Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng

Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.1.  Khái  quát  qúa  trình  phát  triển  của 

pháp luật hợp đồng ở VN 

 Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KHHTT 

◙  Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KTTT 





◙ Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KHHTT 













Năm  1956,  NN  ban  hành  Điều  lệ  tạm  thời  số  735/TTg  về  chế 

độ hợp đồng kinh doanh, điều chỉnh các quan hệ giữa hai hay 

nhiều chủ thể cam kết thực hiện kế hoạch của NN. 

Nghị định 004/TTg/1960 ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ 

hợp  đồng  kinh  tế  giữa  các  XNQD  và  CQNN.  Điều  lệ  này  quy 

định một kiểu hợp đồng mới – hợp đồng được ký kết trên cơ 

sở và nhằm thực  hiện kế hoạch  NN  đồng thời thực hiện các 

n.tắc của chế độ hạch tốn kinh tế.

Như vậy, các CQNN, các XNQD xác lập và thực hiện hợp 

đồng  khơng  phải  vì  lợi  ích  riêng  mà  nhằm  để  thực  hiện  kế 

hoạch  của  NN.  Đây  là  đặc  điểm  quan  trọng  nhất  của  hợp 

đồng kinh tế trong cơ chế KTKHHTT. 

HĐCP đã ban hành Nghị định số 54/CP/1975, ban hành Điều lệ 

về  chế  độ  hợp  đồng  kinh  tế.  Đây  là  bản  điều  lệ  chính  thức 

đầu tiên về chế độ hợp đồng và có hiệu lực thi hành đến năm 

1989. 

Để thực hiện hai nghị định trên, NN ta đã ban hành hàng 

loạt văn bản hướng dẫn như: Quyết  định số 113­TTg/1965 và 

Chỉ thị số 17­TTg/1967 của TTg… 



◙ Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KHHTT (tt)

Đặc điểm của PL về hợp đồng trong cơ chế 

KHHTT 













Một là, pháp luật hợp đồng chỉ là cơng cụ pháp lý của 

việc  thực  hiện  kế  hoạch  NN.  Do  kế  hoạch  NN  được 

coi là pháp lệnh cho nên việc ký kết và thực hiện hợp 

đồng là kỷ luật của NN đối với các đơn vị kinh tế. 

Hai là, hợp đồng kinh tế là hình thức pháp lý của các 

quan hệ mang tính chất tổ chức – kế hoạch, còn yếu 

tố  tài  sản  chỉ  là  thứ  yếu.  Nội  dung  chủ  yếu  của  hợp 

đồng đã được xác định trong chỉ tiêu kế hoạch NN, ý 

chí  của  các  bên  thể  hiện  qua  việc  thỏa  thuận  chỉ  là 

việc cụ thể hóa ý chí của NN. 

Ba là, chủ thể của hợp đồng chỉ là các đơn vị, tổ chức 

được giao chỉ tiêu, kế hoạch. 



◙ Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KTTT 

























Đại  hội  VI  (1986)  chuyển  đổi  cơ  chế  KHHTT  sang  cơ  chế  thị 

trường. 

Cơ chế kinh tế mới đòi hỏi phải có sự thay đổi về chính sách 

và pháp luật, trong đó có pháp luật về hợp đồng.

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của HĐNN (1989) và sau đó là một 

loạt  các  VB  như  NĐ/17/HĐBT,  QĐ/18/HĐBT/1990  và  nhiều  văn 

bản hướng dẫn khác đã được ban hành.  

BLDS1995  được  QH  ban  hành  trong  đó  có  nhiều  quy  định  về 

HĐDS. 

LTM1997  cũng  có  những  quy  định  mới  về  hợp  đồng  cho  một 

số hành vi thương mại. Nhưng thực tế, các QHHĐ trong KDTM 

vẫn lấy Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 làm căn cứ áp dụng 

chủ yếu. 

Nội  dung  cụ  thể  của  chế  độ  pháp  lý  về  hợp  đồng  quy  định 

trong các VBPL nêu trên có nhiều điểm khơng thống nhất. 



◙ Pháp luật hợp đồng trong cơ chế KTTT (tt)





















Khi cơ chế kinh tế thay đổi một cách mạnh mẽ, Pháp 

lệnh HĐKT1989 đã khơng còn phù hợp nữa. 

Việc  hồn  thiện,  đổi  mới  các  quy  định  của  pháp  luật 

về  hợp  đồng  là  vấn  đề  đặt  ra  hết  sức  cấp  thiết  cho 

giao lưu kinh tế và cho hội nhập. 

