Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

7

thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với ngun tắc có hồn trả bằng các

cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín

dụng khác". Như vậy hoạt động cấp tín dụng và hoạt động cho vay của ngân hàng

đề là các giao dịch tín dụng. Tuy nhiên, cấp tín dụng là khái niệm rộng bao gồm

nhiều nghiệp vụ như đã định nghĩa ở trên, trong đó bao gồm cả hoạt động cho vay.

Cho vay chỉ là một nghiệp vụ nằm trong hoạt động tín dụng, nhưng ln là

một nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các ngân hàng khi thẩm định tín dụng

thường u cầu khách hành phải có tài sản thế chấp cũng là hợp lý. Và thế chấp

cũng chỉ là một trong các biện pháp để bảo đảm tín dụng (ngồi thế chấp thì các

ngân hàng có thể áp dụng nhiều biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, đặt cọc, bảo

lãnh, tín chấp...). Dù tín dụng có một hàm nghĩa là tín nhiệm nhưng sự tín nhiệm

này là chưa đủ để bảo đảm chó giao dịch tín dụng đó. Bởi hoạt động tín dụng là một

hoạt động luôn chứa đựng rất nhiều rủi ro. Ngay cả sự tín nhiệm được bảo đảm

bằng tín chấp thì cũng phải có một tổ chức có uy tín đứng ra tín chấp.

1.1.1.3. Đặc điểm cho vay trung và dài hạn

Thứ nhất, quy định vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án:

Cho vay trung và dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so với cho vay

ngắn hạn, để giảm bớt rủi ro ngoài việc quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu

tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham

gia vào tính chất của từng dự án, mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án.

Thứ hai, quy định thời hạn trả nợ, cách thanh toán nợ và nguồn trả nợ:

Thời hạn trả nợ vốn vay phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm dự án đầu tư nhưng

thời hạn trả nợ cũng có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả của dự án mang lại

cao. Nguồn trả nợ đối với khoản cho vay trung và dài hạn nhìn chung khác với cho

vay ngắn hạn. Các khoản cho vay trung và dài hạn được dùng chủ yếu cho nhu cầu

mua sắm tài sản cố định,.. cho nên nguồn trả nợ chính cho khoản vay này là từ

nguồn khấu hao và một phần lợi nhuận do dự án mang lại.

Thứ ba, quy định giải ngân trong cho vay trung và dài hạn:

Đối với khoản cho vay trung và dài hạn có thể giải ngân một lần, hoặc nhiều

lần nhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích. Ngân hàng

khơng cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan chưa phát sinh. Ngân hàng và



8

khách hàng thoả thuận rút hết toàn bộ tiền vay một lần trong trường hợp vay để mua

sắm máy móc, thiết bị. Đối với các tài sản hình thành trong một thời gian dài thì

việc giải ngân được thực hiện theo tiến độ cơng việc hoàn thành.

Thứ tư, quy định lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn,

nó có thể là lãi suất cố đinh trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến

đổi tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường. Sự biến đổi của lãi suất có thể dựa

trên lãi suất cơ bản của ngân hàng, hay lãi suất liên ngân hàng của một số thị trường

như: LIBOR, SIBOR ... Việc thu tiền lãi có thể theo kỳ hạn tháng, quí, năm dựa vào

số dư ở mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho vay. Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ

gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hay trả tiền lãi vào một ngày trong kỳ theo thoả thuận.

1.1.1.4. Vai trò của cho vay và tín dụng của ngân hàng thương mại

a. Đối với hoạt động của ngân hàng thương mại

Những khoản cho vay trung và dài hạn có quy mơ lớn và lãi suất cao, thời gian

dài đã mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Việc phát triển hoạt động cho vay

trung, dài hạn cả về số lượng và chất lượng là hoạt động mang tính chiến lược của

các ngân hàng thương mại.

Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang tạo ra và

duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng

phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong

nền kinh tế. Thơng qua hoạt động cho vay trung và dài hạn, ngân hàng thực hiện

chức năng xã hội của mình, thể hiện vai trò người tài trợ lớn đối với tồn bộ nền

kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội và cải thiện đời

sống nhân dân.

b. Đối với khách hàng vay vốn trung và dài hạn

Đối với các cá nhân: Các cá nhân có nhu cầu tiêu dùng một số tiền lớn một

lúc thì có thể đề nghị ngân hàng cho vay trung và dài hạn. Ngân hàng sẽ căn cứ vào

thu nhập của cá nhân để tính tốn thời gian trả nợ cho hợp lý. Đối với các hộ nông

dân việc vay trung và dài hạn là hết sức quan trọng để đầu tư về giống, thức ăn,

phân bón... ban đầu.



9

Đối với các doanh nghiệp: Doanh nghiệp có được nguồn vốn đầu tư để nâng

cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới,

chớp lấy cơ hội kinh doanh mà không phải chờ đủ vốn. Đối với doanh nghiệp, việc

vay vốn trung và dài hạn từ ngân hàng đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn so với

các hình thức huy động vốn khác. Doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng theo kỳ

hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh, hơn nữa không phải công ty nào cũng được

quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khốn, nhất là cơng

ty mới thành lập hay q nhỏ, chưa có tiếng tăm. Ngồi ra với các khoản vay trung

và dài hạn tại ngân hàng vừa giúp ngân hàng thực hiện chiến lược kinh doanh đem

lại lợi tức cho doanh nghiệp mà khơng gia tăng sự kiểm sốt của người bên ngoài

đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như trong trường hợp phát hành cổ

phiếu. Như vậy, vay vốn trung và dài hạn từ ngân hàng là biện pháp quan trọng để

các doanh nghiệp thực hiện được dự án của mình.

c. Đối với nền kinh tế

Hoạt động cho vay trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế

quốc dân, làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết

kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển nền kinh tế.

Hoạt động cho vay trung và dài hạn góp phần đẩy nhanh q trình tái sản xuất

mở rộng đầu tư phát triển kinh tế. Các khoản cho vay cung cấp cho các ngành được

thực hiện theo cả chiều sâu và chiều rộng, đầu tư có trọng điểm, hình thành các

ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu hợp lý và khai thác triệt để các nguồn

lực để tập trung phục vụ sản xuất. Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy

tiến độ phát triển các cơng trình, các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bền vững, lâu

dài góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã định hướng cơng nghiệp

hố - hiện đại hố.

1.1.2. Các hình thức cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.1.2.1. Căn cứ vào đồng tiền cho vay

Tín dụng trung và dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ.

Tín dụng trung và dài hạn bằng ngoại tệ: Nhằm cấp tín dụng cho người vay có

nhu cầu thanh tốn các cơng trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quan

đến nước ngồi bằng đồng ngoại tệ.



10

1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung và dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các

cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiện sinh

hoạt, phương tiện đi lại,...

Tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng

cấp cho các tổ chức kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh, lưu thơng hàng hóa.

1.1.2.3. Căn cứ vào kỳ hạn trả nợ của đối tượng xin vay

Tín dụng trung và dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý, năm: Là

loại tín dụng mà khách hàng phải hồn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.

Tín dụng trung và dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần: Là loại tín dụng mà bên

vay phải hồn trả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay.

Tín dụng trung và dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thời vụ: Là loại tín dụng

mà người vay có thể hồn trả gốc và lãi bất cứ khi nào có khả năng, có thu nhập.

1.1.2.4. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay

Tín dụng trung và dài hạn đầu tư trong nước: Là loại tín dụng cấp cho người vay

nhằm thực hiện các dự án đầu tư trong nước.

Tín dụng trung và dài hạn tài trợ xuất nhập khẩu: Loại tín dụng này có thể chia

ra thành:

- Tín dụng người cung cấp: Là loại tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng tài

trợ cho các nhà cung cấp máy móc, thiết bị, cơng cụ để xuất khẩu.

