Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1 : Top các thương hiệu thức ăn nhanh được thảo luận nhều nhất trên social media

Hình 2.1 : Top các thương hiệu thức ăn nhanh được thảo luận nhều nhất trên social media

Tải bản đầy đủ - 0trang

47



Chất lượng sản phẩm của BurgerKing luôn được yêu cầu khắt khe từ khâu

nhập nguyên liệu phải rõ nguồn gốc xuất xứ từ các nhà cung cấp được kiểm định cả

trong và ngoài nước (đa số là các nhà cung cấp nước ngoài như Singapore, Úc...),

phải đạt chuẩn về độ tươi ngon, vệ sinh thực phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm

đông lạnh. Khâu chế biến thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế 12 food safety (rửa tay,

nước nóng, nhiệt độ, nồng độ dung dịch khử trùng, vệ sinh máy kem, hoạt động diệt

côn trùng, nhiễm khuẩn chéo, nhiệt độ thành phẩm, sức khỏe nhân viên, sản phẩm

được phép trong cửa hàng, kiểm soát thời gian của sản phẩm, và một số các vấn đề

vệ sinh khác) để đảm bảo khơng xảy ra sự nhiễm khuẩn trong q trình. Hơn thế

nữa ngoài cơ quan kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương, thì Burger

King cũng kí kết hợp đồng thuê bên thứ 3 để tổ chức các cuộc kiểm tra thường kì

REV nhằm ln nắm bắt được việc tuân thủ tiêu chuẩn vệ sinh của các cửa hàng

trong hệ thống. Những cửa hàng đạt mức điểm thấp hoặc quá thấp (điểm F) sẽ thuộc

diện bị cảnh báo thậm chí đóng cửa.

Phong cách phục vụ bao gồm trang phục, thái độ phục vụ, thái độ với công

việc. Trang phục gồm đồng phục phải đúng quy chuẩn, sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng,

tay ln được khử trùng và đeo găng tay khi tiếp xúc với thưc phẩm, không sơn

móng tay, để móng tay dài q 3mm, khơng đeo các các trang sức có đính đá hoặc

bền mặt khơng phẳng. Thái độ phục vụ luôn chào to rõ ràng khi khách vào cửa, luôn

tươi cười thân thiện, luôn đưa đồ bằng hai tay, nói cảm ơn khi khách thanh toán và

khen ngợi, chúc khách ngon miệng khi đưa đồ ăn, chào tạm biệt hẹn gặp lại khi

khách ra về, ln nhiệt tình và cố gắng đáp ứng những u cầu của khách, đặc biệt

đối với nhân viên bán hàng và quản lý thường xuyên có những cuộc đối thoại với

khách tại bàn ăn ( table touch) để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng thâm chí đơn

giản là thể hiện sự quan tâm với họ. Một trong những điều quan trong trong thái độ

phục vụ là BurgerKing rất chú trọng đào tạo nhân viên là xử lý những phàn nàn của

khách, tại BurgerKing những trường hợp khách phàn nàn tùy theo sự khéo léo của

nhân viên để xử lý nhưng cũng có những nguyên tắc được đặt ra đó là LAST( listen:

lắng nghe khách hàng trước không ngắt đoạn khi họ đang nói, applogize: xin lỗi

khách hàng, satify: giải thích và cố gắng đáp ứng yêu cầu trong khả năng của cửa

hàng, thanks: ln nói cảm ơn khi khách hàng đã góp ý với mình). Thực tế cơng



48



việc này ln đòi hỏi nhân viên và quản lí phải có sự nhanh nhẹn linh hoạt để đưa ra

cách xử lý đúng mực, vì thế quản lý đào tạo thường xuyên có sự ghé thăm cửa hàng

để quan sát thái độ phục vụ của nhân viên từ đó đúc rút ra kinh nghiệm để đề xuất ý

kiến cho nhân viên. Thái độ với công việc tuy không phải là yếu tố tác động trực

tiếp đến chất lượng dịch vụ nhưng lại có tính quyết định tới tới sự nỗ lực và động

lực cho nhân viên làm tốt cơng việc của mình. Đó là lí do quản lý tại Burger King

ln phải thể hiện vai trò" Người truyền lửa ", khơng chỉ qua các cuộc liên hoan các

hoạt động dã ngoại ngoài giờ làm mà tinh thần đó ln được khích lệ trong quá

trình làm việc. Người quản lý là người giúp thành viên trong cửa hàng mình đồn

kết, là người nhận thấy niềm hứng khởi thú vị trong công việc, là người cổ vũ và tạo

khơng khí làm việc thoải mái thì nhân viên mới có thể thực hiện cơng việc một cách

đầy năng lượng từ đó biểu hiện thái độ phục vụ cởi mở vui vẻ nhất.

