Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



Ngồi ra, trong giáo trình Quản trị dự án, Ths. Phan Thùy Dương, Ths. Bùi

Minh Lý đồng chủ biên (2015) còn đưa ra một số cách tiếp cận về dự án như:

Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời

gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm mục tiêu là đạt được một kết quả

duy nhất, nhưng được xác định rõ

Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một

dịch vụ duy nhất.

Dự án là một tổng thể các chính sách, các hoạt đơng và các chi phí liên quan

với nhau được hoạch định nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thời gian

nhất định.

Từ những cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu Dự án là một tập hợp các hoạt

động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với

những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được

những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án

hướng đến.

1.1.2



. Khái niệm dự án ODA



a. Khái niệm ODA



Cho đến nay chưa có định nghĩa hồn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt

giữa các định nghĩa khơng nhiều, có thể thấy điều này qua một số ý kiến sau:

Theo PGS. TS Nguyễn Quang Thái (2010), Hỗ trợ phát triển chính thức

ODA là các khoản viện trợ khơng hồn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi

suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ

chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ khơng

hồn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngồi, với phần viện trợ khơng

hồn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ODA có các đặc điểm chính đó là:

Do chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ quan chính



17



thức của một nước; khơng cấp cho những chương trình dự án mang tính chất

thương mại, mà chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó

khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ; tính

ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay.

Q trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang

và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế trong quy mơ nền kinh tế còn nhỏ bé của mình. Phía còn lại

cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện

trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho họat động của các cơng

ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ.

Mặt khác việnh trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là

sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng cường thúc

đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức

quốc tế với các quốc gia.

Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức – ODA (Official Development

Assistance) là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ)

cho các nước đang và kém phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài

chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của

các nước này.

b. Khái niệm dự án ODA



Dự án sử dụng nguồn vốn ODA gọi tắt là dự án ODA: Dự án ODA là dự án hỗ

trợ phát triển chính thức, là các dự án thuộc khuôn khổ hoạt động hoạt động phát triển

của chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nhà tài trợ.

Nguồn vốn: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn thực hiện dự án ODA là do

các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ. Cơ chế tài chính

trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toàn bộ/một phần) từ

ngân sách Nhà nước. Các dự án ODA thường có vốn đối ứng là khoản đóng góp của

phía các nước sở tại bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiện các chương



18



trình, dự án (có thể dưới dạng tiền đuợc cấp từ ngân sách hoặc nhân lực, cơ sở vật

chất). Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự án ODA với với các dự án

khác; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý về quản lý và thực hiện

của nhà đầu tư và nhà tài trợ.

Tính tạm thời của dự án vốn ODA: Tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA

có khởi điểm và kết thúc xác định. Dự án không phải là loại công việc hàng ngày,

thường tiếp diễn, lặp đi lặp lại theo quy trình có sẵn. Dự án có thể thực hiện trong

một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài trong nhiều năm. Về mặt nhân sự, dự án

khơng có nhân cơng cố định, họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian

nhất định (một phần hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án). Khi dự án kết thúc,

các cán bộ dự án có thể phải chuyển sang/tìm kiếm một cơng việc/hợp đồng mới.

Tính duy nhất: mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự án ODA

phải đối mặt với những vấn đề về nguồn lực, môi trường và khó khăn khác nhau.

Hơn thế nữa, ở mức độ nhất định, mỗi dự án đem lại các sản phẩm, dịch vụ “duy

nhất”, khơng giống hồn tồn với bất kỳ dự án nào khác. Hơn thế nữa, cần phải

phân tích thật kỹ lưỡng cũng như có kế hoạch chi tiết trước khi bắt đầu thực hiện.

Tính giới hạn: Mỗi dự án ODA được thực hiện trong một khoảng thời gian, nguồn

lực và kinh phí nhất định. Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhu cầu, tài

chính, nguồn lực và lịch trình để hồn thành dự án, đảm bảo yêu cầu của nhà đầu tư

và nhà tài trợ.

1.1.3



. Khái niệm quản lý dự án ODA



a. Khái niệm về quản lý dự án



Có khá nhiều khái niệm khác nhau về quản lý dự án:

Quản lý dự án là ứng dụng những kiến thức, kỹ năng, các công cụ và các kỹ

thuật vào các hoạt động dự án đê đáp ứng yêu cầu của dự án

Quản lý dự án là tiến trình phối hợp mọi thứ cần thực hiện để thúc đẩy hoạt

động của dự án tiến triển xuyên suốt chu kỳ hoạt động của nó nhằm mục tiêu đề ra.

