Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG

TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm

1.1.1.1 Khái niệm

Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, có q trình ra đời, tồn tại

và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Nó phản ánh mối

quan hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hồn trả. Theo đó,

người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng của hàng hóa hoặc tiền tệ thuộc

sở hữu của mình sang người vay và người vay có nghĩa vụ hoàn trả lại người

cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận. Do đó, tín

dụng ngân hàng là một trong các hình thức tín dụng thể hiện quan hệ chuyển

nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng (tổ chức, cá

nhân) trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Nói cách

khác, tín dụng ngân hàng chính là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ

chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức: ngân hàng đứng ra huy động vốn

bằng tiền và cho vay với các đối tượng trên.

(1) Cho vay vốn

Ngân hàng



Chủ thể đi vay (cá nhân, doanh



(Lender)



nghiệp…)

(Borrower)

Hoàn trả cả gốc lẫn lãi (2)



Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ.

Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam có ghi “Tổ chức tín

dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài hạn nhằm đáp ứng

nhu cấu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao hàm cả



6



hai nội dung: Tín dụng bán bn và tín dụng bán lẻ. Khái niệm này cũng xuất

phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại có hai hình thức bán

bn và bán lẻ. Hiện nay trên thế giới có hai cách hiểu về hai loại tín dụng

này như sau:

Cách hiểu thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho

vay thơng qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho

vay đối với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các

tổ chức làm đại lý ủy thác), khơng tính đến quy mơ giá trị các khoản vay.

Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến

người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau.

Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu

được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực

hiện việc cho vay tiếp với các đối tượng khác.

Cách hiểu thứ hai, tín dụng bán bn được hiểu như cách thứ nhất và cộng

thêm các trường hợp cho vay với giá trị lớn tùy quy mơ cụ thể từng nước quy

định. Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người

vay cuối cùng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm

các khoản cho vay với công ty, doanh nghiệp lớn nhưng có quy mơ nhỏ hơn

một mức giá trị nào đấy.

Những tiêu chí trên chỉ mang tính tương đối và với từng quốc gia sẽ có

những quy định cụ thể cho phù hợp. Tại Việt Nam, cách hiểu phổ biến nhất,

tín dụng bán lẻ là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu

cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và

nhỏ (DNVVN). Một số nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh vai trò của cơng nghệ

thơng tin trong các sản phầm ngân hàng cung cấp.Theo các chuyên gia kinh tế

của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT , dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng

sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ; các doanh nghiệp nhỏ và

vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp tới sản



7



phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và

công nghệ thông tin.

Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cấp tín dụng

bán lẻ là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay,

chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá

nhân (cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngồi), hộ gia đình có nhu cầu sử

dụng sản phẩm, dịch vụ của BIDV. Tóm lại, hoạt động tín dụng bán lẻ là

hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô

nhỏ cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa

và nhỏ.

1.1.1.2 Đặc điểm

Đối tượng được cung cấp sản phẩm tín dụng bán lẻ rất rộng, số lượng

khách hàng vô cùng lớn: các cá nhân hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và

nhỏ trong nền kinh tế, nhưng giá trị của các khoản vay thơng thường nhỏ vì

vậy mà chi phí bình qn trên mỗi giao dịch thường cao. Do các giao dịch của

tín dụng bán lẻ thanh toán thường xuyên như thanh toán tiền hàng, chuyển

khoản, chuyển vốn… do đó khi phục vụ mỗi đối tượng bán lẻ ngân hàng vẫn

phải tuân thủ quy trình và chi phí tương tự như khi phục vụ khách hàng bán

bn.

Đối tượng của tín dụng bán lẻ chủ yếu là các khách hàng cá nhân khác

nhau về thu nhập, dân trí, hiểu biết, tích cách, độ tuổi… nên nhu cầu của

khách hàng rất đa dạng. Các NHTM cũng phải thường xuyên thay đổi liên tục

các dịch vụ để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Đồng thời nhu cầu của

các đối tượng khách hàng này cũng mang tính thời điểm. Cùng với sự thay

đổi của các điều kiện xung quanh cuộc sống của họ mà nhu cầu sẽ thay đổi.