Có thể nói từ khi vào thị trường Việt Nam đến nay, dù chưa đạt được kì vọng

về mặt doanh số nhưng một điều không thể phủ nhân là Burger King đã dần tạo

dựng được hình ảnh thương hiệu ăn nhanh với chất lượng dịch vụ vượt trội bằng

chứng cụ thể là những con số thống kê mức độ hài lòng của khách hàng sử dụng

dịch vụ của Burger King do chính cơng ty thực hiện khảo sát thơng qua trang web

của mình

Bảng 2.3. Tổng kết đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng của Burger King

Hà Nội 3 tháng đầu năm 2016

Các mức đánh

Rất hài

Hài

Chưa thực Khơng hài Rất khơng

giá

lòng

lòng

sự hài lòng

lòng

hài lòng

BK IPH

47,3%

47,3%

4,9%

0,0%

0,4%

BK TRUNG HỊA

49,3%

44,4%

5,6%

0,0%

0.7%

BK GIẢNG VÕ

39,5%

53,4%

5,5%

1,3%

0,4%

BK

HÀNG

57,5%

28,8%

9,6%

4,1%

0,0%

BUỒM

BK AEON MALL

50,9%

42,3%

6,1%

0,6%

0,0%

BK BỐN MÙA

50,4%

42%

5,3%

2,3%

0,0%

(Nguồn: Báo cáo phân tích ý kiến khách hàng của Burger King Hà Nội- Phụ

lục1)

Có thể thấy số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ tại các cửa hàng của Burger

King Hà Nội đánh giá rất hài lòng và hài lòng về chất lượng dịch vụ chiếm tỉ trọng



49



khá cao từ 70%- 90%. Đây sẽ là ưu thế nổi trội của Burger King so với đối thủ cạnh

tranh trong đường dài và làm lợi thế để Burger King phát triển chiếm lĩnh thị phần

khách hàng thu nhập khá trong tương lai.

2.2.1.4. Giá cả

Giá cả vẫn luôn là điểm kém hấp dẫn của sản phẩm BurgerKing đối với người

tiêu dùng thị trường Việt Nam. Trong 3 thương hiệu điểm đánh giá về giá cả

BurgerKing đạt điểm thấp nhất là 2,1 điểm. Trong khi với mức tiền 50.000- 90.000

VND tại KFC và Pizza Hut khách hàng có thể mua một phần ăn khá đầy đủ cho 1

người hay một phần gà cho hai người thì tại BurgerKing giá của một chiếc bánh

burger trong phần ăn chính, cỡ nhỏ có giá thấp nhất 50-60.000VND một mức giá

khá xa xỉ đối với người tiêu dùng Việt Nam cho một chiếc bánh. Bên cạnh đó giá cả

là yếu tố rất khó thay đổi khi mà hiện tại hầu hết các nguyên liệu chính để tạo thành

sản phẩm tại BurgerKing hiện nay đều là nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngồi, tỉ lệ

nội địa hóa thành phẩm nguyên liệu của BurgerKing khá thấp so với KFC (tỉ lệ nội

địa hóa khoảng 30%) và Pizza Hut. Đây cũng là một trong những lý do BurgerKing

phải đối mặt với khó khăn khi muốn tiếp cận nhiều khách hàng tại thị trường Việt

Nam.

