố xã hội

tại thị trường mới cũng như thị trường truyền thống để từ đó tiến hành phân đoạn thị

trường, đưa ra được những giải pháp riêng. Đáp ứng thị trường tốt nhất yêu cầu của thị

trường để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nhân tố tự nhiên.

Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc khó

khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh vị trí địa lý thuận lợi ở trung tâm cơng

nghiệp hay gần nhất nguồn ngun liệu, nhân lực trình độ cao, lành nghề hay các

trục đường giao thông quan trọng ... sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển,

giảm được chi phí. Các vấn đề ơ nhiểm mơi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài

ngun thiên nhiên. Cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn

khiến cho xã hội cũng như các doanh nghiệp phải thay đôỉ quyết định và các biên

pháp hoạt động liên quan.

Nhân tố công nghệ.

Khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán bất kỳ một sản phẩm nào được

sản xuất ra cũng đều phải gắn với một công nghệ nhất định. Công nghệ sản xuất đó

sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chi phí cá biệt của từng

doanh nghiệp từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp.

Khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp các doanh nghiệp xử lý thơng tin một

cách chính xác và có hiệu quả nhất trong thời đại hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp



28



nào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền phát

thơng tin một cách chính xác, đầy đú nhanh chóng hiệu quả về thị trường và đối thủ

cạnh tranh. Bên cạnh đó, khó học cơng nghệ tiên tiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở

vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như thị trường

doanh nghiệp nói riêng. Vì vậy, có thể nói rằng khoa học cơng nghệ là tiền đề cho

các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình cũng như có thể tạo ra sự

đột phá cho sản phẩm hay dịch vụ của mình.

1.3.2. Yếu tố môi trường ngành

Môi trường ngành là môi trường bao gồm các doanh nghiệp trong cùng tham

gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Mơi trường ngành còn được hiểu là mơi trường

cạnh tranh của doanh nghiệp sự tác động của môi trường ngành ảnh hưởng tới khả

năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận.

Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người

mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế. Đó là nhân tố

thuộc mơ hình 5 sức mạnh của Michael Porter.



Hình 1.3. Mơ hình cạnh tranh của Michael Porter

(Nguồn:[3], tr 48)



29



Đối thủ cạnh tranh.

Xác định đúng đối thủ cạnh tranh có tầm quan trọng khơng khác gì xác định

đúng khách hàng mục tiêu của mình. Có thể thấy trước hết là đối thủ cạnh tranh

quyết định mức độ cuộc tranh đua để giành lợi thế trong ngành và trên thị trường

nói chung.

Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng

các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp xác định cường độ

cạnh tranh, điểm mạnh điểm yếu của mình so với đối thủ để đưa ra được những giải

pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và tăng thi phần nâng cao khả năng cạnh tranh.

Khách hàng

Câu nói “khách hàng là thương đế” ln luôn đúng đối với mọi doanh nghiệp bất

cứ một doanh nghiệp nào cũng không được quyên rằng khách hàng luôn luôn đúng nếu

họ muốn thành công, chiếm lĩnh thị trường. Những khách hàng mua sản phẩm của một

ngành hay một doanh nghiệp nào đó thì họ có thể làm giảm lợi nhuận của ngành đấy,

của doanh nghiệp đấy bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm hặc dịch vụ cao hơn,

hoặc có thể bằng cách dùng doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp kia.

Vì vậy, trong thực tế khách hàng thường có quyền lực trong các trường hợp sau.

Khi có nhu cầu khách hàng là ít hơn so với lương cung trên thị trường về sản

phẩm nào đó thì họ có quyền quyết định về gía cả.

Các sản phẩm mà khách hàng mua phá tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu của người

mua. Nếu sản phẩm đó chiếm một tỷ trọng hơn trong chi tiêu của người mua thì gía

cả là một vấn đề quan trọng đối với khách hàng đó. Do đó họ sẽ mua với giá có lợi

và sẽ chọn mua những sản phẩm có giá trị thích hợp.

Những sản phẩm mà khách hàng mua trong khi không được cung cấp đầy đủ

về thơng tín và chủng loại, chất lượng, đặc tính, hình thức, kiếu dáng của sản phẩm

thì họ có xu hướng đánh đồng các sản phẩm cùng loại trên thị trường với nhau họ sẽ

có xu hướng thiên về hướng bất lợi cho doanh nghiệp vì họ khơng thể đánh giá

cũng như hiểu chính xác được rõ giá trị của sản phẩm doanh nghiệp sản xuất.

Khách hàng phải chịu chi phí đặt cọc do đó chi phí đặt cọc rõ ràng buộc khách



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.2: Quá trình sáng tạo và phân phối giá trị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×