Quản lý dự án là tiến trình quản lý và định hướng những nỗ lực và nguồn lực



19



để hoàn thành một dự án đặc biệt theo trình tự có hiệu quả đáp ứng những mục tiêu

của dự án và sự thỏa mãn của những người liên quan đến dự án.

Có thể thấy, dù quản lý dự án được tiếp cận theo khái niệm nào chăng nữa thì

cũng bao gồm những khía cạnh cơ bản như: xác định mục tiêu của dự án, xác định

nguồn lực, đánh giá các rủi ro, theo dõi, động viên, phối hợp, bàn giao. Vì thế có thể

tổng hợp lại: Quản lý dự án là tổng hợp những hoạt động liên quan đến việc xác

định dự án, phân tích và lập dự án, triển khai dự án, nghiệm thu và tổng kết dự án

nhằm đáp ứng mục tiêu của ban quản lý dự án, nhà tài trợ và các bên liên quan.

Như vậy, quản lý dự án là hoạt động đặc thù mang tính khách quan, trong đó

phản ánh tồn bộ chức năng quản trị như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm sốt.

Trong khn khổ tài liệu này Quản lý dự án ODA là tổng hợp các hoạt động

quản lý liên quan đến việc xác định dự án, phân tích và lập dự án, triển khai dự án,

nghiệm thu và tổng kêt dự án nhằm đáp ứng một mục tiêu chuyên biệt và quan đó

thực hiện mục tiêu chung của dự án.

b. Khái niệm Ban quản lý dự án



Theo thông tư Số: 11-BXD/VKT ngày ngày 05 tháng 4 năm 1993 của Bộ

Xây dựng Việt Nam. Ban Quản lý dự án (trước đây gọi là ban kiến thiết, ban quản

lý cơng trình) là một tổ chức sự nghiệp có tư cách pháp nhân, đại diện chủ đầu tư

thực hiện nhiệm vụ quản lý xây dựng cơng trình XDCB trong phạm vi nhiệm vụ,

quyền hạn và trách nhiệm được giao.

Theo khoản 1 điều 4 thông tư Số: 16/2016/TT-BXD ngày 30 tháng 06 năm

2016 của Bộ Xây dựng thì Ban QLDA là tổ chức sự nghiệp cơng lập, hoạt động

theo cơ chế tự chủ về tài chính, tự bảo đảm chi thường xuyên theo quy định của

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Quy định cơ chế tự

chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

Ban quản lý dự án là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủ đầu tư, có tư cách

pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà

nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự



20



án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt

động quản lý dự án của mình.

1.1.4



. Nhân lực quản lý dự án ODA



 Nhân lực quản lý:



Nhân lực quản lý là những người chịu trách nhiệm, thực hiện nội dung công

việc cần quản lý hay nói khác đi nhân lực quản lý là người được trao trách nhiệm

phân công, tổ chức, phối hợp hoạt động của những người dưới quyền. Nhân lực

quản lý có vai trò rất quan trọng trong q trình hoạt động của tổ chức, doanh

nghiệp vì người quản lý đứng đầu một đơn vị, bộ phận cho nên người quản lý tốt thì

hoạt động của đơn vị, bộ phận đó tốt và ngược lại.

Nhân lực quản lý được chia làm 3 cấp: Nhà quản lý cấp cao, nhà quản lý cấp

trung, nhà quản lý cấp cơ sở.

Nhà quản lý cấp cao: bao gồm giám đốc, các phó giám đốc phụ trách từng

phần việc, chịu trách nhiệm về xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động và phát

triển của tổ chức.

Nhà quản lý cấp trung: trưởng phòng, quản đốc phân xưởng trong doanh

nghiệp sản xuất, cửa hàng trưởng trong cửa hàng, trung tâm thương mại… Với

nhiệm vụ đưa ra các quyết định chiến thuật để thực hiện kế hoạch và chính sách của

tổ chức.

Nhà quản lý cấp cơ sở bao gồm tổ trưởng, nhóm trưởng… có nhiệm vụ

hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển công nhân trong công việc hàng ngày.

 Nhân lực quản lý dự án ODA:



Trong hoạt động dự án nói chung và cơng tác quản lý dự án ODA nói riêng

cần xác định những người tham gia, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa

họ, trình tự thời gian và điều kiện họ sẽ tham gia dự án.

Nhân lực quản lý dự án ODA là những người tham gia trực tiếp vào công

tác quản lý dự án ODA (nên còn được gọi là cán bộ quản lý dự án) và giữ vai trò

quan trọng trong cơ cấu tổ chức dự án, là một trong những yếu tố quyết định sự

thành công hay thất bại của dự án ODA.