2.2.1.5. Sự đa dạng hóa của các sản phẩm

Đây lại là một điểm chưa hoàn thiện của Burger King, khi gia nhập thị trường

Việt Nam Burger King còn khá bảo thủ khi kiên quyết giữ nguyên khẩu vị cũng như

thực đơn truyền thống, tập trung chủ đạo với món bánh bò WHOPPER đã tạo nên

tên tuổi thương hiệu của họ trên toàn cầu. Tuy nhiên sự khác biệt về văn hóa và thói

quen sở thích trong ăn uống của người tiêu dùng Việt Nam khiến Burger King gặp

nhiều khó khăn trong việc thay đổi khẩu vị của khách hàng. . Nếu như KFC là

thương hiệu đồ ăn chuyên về món gà rán thì họ đã khéo léo kết hợp món gà chiên

với món cơm của người á đơng, kèm thêm các món súp và rau trộn giảm bớt vị dầu

mỡ của gà rán, hay sử dụng một số gia vị kích thích vị giác của khách hàng như tiêu

ớt làm tăng hương vị cho sản phẩm,.... Những biến đổi đó thực sự hiệu quả trong

việc thu hút làm hài lòng nhiều khách hàng người Việt. Trong khi đó, sản phẩm của



50



BurgerKing là bánh nhân thịt bò rất khó tạo sự thích ứng khẩu vị với người Việt vốn

quen sử dụng cơm trong các bữa ăn chính. Hơn thế nữa, thực đơn của Burger King

cũng bị đánh giá là khá nghèo nàn, ít sự lựa chọn chưa thỏa mãn yêu cầu đa dạng

của các khách hàng đặc biệt là khách hàng gia đình, trẻ em, nhóm bạn và giá cả lại

khơng hề nhỏ, trung bình một chiếc bánh có giá từ 40-100 nghìn đồng, dường như

là quá xa xỉ so với thu nhập hiện tại của người tiêu dùng Việt Nam.

Hiện nay Burger King đã có sự thay đổi trong việc đưa ra nhiều sản phẩm đi

kèm hơn như đã có thực đơn các món cơm với các loại nước sốt đặc biệt, các sản

phẩm bánh đã đa dạng về thành phần ngồi bánh burger bò truyền thống còn có

nhân gà và hải sản , các sản phẩm đi kèm đã phong phú hơn như món cánh gà( BBQ

wing), gà khơng xương( nuggest), gà giòn cay (flaming)... và món tráng miệng kem

ly, ốc quế nhiều hương vị hấp dẫn. Sự cải thiện về sản phẩm này được coi là bước

tiến lớn đối với Burger King tại Việt Nam nhưng vẫn còn khá khiêm tốn so với các

đối thủ cạnh tranh, đòi hỏi trong tương lại thương hiệu cần có nhiều sự sáng tạo để

thu hút khách hàng hơn.

2.2.1.6 Mạng lưới cung ứng dịch vụ

Đối với ngành dịch vụ nói chung kênh phân phối vơ cùng quan trong vì nó đáp

ứng được những tiêu chí trong việc gia tăng chất lương dịch vụ đó là sự thuận tiện,

thời gian đơi khi là cả chất lượng sản phẩm. Việc sở hữu nhiều đơn vị phân phối

thuận lợi sẽ tạo lợi thế cạnh tranh lớn trong việc giành thị phần trên thị trường,

thương hiệu có càng nhiều mặt bằng cửa hàng đẹp sẽ càng thu hút sự quan tâm của

người tiêu dùng, tăng khả năng nhận diên hệ thống thương hiệu trong tâm trí khách

hàng, điều đó đồng nghĩa với việc khẳng định sự phổ biến của thương hiệu đó cũng

như khả năng cung ứng dịch vụ của họ. Burger King nhận thức rõ tầm quan trọng

của việc sở hữu mạng lưới phân phối thể hiện ở chiến lược kinh doanh từ khi họ

tham gia thị trường năm 2012, bà Lê Hồng Thủy Tiên, TGĐ Công ty TNHH Dịch

vụ Thực phẩm và Giải khát Cánh Diều Xanh (BKV) - đơn vị mua nhượng quyền

Burger King tại Việt Nam từng cho biết: “Kế hoạch tiếp cận của Burger King là sẽ

phát triển nhanh nhất các vị trí đắc địa và trải rộng khắp các tỉnh thành trong cả



51



nước để người tiêu dùng dễ nhận diện và tiếp cận". Ông Nguyễn Hải – Giám đốc

điều hành BKV, cũng từng đánh giá tốc độ mỗi tháng mở thêm 3 – 4 cửa hàng [12].