- Tín dụng người mua: Là loại tín dụng trung và dài hạn mà ngân hàng cấp cho

người mua các máy móc, thiết bị của nước ngồi.

1.1.3. Quy trình cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

Bước 1: Phỏng vấn ban đầu và tiếp nhận hồ sơ vay vốn

Khách hàng có nhu cầu vay vốn, đến ngân hàng đề nghị vay vốn, cán bộ ngân

hàng thực hiện tiếp xúc và phỏng vấn ban đầu để tìm hiểu thơng tin về khách hàng.

Sau đó cán bộ ngân hàng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính

hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ.

Bước 2: Thẩm định tín dụng, lập báo cáo đề xuất thẩm định và phê duyệt tín

dụng



11

Dựa vào đơn xin vay, trên cơ sở hồ sơ khách hàng, hồ sơ khoản vay, cán bộ tín

dụng thẩm định khoản vay theo các nội dung:

- Năng lực pháp lí của khách hàng.

- Uy tín tính cách của khách hàng.

- Khả năng tài chính của khách hàng.

- Khả năng kinh doanh của khách hàng (nếu có).

- Phương án sử dụng vốn của khách hàng.

- Bảo đảm tiền vay.

Từ đó đánh giá toàn diện rủi ro mà ngân hàng gặp phải nếu cho vay khách

hàng, đối chiếu với những quy định của ngân hàng, lập báo cáo đề xuất thẩm định

và phê duyệt tín dụng có ý kiến về mức cho vay, lãi suất cho vay, điều kiện vay

trả...kèm theo hồ sơ vay vốn, trình Lãnh đạo phòng xét duyệt trước khi trình cấp có

thẩm quyền xét duyệt cho vay.

Bước này được thực hiện không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn

xin vay ngắn hạn và 10 ngày làm việc đối với khoản vay trung và dài hạn.

Bước 3: Phê duyệt cho vay

Trên cơ sở báo cáo đề xuất thẩm định và phê duyệt tín dụng của cán bộ tín

dụng kèm hồ sơ vay vốn, Lãnh đạo phòng sẽ xem xét, kiểm tra, có ý kiến độc lập

vào Báo cáo đề xuất thẩm định và phê duyệt tín dụng, đồng thời thực hiện phê duyệt

tín dụng nếu khoản vay nằm trong thẩm quyền ra quyết định, hoặc trình lãnh đạo

cấp cao hơn để xem xét ra quyết định cho vay.

Bước 4: Cán bộ tín dụng hồn tất các hồ sơ và thủ tục giấy tờ có liên quan

Trên cơ sở quyết định cấp tín dụng tại báo cáo đề xuất thẩm định và phê duyệt

tín dụng của cấp có thẩm quyền, cán bộ tín dụng soạn thảo hợp đồng tín dụng và

hợp đồng bảo đảm tiền vay thích hợp.

Bước 5: Giải ngân và thu nợ

Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng hồn chỉnh nội dung của các chứng từ

giải ngân, tiến hành thực hiện giải ngân trên phần mềm giao dịch của ngân hàng.

Sau khi giải ngân trên hệ thống, giấy lĩnh tiền mặt sẽ chuyển cho phòng kế tốn

thực hiện chi tiền mặt cho khách hàng nếu giải ngân bằng tiền mặt, hoặc thực hiện

giải ngân bằng chuyển khoản.

Khi đến hạn trả nợ lãi hoặc gốc, căn cứ theo các quy định tại hợp đồng tín

dụng, cán bộ tín dụng thực hiện thu nợ, lãi, phí.



12

Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đánh giá khách hàng và khoản vay

Cán bộ tín dụng có trách nhiệm lưu hồ sơ, theo dõi thường xuyên hoặc định kì,

đánh giá khách hàng vay, khoản vay theo mục đích sử dụng vốn vay, phân loại nợ

và trích lập dự phòng rủi ro, đánh giá lại tài sản đảm bảo tiền vay, đôn đốc thu hồi

gốc lãi đến hạn.