21



Tùy theo cách tiếp cận khác nhau về quản lý dự án có thể phân cấp các

cương vị chủ chốt như sau:

a. Theo mức phân cấp quyết định

Theo mức phân cấp quyết định, người ta chia các cương vị chủ chốt của dự

án thành bốn cấp:

Cấp cao nhất quyết định về sách lược (Chính phủ, UBND các cấp…)

Chủ đầu tư cơng trình dự án (quyết định chiến lược). Chủ đầu tư cơng trình có

thể là cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân, là chủ cơng trình dự án, chịu trách

nhiệm về quyết định chiến lược, là người thiết kế dự án, xác định mục tiêu kinh phí và

thời hạn của dự án. Là người đề ra chương trình kế hoạch thực hiện dự án-chủ cơng

trình có thể giao tồn bộ hay một phần chương trình đó cho chủ điều hành

Chủ nhiệm dự án (quyết định điều hành): Chủ nhiệm dự án giải quyết các

vấn đề chủ cơng trình đã ủy nhiệm , động viên và quản lý ê kíp để thực hiện chương

trình dự án. Chủ điều hành có thể là một người hoặc một cơng ty. Cơng ty này có

thể giao từng phần hoặc cụ thể cho các chủ thầu.

Chủ thầu (quyết định tác nghiệp)

b. Theo mức phân cấp hay bao quát trong quản trị dự án (dựa theo khái niệm

quản trị dự án) có hai cấp là người quản lý dự án (hay chủ nhiệm dự án) và các nhà

quản trị chức năng.

Chủ nhiệm dự án là nhà quản trị tổng hợp, chịu trách nhiệm chung về toàn

bộ dự án, là người hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm soát dự án theo sự ủy

nhiệm, ủy quyền của chủ đầu tư cơng trình. Chủ nhiệm dự án giao từng việc cụ thể

cho nhà quản trị bộ phận (chức năng) như quản trị công nghệ, kỹ thuật, quản trị

công cụ, phương tiện, quản trị nhân lực, quản trị rủi ro. Để có thể thực hiện tốt

nhiệm vụ của một chủ nhiệm dự án đặc biệt là dự án ODA đòi hỏi người chủ nhiệm

dự án phải có kiến thức về chun mơn nghiệp vụ và kiến thức về lập kế hoạch,

triển khai, kiểm soát dự án trên tất cả các phương diện khác nhau như: nhân lực,

thời gian/ tiến độ thực hiện, chi phí, đấu thầu, lựa chọn đối tác triển khai, tư vấn,



22



thông tin, mơi trường, rủi ro… trong q trình thực hiện dự án. Ngồi vấn đề về

kiến thức thì kỹ năng là yếu tố thứ hai thể hiện năng lực của chủ nhiệm dự án, Chủ

nhiệm dự án phải có kỹ năng giao tiếp tốt, có kỹ năng đàm phán và phối hợp với

các đối tác liên quan đến dự án, xử lý tình huống, xử lý mâu thuẫn, có kỹ năng đào

tạo, truyền đạt & tổng hợp thông tin. Đặc biệt đây là cấp quản lý dự án ODA vì vậy

là chủ nhiệm dự án phải có khả năng giao tiếp thành thạo ít nhất một ngoại ngữ. Về

phẩm chất đạo đức ngoài những yêu cầu chung đối với một nhà quản lý của một tổ

chức một doanh nghiệp như: Có lòng tự tin, sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề, tận

tuỵ với cơng việc, có sự bao dung độ lượng, Giữ gìn kỷ cương, nền nếp trong cơng

tác thì họ phải là cá nhân có được sự tín nhiệm của cán bộ công nhân viên trong dự

án và đối tác liên quan, chịu được áp lực công việc, chấp nhận đi cơng tác dài ngày,

khơng tham ơ lãng phí, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội trong tổ chức.

Các nhà quản trị chức năng chịu trách nhiệm về lĩnh vực được giao theo ủy

nhiệm của chủ nhiệm dự án và phải có trách nhiệm phối hợp, phân tích và truyền tin

phục vụ cho công tác quản trị dự án. Nhiệm vụ cụ thể của nhà quản trị chức năng là

Nghiên cứu nắm vững những quyết định của chủ nhiệm dự án về nhiệm vụ của bộ

phận mình và mối quan hệ với bộ phận khác.Xây dựng kế hoạch hành động, đưa ra

mơ hình tổ chức thích hợp, lựa chọn đề bạt những người có khả năng vào những

cơng việc thích hợp, giao việc cụ thể cho từng nhân viên; Dự trù kinh phí và quản lý

sử dụng kinh phí; Kiểm tra hoạt động; Báo cáo kịp thời cho chủ nhiệm dự án.