Tuy nhiện thực tế theo số liệu trên website chính thức thời điểm hiện tại, Burger

King chỉ có 17 cửa hàng tại Việt Nam. Hiện nay tại thị trường Hà Nội, Burger King

mới sở hữu 6 cửa hàng sau khi đã đóng cửa Burger King tại 125 Lò Đúc, một con

số khá khiêm tốn so sánh với 34 cửa hàng của KFC và 11 cửa hàng của Pizza Hut .

Dù hiện nay, chiến lược kinh doanh của Burger King có sự thay đổi khi không thực

hiện kế hoạch cố gắng bao phủ thị trường, tuy nhiên với tập khách hàng mục tiêu là

đối tượng có thu nhập cao và người nước ngồi sinh sống, du lịch ở Việt Nam thì có

thể thấy Burger King vẫn còn bỏ ngỏ nhiều khu vực địa điểm tiềm năng như Tây

Hồ, các khu vực gần các đại sứ quán, khu dân cư cao cấp như Keangnam, Royal

city,….

2.2.1.7. Công nghệ

Là thương hiệu đồ ăn nhanh nổi tiếng trên thế giới về chất lượng sản phẩm và

dịch vụ vì thế BurgerKing rât chú trọng về áp dụng các thiết bị máy móc hiện đại để

đảm bảo chất lượng hàng hóa và sản phẩm đặc biệt các thiết bị như kho lạnh, tủ

đông, thiết bị giữ nhiệt (PHU, heatchute..), lò nướng, lò chiên, lò nướng bò, các

thiết bị lọc dầu, lau dọn máy móc theo đúng tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn. Các thiết

bị thường xuyên được lau dọn bảo trì bảo dưỡng bởi đội ngũ kĩ thuật thường trực và

kĩ thuật từ các đối tác cung cấp thiết bị. Điều đó giúp máy móc của các cửa hàng

luôn được chăm chút, sửa chữa kịp thời đảm bảo tạo ra các sản phẩm chất lượng,

tiết kiệm thời gian chi phí.

Ngồi ra cơng nghệ thơng tin cũng là yếu tố được chú trọng đầu tư, các hoạt

động BurgerKing được hệ thống hóa thơng qua các tác nghiệp trên máy tính, từ việc

lập báo cáo, phân tích, đề xuất kế hoạch, trao đổi thông tin hiệu quả qua mạng nội

bộ. Cập nhật việc nhập xuất hàng hóa, cân đối lượng bán hàng để kiểm sốt hàng

hóa đồng thời tạo nguồn thơng tin chính xác cho các bộ phận thu mua, kế toán hoạt

động hiệu quả. Hơn thế nữa BurgerKing đang tích cực đẩy mạnh việc marketing

online thơng qua các trang mạng xã hội, khảo sát trực tuyến, nhận ý kiến khách



52



hàng thơng qua trang web riêng của mình từ đó thu thập thơng tin phản hồi của

khách hàng để có sự điều chỉnh phù hợp về sản phẩm và dịch vụ cũng như nắm bắt

nguyện vọng nhu cầu của khách hàng.

2.2.1.8. Nguồn nhân lực

Qua khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ có thể nhận thấy các yếu tố

như thái độ phục vụ, khả năng giải quyết phàn nàn của khách hàng của BurgerKing

được đánh giá rất cao so với các thương hiệu đối thủ cạnh tranh. Một trong những

nhân tố quan trọng góp phần tạo dựng thành cơng đó chính là đội ngũ nhân viên tại

hệ thống các cửa hàng của BurgerKing. Cũng giống như các thương hiệu đồ ăn

nhanh khác, nhân viên tại BurgerKing hầu hết còn ở độ tuổi rất trẻ, dù là những

sinh viên còn trên ghế nhà trường, hay những bạn trẻ lựa chọn con đường tự lập

sớm thì ở BurgerKing mọi nhân viên đều có cơ hội bình đẳng để phát huy năng lực

của mình cũng như cơ hội để học hỏi nhiều kinh nghiệm và thăng tiến trong sự

nghiệp. BurgerKing luôn tạo môi trường làm việc thoải mái, cởi mở để nhân viên có