Thực  tiễn  pháp  luật  về  hợp  đồng  không  thống  nhất, 

các quy định còn nằm rãi rác, chồng chéo, mâu thuẫn, 

loại trừ nhau, tạo ra nhiều lỗ hổng pháp lý khiến cho 

việc  thực  hiện  và  áp  dụng  pháp  luật  gặp  nhiều  khó 

khăn. 

BLDS2005  được  ban  hành,  trong  đó  chế  định  hợp 

đồng  là  nền  tảng  thống  nhất  và  đồng  bộ  để  điều 

chỉnh các QHHĐ. 

Ngoài  ra,  NN  còn  ban  hành  các  VBPL  riêng  để  điều 

chỉnh các QHHĐ trong các lĩnh vực cụ thể. 



3.2.  Hệ  thống  VBPL  hiện  hành  về  hợp 

đồng





 BLDS2005  







 LTM2005  

 Các VBPL chuyên ngành 

  Áp  dụng  điều  ước  quốc  tế,  pháp  luật  nước 

ngồi và tập qn thương mại quốc tế 









◙ BLDS2005













Là VBPL điều chỉnh tất cả các loại hợp đồng nói 

chung và hợp đồng trong KDTM nói riêng. 

Nó  có  tính  n.tắc  về  các  chủ  thể,  GDDS,  NVDS, 

HĐDS  (nghĩa chung)  được  áp dụng cho  các  quan 

hệ  HĐDS  (nghĩa  hẹp),  QHHĐ  KDTM,  quan  hệ 

HĐLĐ. 

Trên  cơ  sở  chế  độ  pháp  lý  của  HĐDS  (nghĩa 

chung),  có  các  văn  bản  cho  riêng  từng  loại  hợp 

đồng như LTM, BLLĐ, LDN2005…  

Pháp  lệnh  HĐKT1989  hết  hiệu  lực  khi 

BLDS2005 có hiệu lực. 



◙ LTM2005

















Việc  xác  lập  và  thực  hiện  các  QHHĐ  trong  các 

hoạt động KDTM giữa các thương nhân trước hết 

phải căn cứ vào LTM2005. 

Trong  quan  hệ  giữa  BLDS2005  và  LTM2005  thì 

LTM2005  là  luật  riêng  còn  BLDS2005  là  luật 

chung. 

Những nội dung liên quan đến thương mại khơng 

được quy định trong LTM2005 và các luật khác thì 

áp dụng BLDS2005 (K3 Đ4 LTM2005). 

Đối với các quy định khác nhau giữa LTM2005 và 

BLDS2005 thì áp dụng quy định của LTM2005. 



◙ Các VBPL chun ngành 









Trong  những  lĩnh  vực  KDTM,  có  những  lĩnh  vực 

mang tính chun ngành, đặc thù, và tương  ứng với 

nó  là  các  VBPL  chun  ngành  để  quy  định  những 

nội dung cụ thể của QHHĐ trong từng lĩnh vực đó, 

như:  LDK;  LKDBH;  LĐL;  BLHH;  LXD;  LĐThầu; 

LKDBĐS; LCK…

LTM2005  quy  định,  hoạt  động  thương  mại  đặc  thù 

được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định 

của luật đó (K2 Đ4 LTM2005). 



◙ Áp dụng ĐƯQT, PL nước ngồi và TQTMQT













Đối với các QHHĐ KDTM có các yếu tố nước ngồi, 

bên  cạnh  áp  dụng  PL  trong  nước,  còn  áp  dụng 

ĐƯQT, PL nước ngồi và tập TQTMQT. 

“Tr.hợp  ĐƯQT  mà  CHXHCNVN  là  thành  viên  có  quy 

định áp dụng PL nước ngồi, TQTMQT hoặc có quy 

định khác với LTM2005 thì áp dụng ĐƯQT đó. 

Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước 

ngồi  được  thỏa  thuận  áp  dụng  luật  nước  ngồi, 

TQTMQT nếu chúng khơng trái với các n.tắc cơ bản 

của PLVN” (Đ5 LTM2005). 



II. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ 













Các  GDDS  thơng  qua  hình  thức  chủ  yếu  là 

HĐDS. 

Chế  độ  pháp  lý  của  HĐDS  quy  định  trong 

BLDS2005  thể  hiện  trực  tiếp  trong  các  phần 

GDDS, NVDS và HĐDS. 

Chế độ pháp lý về HĐDS được nghiên cứu theo 

các  phần:  Giao  kết  hợp  đồng,  thực  hiện,  thay 

đổi,  chấm  dứt,  hủy  bỏ  hợp  đồng,  trách  nhiệm 

dân sự và giải quyết tranh chấp. 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×