1.1.5



. Phát triển nhân lực quản lý dự án ODA của Ban quản lý dự án

Phát triển nguồn nhân lực được nhiều tác giả đề cập đến. Dưới đây là một vài

quan điểm về phát triển nhân lực:

Theo PGS.TS. Trần Xuân Cầu (năm 2012) “Phát triển nguồn nhân lực là q

trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề,

tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch

sử…Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá

trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất

lượng nguồn nhân lực tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với các tiếp



23



cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là q trình làm cho con

người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng

động xã hội cao”.

Khái niệm này chỉ quá trình phát triển nhân lực để cung cấp nguồn nhân lực

có chất lượng cho đất nước nói chung.

Theo Jerry W.Gilley và các đồng sự, (năm 2002) “Phát triển nhân lực là q

trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc,

tạo ra việc thay đổi thông qua tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và khơng

chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng

lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh đổi mới”.

Phát triển nhân lực nói đến sự nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của

người lao động nhằm mục tiêu tăng kết quả thực hiện trong một doanh nghiệp. Điều

này nhấn mạnh đến sự phát triển cá nhân cũng như sự cam kết tiến bộ nghề nghiệp

của con người trong tổ chức.

Theo Leonard Nadler, năm 1984: “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh

nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong khoảng thời gian nhất định nhằm cải

thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân”

Khái niệm này nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển nhân lực là

phát triển tổ chức thông qua sự kết hợp giữa mục tiêu của cá nhân và mục tiêu phát

triển tổ chức. Tuy nhiên, khái niệm này cũng khẳng định các hoạt động phát triển

nhân lực chỉ tăng khả năng nâng cao kết quả thực hiện công việc và khả năng phát

triển tổ chức vì chỉ khi người học thực sự áp dụng được những cái đã học vào cơng

việc thì mới có thể tạo ra sự thay đổi. Mặt khác khái niệm cũng nêu rõ vai trò hàng

đầu của người quản lý trực tiếp trong nâng cao kết quả thực hiện công việc của

người lao động.

Như vậy, mặc dù có sự diễn đạt khác nhau song có một điểm chung nhất là

Phát triển nhân lực quản lý dự án ODA tại Ban quản lý dự án là quá trình nâng cao

kiến thức, kỹ năng và năng lực cho nhân lực quản lý cho dự án nhằm thực hiện mục



24



tiêu của dự án. Quá trình này hài hòa giữa mục tiêu của cá nhân với mục tiêu của

dự án. Kinh nghiệm của nhiều nước cơng nghiệp hóa trước đây cho thấy phần lớn

thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn sản xuất mà là hồn thiện trong năng

lực con người, sự tinh thơng, bí quyết nghề nghiệp và quản lý. Khác với đầu tư cho

nguồn vốn phi con người, đầu tư cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, đa

lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và

đến tồn bộ xã hội nói chung.

Từ những khái niệm về phát triển nhân lực nói chung, tác giả luận văn tiếp

cận quan điểm về phát triển nhân lực quản lý dự án ODA.

1.2. Chỉ tiêu và nội dung phát triển nhân lực quản lý dự án ODA tại Ban quản

lý dự án

1.2.1. Chỉ tiêu phát triển nhân lực tại ban quản lý dự án

hỗ trợ chất thải bệnh viện

1.2.1.1. Số lượng nhân lực

Nhân lực của Ban Quản lý dự án gồm bốn nhóm đối tượng là các cán bộ,

công chức, viên chức và các chuyên gia hỗ trợ dự án theo đó phát triển nhân lực về

số lượng phải theo hướng hợp lý, tức là có tăng, có giảm, có vào, có ra, có lên, có

xuống. Tránh các xu hướng như: ln xin tăng biên chế; hạn chế sử dụng biện pháp

điều chỉnh nhân lực nội bộ; đề bạt, bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý vượt quá nhiều so

với quy định… Phát triển hợp lý về số lượng nhân lực cần căn cứ:

- Tổng số nhân lực quản lý qua các năm

- Tổng số nhân lực có trình độ phù hợp với cơng việc thực tế

- Tổng số nhân lực trẻ qua các năm

Sau khi đã đánh giá nhân lực đủ về số lượng với năng lực, kinh nghiệm phù

hợp đảm bảo việc quản lý thực hiện chương trình, dự án hiệu quả và bền vững.