cơ hội giao lưu học hỏi và nắm bắt cơng việc nhanh nhất. Các khóa đào tạo về

nghiệp vụ kĩ thuật, nghiệp vụ bán hàng, quản lý liên tục được đan xen vào quá trình

làm việc để giúp nhân viên có cơ sở kiến thức tồn diện về những kĩ năng trong

công việc như các hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh, cách sử dụng máy móc, cách bán

hàng, cách giao tiếp và xử lý phàn nàn của khách hàng. Mỗi lớp đào tạo ln có sự

kết hợp giữa lý thuyết và thực hành ngay tại cửa hàng với sự hỗ trợ và làm mẫu của

chính người quản lý đào tạo.

Quá trình làm việc của từng nhân viên sẽ được quản lý theo dõi đánh giá để

báo cáo, đề xuất thăng tiến về chức vụ từ nhân viên lên teamleader, shift-sup nhằm

tạo động lực thúc đẩy tinh thần nỗ lực cũng như thể hiện sự ghi nhận cống hiến và

phấn đấu của những nhân viên có năng lực. Thời gian để phấn đấu lên các vị trí cao

khơng bị bó hẹp, đơi khi nhân viên có biểu hiện năng lực tốt và sẵn sàng đảm nhận

vị trí mới cũng như vượt qua các bài kiểm tra chun mơn thì có thể chỉ sau 3 tháng

làm việc, nhân viên mới đã có cơ hội thăng chức. Đây là yếu tố thu hút nhân lực của

BurgerKing khá hiệu quả, khi mà cơ hội thăng tiến tại các thương hiệu như KFC,



53



Pizza Hut là tương đối khó khăn (6 tháng- 1 năm). Bên cạnh đó, các quản lý cửa

hàng, quản lý vùng, quản lý khu vực miền Bắc thường xuyên có những lần ghé

thăm các cửa hàng ngoài thực hiện trách nhiệm kiểm tra giám sát, các quản lý cấp

cao luôn tỏ ra hòa đồng, gần gũi với nhân viên, ghi nhận những ý kiến khó khăn của

các cửa hàng, đồng thời có thể trực tiếp chỉ dẫn chia sẻ kinh nghiệm khi giao tiếp,

hỏi thăm khách hàng. Vơ hình chung, nhân viên không chỉ học hỏi kinh nghiệm một

cách trực quan nhất mà còn tạo sự gắn kết, tương tác với quản lý của mình. Đây

chính là cơ sở tạo nên văn hóa tập thể vững mạnh.

2.2.1.9. Danh tiếng, uy tín thương hiệu và khả năng kết hợp chuỗi

Danh tiếng, uy tín thương hiệu

Theo xếp hạng về doanh thu trong ngành đồ ăn nhanh thì Burger King đứng

thứ 2 chỉ sau đối thủ cạnh tranh truyền thống là Mardonald, do đó khơng thể phủ

nhận BurgerKing là một tên tuổi lớn so với các thương hiệu khác trong ngành như

KFC, Lotteria. Tuy nhiện một thực tế trái ngược hiện nay tại Việt Nam thì

BurgerKing lại khơng được nhiều người tiêu dùng biết tới bằng hai thương hiệu kể

trên. Nguyên nhân cho việc Burger King – thương hiệu lớn bị bỏ sót là kết hợp của

nhiều nguyên nhân bao gồm quảng bá không hiệu quả, mức giá còn rất cao so với thu

nhập bình qn, hương vị khơng hợp… như những phân tích ở trên. Nhưng có một

ngun nhân mang tính xã hội gây trở ngại và khó khăn khiến BurgerKing phải vượt

qua đó là quan điểm tiêu dùng của người Việt Nam. Nếu như các thị trường khác ở

châu Âu, Châu Mỹ hay gần hơn là các nước châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn

Quốc…đều là những quốc gia người dân có mức sống tương đối cao, ổn đinh, người

tiêu dùng có thái độ và tiêu chuẩn khá khắt khe về chất lượng sản phẩm họ sẽ có xu

hướng lựa chọn thương hiệu có uy tín cao hơn là quan tâm đến yếu tố giá cả đặc biệt là

các sản phẩm thực phẩm, do đó BurgerKing khá dễ dàng tạo chỗ đứng tại các thị

trường này khi danh tiếng của họ đã đảm bảo mức chất lượng độ an toàn về sản phẩm, .