Bước 7: Xử lí các rủi ro phát sinh

Trường hợp khách hàng khơng trả nợ gốc và hoặc lãi đúng kì hạn đã thoả

thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì cán bộ tín dụng sẽ xem xét

đề xuất điều chỉnh kì hạn nợ, gia hạn nợ.

Khi khoản vay được phân loại là nợ xấu thì ban quản lí nợ xấu sẽ cùng theo

dõi và thực hiện theo các hướng dẫn về xử lí nợ xấu có liên quan.

Bước 8: Thanh lí hợp đồng tín dụng

Khi khách hàng đã trả hết nợ gốc và lãi, cán bộ tín dụng thực hiện kiểm tra,

đối chiếu về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí...để tất tốn khoản vay, thanh lí hợp đồng tín

dụng.

*Nhận xét:

Hiện nay ngân hàng đang thực hiện cho vay theo quy trình trên. Tuy nhiên đây

là quy trình còn tồn tại nhiều hạn chế. Cụ thể:

- Qua quy trình trên của chi nhánh có thể thấy đối với một khoản cho vay

trung và dài hạn, cán bộ tín dụng phụ trách sẽ phải thực hiện tồn bộ quy trình từ

việc đánh giá khách hàng, lập hồ sơ khoản vay, đánh giá và đăng kí giao dịch bảo

đảm, giải ngân và thu hồi nợ, hồn tồn khơng có bộ phận khác hỗ trợ. Điều này tạo

ra một khối lượng cơng việc khá lớn cho cán bộ tín dụng, đồng thời có thể dẫn đến

rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng trong q trình cho vay.

- Chưa có phòng thẩm định riêng nên vẫn lồng ghép nghiệp vụ vào với nghiệp

vụ tín dụng gây mất thời gian và giảm tính chính xác cho khâu thẩm định khách

hàng

- Khơng có thời gian quy định cụ thể cho từng khâu thẩm định dẫn đến tình

trạng một số dự án bị chậm trễ do q trình thu thập thơng tin của cán bộ tín dụng là

quá lâu gây thiệt hại về việc vay vốn và sản xuất của khách hàng.



13

1.2. Phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương

mại

1.2.1. Quan niệm phát triển cho vay trung và dài hạn

Như chúng ta đã biết, đối với các NHTM thì các khoản cho vay trung và dài

hạn thường là những khoản vay lớn và chứa đựng nhiều rủi ro nên đã có thời kì các

NHTM từ chối những khoản cho vay này. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế ngày

càng phát triển và sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong hệ thống ngân hàng

đã buộc các nhà ngân hàng phải thay đổi và mở rộng các dịch vụ cung ứng của

mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh, khơng những trong hệ thống ngân hàng mà

còn cả với các định chế tín dụng khác. Để làm được điều này yêu cầu ngân hàng

buộc phải đa dạng hóa các sản phẩm của mình, khơng chỉ dừng lại ở các sản phẩm

truyền thống là huy động vốn, tín dụng, thanh tốn, kinh doanh ngoại tệ… mà còn

phát triển các sản phẩm mới như cho vay tiêu dùng, tư vấn, dịch vụ cho thuê két,

dịch vụ ngân hàng trọn gói…

Như vậy, có thể thấy rằng tín dụng cho vay trung và dài hạn ra đời chính từ sự

phát triển của nền kinh tế thị trường cộng với sự canh tranh ngày càng gay gắt trong

hệ thống ngân hàng. Một lý do khác khiến tín dụng cho vay trung và dài hạn ra đời

và phát triển là việc giải quyết hai mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn

trung và dài hạn với khả năng thanh toán của khách hàng và mâu thuẫn giữa sản

xuất hàng hóa với tiêu thụ hàng hóa.

Ngày nay, lĩnh vực cho vay cho vay trung và dài hạn đang phát triển mạnh mẽ.