25



Chỉ tiêu về số lượng nhân lực quản lý dự án được Ban quản lý dự án đầu

tư về tài chính và tạo điều kiện về thời gian nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực

cho chính bản thân qua các năm. Chỉ tiêu này đánh giá mức độ đầu tư, quan tâm của

ban quản lý dự án và sự nhận thức về tầm quan trọng của công tác nâng cao năng

lực cán bộ quản lý dự án của lãnh đạo Ban quản lý dự án.

Chỉ tiêu về số lượng công việc quản lý / số lượng nhân viên quản lý dự án

trước và sau khi thực hiện chương trình phát triển nhân lực quản lý dự án ODA là

một chỉ tiêu đánh giá quan trọng về hiệu quả công tác nâng cao kiến thức, kỹ năng

và năng lực cho nhân lực quản lý dự án.

1.2.1.2. Cơ cấu nhân lực

Cơ cấu nhân lực của Ban Quản lý dự án cũng phải hợp lý trên các mặt giới

tính, độ tuổi, dân tộc, tơn giáo, trình độ đào tạo… Trong cơ quan khơng thể chỉ có

tồn “thầy” mà khơng có “thợ” nói cách khác “thừa thầy, thiếu thợ” là mất cân đối,

không hợp lý về cơ cấu trong phát triển nhân lực. Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA

bao gồm các khối sau:

- Khối hành chính, tổ chức, hỗ trợ;

- Khối chức năng bao gồm kế hoạch, đấu thầu, tài chính, giải phóng mặt

bằng và một số hoạt động cần thiết khác;

- Khối kỹ thuật bao gồm giám sát thiết kế, thi công, môi trường hoặc theo

các cấu phần kỹ thuật của chương trình, dự án.

1.2.1.3. Chất lượng nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực quản lý dự án ODA thể hiện trên các tiêu chí là:

kiến thức, kỹ năng và phẩm chất, thái độ.

(1). Kiến thức



26



Đây là năng lực không thể thiếu đối với bất kỳ một nhà quản trị dự án nào.

Những kiến thức nhà quản trị cần có để đảm bảo quá trịnh quản trị dự án được thể

hiện ở trình độ chun mơn. Trong đó trình độ chuyên môn bao gồm sự kết hợp

giữa kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm.

Trong quản trị dự án ODA thường có phân cấp trách nhiệm do vậy khi đề cập

tới năng lực chuyên môn không chỉ dừng lại ở vị trí giám đốc hay chủ nhiệm dự án,

mà còn bao quát cả đến các trợ lý và nhà quản trị bộ phận (chức năng).

Kiến thức chuyên môn sâu về dự án: Dự án ODA là lĩnh vực mới, chưa có

tiền lệ, vì vậy nhà quản trị dự án bắt buộc phải có năng lực chun mơn sâu về lĩnh

vực hoạt động dự án điều hành.

Kiến thức về các lĩnh vực chun mơn có liên quan: Ngồi những am hiểu

chuyên sâu về lĩnh vực dự án, các nhà quản trị dự án ODA cần có thêm những kiến

thức và hiểu biết về lĩnh vực có liên quan đến dự án để có thể đối thoại trong q

trình điều hành dự án, giúp nhà quản trị có khả năng xử lý toàn bộ dự án, tăng khả

năng chỉ đạo và điều hành.

Kinh nghiệm: Quản trị dự án nói chung và quản trị dự án ODA nói riêng là

một cơng việc khó nhọc, đòi hỏi phải vừa học vừa làm, vừa tích lũy kinh nghiệm.

Do đó, các nhà quản trị dự án có ít kinh nghiệm nên bắt đầu từ dự án có quy mơ

nhỏ, sau đó mới tiếp được những dự án có quy mơ lớn.

(2). Kỹ năng

Một nhà quản trị dự án cần kết hợp được các kỹ năng như kỹ năng tổ chức,

kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp, tạo dựng nhóm làm việc.

(a). Kỹ năng tổ chức

Đây là một kỹ năng không thể thiếu của nhà quản trị dự án ODA.Nếu khơng

có khả năng tổ chức, dự án sẽ khó đi vào hoạt động hoặc có hoạt động thì tiến độ

cũng khơng đảm bảo do các nguồn lực không được sắp xếp phù hợp. Năng lực tổ

chức của nhà quản trị dự án được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Nhanh trí, vận dụng nhanh chóng kiến thức, kinh nghiệm vào cơng việc dự án.

Có óc tổ chức, có khả năng suy xét sâu sắc vấn đề, biết nêu sáng kiên, có khả

năng quan sát, tinh thần tổ chức kỹ luật, biết sắp xếp công việc một cách nề nếp,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×