Nếu NHTM nào nhanh chóng bắt kịp được sự thay đổi của nhu cầu khách

hàng để thỏa mãn họ sẽ giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh gay gắt này.

Chất lượng các thơng tin tài chính của các khách hàng vay thông thường



8



không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối

với các doanh nghiệp vừa và nhỏ các báo cáo tài chính thường khơng được

kiểm tốn.

Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao

hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở

đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn; bên cạnh đó khách hàng

vay thường khơng chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu

dùng thơng thường có thời hạn trên 12 tháng.

Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và

phục thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng

trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ

nhỏ lẻ sinh lời cao; ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng rất

nhiều cá nhân hộ gia đình, hạn chế chi tiêu vay mượn tiêu dùng, các doanh

nghiệp nhỏ và vừa nhanh chóng thu hẹp sản xuất.

Tín dụng bán lẻ có độ rủi ro thấp. Đây là một đặc điểm khác biệt với tín

dụng bán bn. Trong khi tín dụng bán bn tập trung vào đối tượng khách

hàng là các tổ chức kinh tế, tập đồn kinh tế, trung gian tài chính với giá trị

giao dịch lớn và độ rủi ro cao thì dịch vụ tín dụng bán lẻ lại có khả năng phân

tán rủi ro, do số lượng khách hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ. Vì vậy

mà tín dụng bán lẻ là một trong những mảng đem lại doanh thu ổn định và an

toàn cho các NHTM.

1.1.2. Các sản phẩm tín dụng bán lẻ

Bên cạnh những dịch vụ tín dụng bán lẻ truyền thống, các NHTM hiện

nay cũng thường xuyên thay đổi các dịch vụ tín dụng bán lẻ để thỏa mãn các

nhu cầu của khách hàng. Một số dịch vụ tín dụng bán lẻ hiện nay:

- Cho vay vốn sản xuất kinh doanh: Là sản phẩm tín dụng ngắn hạn

nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước như mua vật

tư hàng hóa, chi phí nhân cơng, nhiên liệu nộp thuế,…; xuất nhập khẩu



9



ngun vật liệu, hàng hóa,…; thơng thường thơng qua hình thức cho vay theo

hạn mức tín dụng hoặc theo món.

- Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: Là sản phẩm tín dụng trung

dài hạn nhằm bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết

bị, phương tiện vận tải, văn phòng làm việc, nhà xưởng,…cho các DNVVN

- Cho vay kinh doanh chứng khoán: Là sản phẩm cho nhà đầu tư vay

bằng tiền Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bàn chứng

khốn đã được khớp lệnh cơng ty chứng khốn

- Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu

của người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải các nhu cầu

sinh hoạt gia đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,…

- Cho vay du học: Là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ cho du

học sinh tham dự các khóa đại học, sau đại học ở nước ngồi.

- Cho vay học phí: Thơng thường là sản phẩm cho vay tín dụng dưới

hình thức trả định kì nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí

khi bản thân người vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học ở

Việt Nam.

- Cho vay mua nhà đất để ở: Là sản phẩm cho các khách hàng cá nhân

vay vốn để thực hiện việc xây, mua, sửa chữa, chuyển quyền thuê lại nhà của

nhà nước, chuyển quyền sử dụng đất,…

- Cho vay mua ô tô: Khách hàng vay vốn để có thể sở hữu và sử dụng

một chiếc ô tô mới đẹp, hiện đại phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh

- Thẻ tín dụng: là hình thức áp dụng cho khách hàng có thẻ tín dụng

quốc tế. Là loại hình khách hàng có quyền chi tiêu trước và trả sau. Chủ thẻ

không cần trả tiền mặt ngay khi mua hàng mà ngân hàng sẽ ứng tiền trước trả

cho người bán, chủ thẻ sau đó sẽ thanh tốn lại sau cho ngân hàng. Thẻ tín

dụng cho phép khách hàng “trả dần” số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ



10



thẻ khơng phải thanh tốn tồn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng

tháng. Tuy nhiên, Chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo

hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê. Thẻ tín dụng khác với thẻ ghi nợ vì tiền không

bị trừ trực tiếp vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ ngay sau mỗi lần mua hàng

hoặc rút tiền mặt. Thẻ tín dụng được phát hành sau khi nhà cung cấp dịch vụ

tín dụng duyệt chấp thuận tài khoản thẻ, sau đó chủ thẻ có thể sử dụng nó để

mua sắm tại các điểm bán hàng chấp nhận loại thẻ.