Nhiều cơng ty chun mơn hố đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện

đang mở rộng dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh

vực này cũng khơng còn chỉ do các ngân hàng và cơng ty tài chính thực hiện nữa

mà các cơng ty bảo hiểm, cơng ty chứng khốn, ngân hàng tiết kiệm bưu điện…vv

cùng tham gia cung cấp dịch vụ này.

1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của

ngân hàng thương mại

1.2.2.1. Khái niệm phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn

Phát triển là một khái niệm bao quát và tồn diện hơn tăng trưởng, phát triển

có được là nhờ sự biến đổi cả về lượng và chất. Lượng đó chính là tăng trưởng, chất



14

chính là việc xem xét xem sự tăng trưởng có đảm bảo về chất lượng và sự bền vững

hay khơng, và mang lại lợi ích thực tế gì cho các chủ thể có liên quan của đối tượng

cần nghiên cứu.

Như vậy, nói đến việc phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn thì khơng

chỉ là sự tăng về quy mơ mà còn được hiểu là nâng cao chất lượng của hoạt động.

Phát triển vừa hướng đến mục tiêu về lượng như tăng doanh số cho vay, tăng

số lượng khách hàng, lợi nhuận cho ngân hàng, thoả mãn nhu cầu tài chính của

khách hàng, đáp ứng các nhu cầu về vốn của nền kinh tế....Nhưng cũng vừa hướng

đến mục tiêu về chất là tăng trưởng an tồn và bền vững mang lại khơng chỉ lợi ích

kinh tế mà còn là lợi ích xã hội cho cả khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế, đồng

thời tạo ra những tiền đề để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu trong tương lai.

1.2.2.2. Đối với ngân hàng thương mại

- Thông qua việc phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn, các ngân hàng

có thể thiết kế cho mình một danh mục sản phẩm dịch vụ đa dạng, mang tính đặc trưng

riêng nhằm tạo ấn tượng, lôi kéo được khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, nâng

cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.

- Phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn là một biện pháp giúp ngân

hàng phân tán rủi ro cũng như đạt được mục tiêu lợi nhuận.

1.2.2.3. Đối với khách hàng

Khi ngân hàng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn, cũng có nghĩa là

giúp khách hàng tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, sẽ làm thoả mãn

nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của

khách hàng. Đặc biệt trong trường hợp khách hàng có những nhu cầu tài chính cấp

bách thì họ sẽ nhận biết rõ hơn lợi ích của việc mở rộng hoạt động cho vay trung và

dài hạn của ngân hàng.

1.2.2.4. Đối với nền kinh tế

- Phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn cũng góp phần gián tiếp vào

việc tài trợ cho hoạt động sản xuất của nền kinh tế, góp phần lưu thơng vốn, hàng

hố, dịch vụ, kích thích mở rộng sản xuất kinh doanh trong nước, nhằm đáp ứng tốt

hơn yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.



15

Như vậy, việc phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn là một tất yếu

khách quan, không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng, mà còn mang lại những lợi

ích cao hơn cho khách hàng và cả nền kinh tế.

1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng

thương mại

1.2.3.1. Mức tăng doanh số cho vay trung và dài hạn

Doanh số cho vay trung và dài hạn phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải

ngân cho khách hàng vay trong kỳ. Con số này thể hiện xu hướng hoạt động cho

vay trung và dài hạn mở rộng hay thu hẹp và tốc độ tăng trưởng cho vay trung và

dài hạn của ngân hàng. Khi doanh số cho vay lớn cho thấy ngân hàng có uy tín và

có khả năng thu hút khách hàng. Mức tăng doanh số cho vay trung và dài hạn trên

thị trường càng cao thể hiện khả năng sinh lời của các sản phẩm cho vay trung và

dài hạn của các NHTM cũng cao hơn, uy tín của ngân hàng tương đối tốt và có khả

năng thu hút khách hàng, do đó đây là một trong những chỉ tiêu được sử dụng để

đánh giá hoạt động cho vay trung và dài hạn trong từng thời kỳ. Chỉ tiêu này được

xác định như sau:

Mức tăng doanh số



=



Doanh số cho vay



-



Doanh số cho vay



cho vay T&DH trong kỳ

T&DH cuối kỳ

T&DH đầu kỳ

Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay trung dài hạn phản ánh mức tăng

trưởng trong hoạt động cho vay trung, dài hạn của ngân hàng, thể hiện chất lượng

hoạt động cho vay trung dài hạn xét về quy mô. Mức tăng trưởng doanh số cho vay

trung, dài cao và ổn định qua các năm thể hiện khoản cho vay tốt và ngược lại.