Nhưng tại Việt Nam, quan điểm tiêu dùng lại luôn đặt yếu tố giá cả lên hàng đầu, đại

bộ phận người dân Việt Nam mức thu nhập còn khiêm tốn vì thế dù biết yếu tố an tồn

thực phẩm rất quan trọng nhưng nhận thức tiêu dùng chưa thể và cũng chưa có điều



54



kiện để khiến họ sẵn sàng chi trả nhiều tiền hơn cho sản phẩm đảm bảo an tồn vệ sinh

hơn. Đó là lý do khiến Burger King dù có danh tiếng cao về chất lương sản phẩm

nhưng vẫn khá mờ nhạt so với các thương hiệu ăn nhanh tại Việt Nam như KFC,

Lotteria…

Khả năng kết hợp chuỗi

Chuỗi liên kết bên trong

Chuỗi giá trị bên trong của thực phẩm ăn nhanh cũng phân ra thành các hoạt

động chính và hoạt động bổ trợ như các ngành dịch vụ khác. Tại Burger King hoạt

động chính từ khâu nhập nguyên liệu, chế biến sản phẩm và đến cuối cùng bán sản

phẩm đều được thực hiện chuẩn hóa thành một quá trình chuyên nghiệp. Tại mỗi

hoạt động trong dây chuyền đó đều hình thành các tiêu chuẩn khắt khe để đảm bảo

hoạt động tối ưu hiệu quả, nhằm đưa ra các sản phẩm có chất lượng. Các nhân viên

của cửa hàng đều phải đảm bảo được trang bị kiến thức đầy đủ về các tiêu chuẩn đó



Nhập ngun liệu

(hàng đơng, hàng

khô, hàng rau củ)



Chế biến (quầy nướng,

quầy chiên, quầy làm

bánh)



Bán hàng và

thanh tốn



Khâu nhập ngun liệu: Gồm hàng khơ và hàng đông, các loại rau củ quả đều đề

ra các tiêu chuẩn về độ tươi sạch thông qua các chỉ tiêu về màu sắc, độ chín, kích cỡ ví

dụ như cà chua đạt tiêu chuẩn có màu sắc từ level 3- level 5 (màu đỏ tươi), kích thước

lát cà chua từ 2,25 inches- 2,75 inches, các thùng hàng khô chú ý đến hạn sử dụng, bao

bì đóng gói khơng bị dập nát, hàng đơng ngồi hạn sử dụng phải kiểm tra hàng hóa có

dấu hiệu bị giã đơng hoặc bị đóng đá bên ngồi hay khơng. Khi nhập hàng hóa đều

phải xếp hàng theo các tiêu chuẩn kĩ thuật như cách trần 8 inches, cách sàn 6 inches và

cách tường 2 inches, tối đa chỉ được xếp 5 thùng hàng chồng nhau. Đối với hàng đông

trữ lạnh phải đảm bảo nhiệt độ 0ᵒ± 10ᵒF, và dưới sàn và hai bên tủ phải có giá để tạo độ

thơng thống cho hơi lạnh tỏa đều giúp các phần của sản phẩm giữ đông đều. Các sản

phâm đều phải được ghi hạn sử dụng theo nguyên tắc FIFO (first-in, first-out) để đảm



55



bảo hàng hóa được kiểm sốt sử dung đúng thời hạn cũng như nhận biết sản phẩm cần

tiêu hủy khi hết hạn. Quản lí sẽ thơng qua báo cáo đếm hàng hàng ngày để cập nhật

lượng hàng hóa nhập và còn lại sau mỗi ngày, qua đó có sự so sánh với hàng hóa bán ra

trên hệ thống nhằm kiểm sốt hàng hóa chặt chẽ.