Mỗi ngân hàng đều có cách khác nhau đưa ra các sản phẩm tín dụng

bán lẻ, nhưng tựu chung lại các sản phẩm tín dụng bán lẻ được phân loại như

sau:

+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:

- Tín dụng cho sản xuất, lưu thơng hàng hóa

- Tín dụng tiêu dùng

+ Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng:

- Cho vay cá nhân;

- Cho vay hộ gia đình;

- Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1.1.3. Quy trình tín dụng bán lẻ

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng

trong việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình

tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi chấm dứt

quan hệ tín dụng. Đó là q trình đồng bộ, có tính chất liên hồn, theo trình tự

nhất định và có quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau. Quy trình tín dụng thường

có 6 bước:



Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn



11



Khách hàng có thể thơng qua trực tiếp hoặc gián tiếp để đến ngân hàng

tìm hiểu về các sản phẩm tín dụng bán lẻ. Cán bộ tín dụng sẽ là người hướng

dẫn và tư vấn các sản phẩm cho khách hàng. Phỏng vấn khách hàng để nắm

được các thông tin của khách hàng. Khi phỏng vấn cán bộ quan hệ khách

hàng cá nhân cần phải biết được mục đích vay vốn của khách hàng, tình trạng

thân nhân (như tên tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ…), khả năng và

nguồn trả nợ của khách hàng, tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản khác của

khách hàng…Sau khi phỏng vấn và nắm bắt thông tin từ khách hàng cán bộ

quan hệ khách hàng cá nhân sẽ tư vấn cho khách hàng sản phẩm, dịch vụ phù

hợp, đối với từng khách hàng cán bộ sẽ hướng dẫn khách hàng về hồ sơ, tài

liệu cần cung cấp cho ngân hàng.

Sau khi khách hàng chọn được dịch vụ ngân hàng phù hợp, cán bộ quan

hệ khách hàng cá nhân sẽ trực tiếp tiếp nhận tồn bộ hồ sơ từ khách hàng, có

trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, phù hợp, chính xác của hồ sơ, lập phiếu tiếp

nhận hồ sơ. Nếu khách hàng chưa cung cấp đầy đủ hồ sơ yêu cầu khách hàng

bổ sung đầy đủ các giấy tờ còn thiếu trong một lần tránh yêu cầu khách hàng

bổ sung nhiều lần. Khi khách hàng bàn giao hồ sơ gốc tài sản bảo đảm thì

thực hiện nhập kho, bàn giao ngay cho kho quỹ, trong trường hợp phải sử

dụng tài sản bảo đảm đó đi xác minh, làm thủ tục cơng chứng, đăng kí giao

dịch bảo đảm thì phải lập tờ trình mượn hồ sơ tài sản đảm bảo để mượn hồ sơ

từ kho quỹ.

Bước 2: Phân tích, thẩm định tín dụng

Sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng, cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân

đánh giá thông tin thân nhân khách hàng, tình hình quan hệ tín dụng của

nhóm khách hàng liên quan (nếu có), đánh giá mục đích và kế hoạch sử dụng

vốn vay, phân tích năng lực tài chính, tài sản đảm bảo của khách hàng., kiểm

tra khách hàng để nắm bắt thông tin lịch sử quan hệ giao dịch của khách hàng,



12



khai thác thông tin về lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng với các Tổ

chức tín dụng khác và các kênh thơng tin khác, thực hiện chấm điểm, xếp

hạng tín dụng khách hàng theo đúng quy định hiện hành của ngân hàng.