Khâu chế biến :Để đảm bảo cung cấp sản phẩm nhanh và chất lượng các vị trí

chế biến phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn. Mỗi khu vực đều có tờ cập nhật chuẩn bị

đồ tại các khung giờ để nhân viên luôn đảm bảo nguyên liệu được sẵn sàng, cung

ứng sản phẩm nhanh nhất thơm ngon nhất cho khách hàng. Tại khu vực chế biến

thực phẩm được chuẩn hóa theo trọng lượng nhằm giúp quản lý có thể tính tốn

tương đối lượng hàng hóa chế biến ví dụ như khối lượng khoai mỗi rổ chiên tại thời

điểm vắng khách là 1/6 túi khoai, đông khách là 1/4 túi khoai, trọng lượng mỗi kích

cỡ khoai khi trở thành thành phẩm là L (lớn) 141gr, M (vừa) 111 gr, S (nhỏ) 74gr.

Trọng lượng các thành phần bánh đặc biệt là bánh WHOPPER được thương hiệu

đăng kí bản quyền về công thức như trọng lượng sốt, rau trong bánh đều có quy

định chuẩn để đảm bảo chất lượng. Nhiệt độ sản phẩm sau chiên, nướng và nhiệt độ

phục vụ đều phải được kiểm tra nghiêm ngặt bởi quản lí thơng qua các thiết bị đo

nhiệt độ và được cập nhật vào sổ theo dõi.

Khâu bán hàng:Bán hàng chủ yếu phụ thuộc nhiều vào điểm tiếp xúc là nhân

viên, nhân viên quầy bán hàng không chỉ đơn thuần là nhận yêu cầu từ khách và

tính tiền mà họ còn được trang bị những kĩ năng mềm nhằm xử lý các tình huống

phàn nàn từ khách. Khu vực bán hàng cũng cần có sự phối hợp với các khu vực

khác trong khu vực chế biến để thực hiện thao tác nhanh chính xác, đồng thời phải

có sự điều chỉnh gợi ý phù hợp để giúp hỗ trợ hàng hóa ln được lưu thơng, giảm

tình trạng bị dư thừa sản phẩm, hay để sản phẩm quá hạn ví dụ khi khu vực chế biến

phát hiện hàng hóa nào đã sử dụng hết sẽ lập tức thơng báo cho quầy thanh tốn chú

ý, hay khi khu vực chế biến stand by (chuẩn bị đồ) dư thừa cũng sẽ thơng tin u

cầu quầy thanh tốn cố gắng gợi ý khách hàng sử dụng sản phẩm đó tránh tình trạng

hết thời gian dự trữ.

Có thể thấy BurgerKing đã tạo dựng cho mình một quy trình hoạt động đạt



56



tiêu chuẩn chính xác cao, mỗi bộ phận khơng chỉ quan tâm đến chức năng nhiệm vụ

của mình mà đều phải đòi hỏi sự kết hợp trao đổi thơng tin và hỗ trợ nhau trong quá

trình cung ứng sản phẩm. Q trình đó càng hiệu quả sẽ càng giúp hệ thống giảm

chi phí loại bỏ sản phẩm, tăng tốc độ cung ứng dịch vụ nhanh chóng , tăng khả năng

thỏa mãn yêu cầu khách hàng.

Bên cạnh các hoạt động chính trong chuỗi giá trị khơng thể khơng nhắc tới các

hoạt động hỗ trợ giúp hoạt động của các cửa hàng trong hệ thống có thể thực hiện

xuyên suốt. Có thể kể đến hai bộ phận mà nhiệm vụ và chức năng có sự ảnh hưởng

lớn tới việc vân hành các cửa hàng đó là bộ phận thu mua và bộ phận marketing.

Bộ phận mua hàng của BurgerKing: Được tích hợp trong phòng nhân sự, nhân

sự đảm trách thu mua tại Hà Nội tương đối hạn chế vì thế để điều phối hàng hóa cho

tồn bộ khu vực Hà Nội là một thách thức lớn. Tuy nhiên dù nhân lực khiêm tốn

nhưng bộ phận mua hàng đã thực hiện tương đối tốt trách nhiệm của mình, vì hàng

hóa chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngồi do các cơng ty trong thành phố Hồ Chí

Minh phân phối do đó thu mua ngồi Hà Nội ln phải lên kế hoạch đặt hàng theo

giai đoạn nhất định hàng tháng tập trung tại kho ở Hà Nội. Việc đơn hàng được tính

tốn càng chính xác sẽ giúp giảm chi phí như vận tải, đặc biệt đáp ứng nhu cầu hàng

hóa của các cửa hàng, tránh tình trạng hàng hóa thiếu hụt. Sự chính xác trong đặt

hàng thể hiện sự phối hợp giữa cửa hàng và phòng thu mua, thơng qua các báo cáo

phân tích so sánh doanh số giữa các tuần và các tháng, cửa hàng sẽ ước lượng lượng

hàng hóa cần thiết để hoạt động kinh doanh, phòng thu mua sẽ tổng hợp báo cáo đó

để lên dự định mua hàng cho cả hệ thống trong một tháng.