Căn cứ vào kết quả đánh giá, phân tích, xếp hạng tín dụng khách hàng,

hồ sơ tín dụng, so sánh với các điều kiện quy định của ngân hàng và các quy

định của từng sản phẩm tín dụng cụ thể, cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân

tiến hành trình cấp có thẩm quyền quyết định cấp tín dụng. Sau khi tiếp nhận

hồ sơ của chi nhánh, Cán bộ Ban quản lý rủi ro tín dụng lập Báo cáo thẩm

định rủi ro và trình Lãnh đạo Ban quản lý rủi ro tín dụng kí quyết định cấp tín

dụng nếu trong phạm vi thẩm quyền của Lãnh đạo Ban hoặc kí kiểm sốt

trước khi trình cấp có thẩm quyền cao hơn. Sau khi các cấp có thẩm quyền

quyết định cấp tín dụng tại Hội sở chính phê duyệt, Cán bộ Ban quản lý rủi ro

tín dụng chịu trách nhiệm soạn thảo Quyết định cấp tín dụng trình cấp có

thẩm quyền kí và gửi cho chi nhánh. Trong trường hợp từ chối cấp tín dụng

lập Thơng báo từ chối cấp tín dụng gửi khách hàng trong đó nêu rõ lý do từ

chối cho vay.

Bước 3: Ký kết hợp đồng tín dụng

Tiến hành soạn thảo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng bảo đảm tiền vay

phù hợp, Khách hàng tham gia ký hợp đồng phải là chính khách hàng vay

hoặc đại diện hợp pháp của Hộ gia đình, hộ kinh doanh. Hợp đồng được ký

tại Ngân hàng hoặc tại phòng cơng chứng. Cán bộ quan hệ khách hàng cùng

khách hàng thực hiện việc công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo

đảm theo quy định hiện hành của pháp luật và của ngân hàng.

Bước 4: Giải ngân

Sau khi khách hàng hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các thủ tục theo quy định

của pháp luật và của ngân hàng hiện hành. Cán bộ quan hệ khách hàng cá

nhân lập hồ sơ giải ngân quyết định phương thức giải ngân vốn phù hợp với



13



quy định của pháp luật tại thời điểm giải ngân và hướng dẫn của ngân hàng

trong từng thời kì, tiến độ giải ngân phải phù hợp với tiến độ thanh toán theo

thỏa thuận giữa khách hàng và bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Hướng dẫn

khách hàng hoàn thiện các chứng từ giải ngân như ủy nhiệm chi, giấy lĩnh

tiền mặt…, kiểm tra đối chiếu, bảo đảm khớp đúng về thơng tín khách hàng

tại chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu, chữ ký tại với các hồ sơ chứng từ giải

ngân. Sau khi hoàn thành thủ tục giải ngân cho khách hàng, thực hiện lưu hồ

sơ giải ngân theo quy định hiện hành của ngân hàng

Bước 5: Giám sát và thu nợ

Thực hiện kiểm tra giám sát khoản vay, khách hàng vay, mục đích sử

dụng vốn vay trước và trong quá trình duyệt vay, giải ngân nhằm đảm bảo

phù hợp với hồ sơ và thực tế, thường xuyên theo dõi việc trả nợ vay của

khách hàng đảm bảo khách hàng trả nợ đúng hạn. Trong quá trình kiểm tra,

đánh giá, nếu phát hiện các dấu hiệu rủi ro, đề xuất biện pháp phòng ngừa

và báo cáo Lãnh đạo phòng quan hệ khách hàng cá nhân và cấp có thẩm

quyền quyết định tín dụng chỉ đạo, xử lý kịp thời.

Bước 6: Thanh lý hợp đồng

Đến thời hạn hợp đồng kết thúc, cán bộ tín dụng khách hàng cá nhân tiến

hành các thủ tục thanh lý hợp đồng theo quy định cho khách hàng.

1.1.4. Vai trò của tín dụng bán lẻ

Tín dụng bán lẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong q trình thúc đẩy

kinh tế phát triển không chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với những

quốc gia phát triển. Các ngân hàng hàng đầu thế giới như City Group, HSBC,

Bank of American cũng coi việc phát triển dịch vụ ngân hàng tín dụng bán lẻ

là một trong những chiến lược kinh doanh chủ đạo của họ hiện nay. Với kinh

nghiệm phát triển lâu năm, các ngân hàng trên đã từng phát triển mạnh mẽ

dịch vụ bán buôn họ đều nhận định rằng hoạt động bán buôn tạo ra lợi nhuận



14



cao nhưng rủi ro cũng rất cao; trong khi dịch vụ tín dụng bán lẻ lại mang lại

một nguồn doanh thu cao, ổn định và rất ít rủi ro.

Vai trò của tín dụng bán lẻ càng thể hiện rõ hơn trong thời kỳ suy thoái

kinh tế khi hiện nay, khi mà hàng loạt các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới

đang gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Khi mà

tình hình giá dầu thế giới ngày càng xuống dốc, căng thẳng quân sự ngày

càng leo thang giữa các cường quốc kinh tế, đã tác động rất mạnh đến nền

kinh tế toàn cầu làm giảm doanh thu của hàng loạt các tập đoàn kinh tế lớn

mạnh. Nhiều ngân hàng đầu tư lớn đã bị phá sản như Lemon Brothers, Merrill

Lynch…vì vậy xu hướng các ngân hàng hiện nay đang chuyển dần sang phát

triển hoạt động tín dụng bán lẻ.

Dịch vụ tín dụng bán lẻ mang nhiều lợi ích cho cả hai bên cùng tham gia

hoạt động, đồng thời còn đóng góp lợi ích thúc đẩy phát triển kinh tế.

+ Đối với nền kinh tế: Nó góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền

tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp vừa và nhỏ; hộ gia đình

mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc

làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng

góp ngày càng tăng trong GDP.

Hoạt động tín dụng bán lẻ giúp Nhà nước thực hiện chính sách kích cầu

tiêu dùng: Với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ô tô, trang thiết bị phục vụ

sinh hoạt gia đình,… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản

phẩm tín dụng tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích

người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia

tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế.

Một vai trò quan trọng phải kể đến, tín dụng bán lẻ phát triển đã góp

phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi. Khi khách

hàng dễ dàng tiếp cận được nguồn tín dụng bán lẻ thì chắc chắn họ sẽ khơng



15



tìm đến tín dụng đen. Khi đó khơng chỉ đơi bên cùng có lợi mà Nhà nước

cũng sẽ khơng bị thất thu thuế từ một phần lớn hoạt động tín dụng đen.

+ Đối với các NHTM: tín dụng bán lẻ mang lại nguồn thu ổn định, chắc

chắn, rủi ro thấp nên phát triển tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu, phù hợp với xu

hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Đảm bảo cho các

ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm

năng, mở rộng thị trường phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho

khách hàng.

Trên giác độ tài chính, tín dụng bán lẻ đóng góp quan trọng vào việc tăng

trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Tín

dụng bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng

bên cạnh cho vay bán buôn, tốc độ cho vay bán lẻ tăng nhanh sẽ góp phần đẩy

nhanh dư nợ, đồng thời cho vay bán lẻ có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với

tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng.

Dịch vụ tín dụng bán lẻ phát triển giúp các ngân hàng nâng cao chất

lượng cung ứng dịch vụ. Các ngân hàng sẽ phải đầu tư mạnh vào hạ tầng công

nghệ thông tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân

phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ

ngân hàng bán lẻ, phục vụ một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo. Từ đó sẽ

nâng cao được năng lực cạnh tranh của các NHTM trong nền kinh tế hội nhập

như hiện nay.

+ Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng bán lẻ: cá nhân, hộ gia

đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thêm nhiều cơ hội đầu tư khai thác hết tiềm

năng về lao động đất đai, hàng hóa, máy móc, nhà xưởng,…một cách hợp lý

và có hiệu quả nhất. Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người

dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm

dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế hiện đại.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×