Bộ phận marketing: Mặc dù là mắt xích quan trọng trong việc thúc đẩy bán hàng

nhưng tại khu vực Hà Nội các hoạt động marketing đều được chỉ đạo bởi bộ phận

marketing tại thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó đã gây nhiều trở ngại và khó khăn cho

hoạt động các cửa hàng ngồi Hà Nội, cũng như là nguyên nhân chính dẫn tới sự kém

hiệu quả khi xây dựng các chương trình xúc tiến tới thị trường ở đây. Sự bất cập đến từ

việc, các thông tin thị trường như khảo sát điểm bán, nhu cầu người tiêu dùng tại Hà

Nội lại chủ yếu do các quản lý khu vực thông qua các yếu tố chủ quan để đánh giá và



57



đưa ra ý kiến, nên thiếu đi sự chuyên sâu và độ chính xác khơng cao. Các chương trình

marketing được xây dựng mang tính khái quát chung cho cả hai khu vực Nam- Bắc mà

khơng tính đến những khác biệt về sở thích đặc điểm tiêu dùng của hai thị trường. Hơn

thế nữa tại Burger King Hà Nội thường xuyên xảy ra tình trạng các thơng tin về

chương trình khuyến mại đều được thơng báo chậm ảnh hưởng đến việc mua hàng hóa,

đặt in ấn tờ rơi poster quảng cáo dẫn tới nhiều chương trình khuyến mại dù đã được

thơng tin rầm rộ trên website, mạng xã hội nhưng tại các cửa hàng lại không thể áp

dụng gây nhiều phản ứng thắc mắc đối với khách hàng. Điều đó tạo ra hình ảnh thiếu

chun nghiệp trong mắt khách hàng cũng như khiến các tác nghiệp trong chuỗi rơi

vào tình trạng lúng túng.

Liên kết chuỗi bên ngoài

Nhà cung cấp (nguyên

liệu chế biến, vận tải,

kho, thiết bị máy móc, tổ

chức sự kiện…)



Burger King



Khách hàng( khách

du lich, người nước

ngồi ở Việt Nam,

du học sinh, gia đình

thu nhập cao…)



Là một thương hiệu ăn nhanh nổi tiếng và có tiềm lực tài chính hùng hậu nên

Burger King đòi hỏi rất khắt khe đối với các đối tác hợp tác đặc biệt trong hoạt động

cung ứng nguyên liệu chế biến. Các sản phẩm đông lạnh như cá, gà, tôm được nhập từ

các nước phát triên trong Đông Nam Á như Malaysia, Singapore..., sản phẩm bò được

nhập khẩu từ nhà cung cấp từ Úc, các loại nước sốt một số được nhập từ các công ty

xuất nhập khẩu tại Việt nam như công ty TNHH YILIN, một số từ các thương hiệu nổi

tiếng như HEINZ. Các sản phẩm như vỏ bánh, bao bì, giấy ăn, rau quả Burger King

nhập từ các nhà cung cấp tại Việt Nam với tiêu chuẩn rất khắt khe, và được sự kiểm

định của công ty mẹ như công ty Tân Phát( giấy ăn, ly tương, dao dĩa, thìa), cơng ty

Ánh Dương ( rau củ)...

Bên cạnh đó để tạo sự thông suốt liền mạch trong hoạt động kinh doanh, từ các

cửa hàng trong hệ thống đên bộ phận thu mua của doanh nghiệp luôn sát sao trong việc

kiểm sốt và cung cấp các thơng tin chính xác nhất về đơn hàng để tạo điều kiên thuận



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1 : Top các thương hiệu thức ăn nhanh được thảo luận nhều nhất trên social media

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×