Trong điều kiện đáp ứng yêu cầu về giới hạn an toàn do Ngân hàng trung ương quy

định trong từng thời kỳ thì mức tăng doanh số cho vay trung và dài hạn càng lớn thì

cơng tác cho vay trung và dài hạn càng phát triển.

1.2.3.2. Hệ số thu nợ trung và dài hạn

Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn trung và dài hạn mà ngân hàng đã cho vay và

đã thu hồi về, được xác định như sau:

Hệ số thu nợ

trung và dài hạn



Doanh số thu nợ T&DH

= Doanh số cho vay



x 100%



16

Chỉ tiêu này đánh giá kết quả khoản cho vay trung và dài hạn trong công tác

thu hồi nợ của ngân hàng. Đồng thời chỉ tiêu này cũng nói lên thiện chí và khả năng

trả nợ của khách hàng, với doanh số cho vay nhất định thi ngân hàng sẽ thu được

bao nhiêu đồng vốn trung và dài hạn, do đó chỉ tiêu này càng cao càng tốt cho ngân

hàng.

1.2.3.3. Chỉ tiêu nợ quá hạn trung và dài hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận

ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ khơng trả được vào kỳ hạn nợ và

khơng được ngân hàng gia hạn nợ thì tồn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được

chuyển thành nợ quá hạn. Đây là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng của một khoản

tín dụng. Trong đó, để xác định tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn sử dụng công

thức:

Nợ quá hạn T&DH



Tỷ lệ nợ quá hạn



=



trung và dài hạn



Tổng dư nợ T&DH



x 100%



Các chỉ tiêu trên cho thấy trong 100% tổng dư nợ thì có bao nhiêu % là nợ q

hạn và cụ thể trong 100% dư nợ trung và dài hạn thì có bao nhiêu % là nợ quá hạn

trung và dài hạn. Trên thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ nợ

quá hạn trung và dài hạn tới mức thấp nhất có thể. Do tỷ lệ này càng nhỏ cho thấy

tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ trung và dài hạn thấp thì rủi ro tín dụng thấp hay

kết quả khoản cho vay trung và dài hạn càng cao.

1.2.3.4. Chỉ tiêu nợ xấu trung và dài hạn

Nợ xấu là loại nợ thuộc các nhóm 3 đến nhóm 5, bao gồm các khoản: Nợ dưới

tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Theo đó, nếu tỷ lệ này càng cao

thì chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh

giá chất lượng của một khoản vay. Trong đó, để xác định tỷ lệ nợ xấu trung và dài

hạn sử dụng công thức:

Tỷ lệ nợ xấu

trung và dài hạn



Số dư nợ xấu trung và dài hạn

=



Tổng dư nợ trung và dài hạn



x 100%



Các chỉ tiêu trên phản ánh tỷ lệ % nợ xấu của toàn bộ hoạt động cho vay

chung, cũng như riêng trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Do đó nếu tỷ lệ



17

này cao sẽ cho thấy món vay của ngân hàng có kết quả thấp hoạt động của ngân

hàng đang khơng có hiệu quả. Do vậy chỉ tiêu này càng thấp càng tốt bởi cho thấy

kết quả hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng được nâng cao hơn.

1.2.3.5. Chỉ tiêu lợi nhuận trung và dài hạn

Hoạt động cho vay luôn được coi là hoạt động “xương sống” đem lại nguồn

thu nhập chủ yếu cho ngân hàng để tổn tại và phát triển. Khơng thể nói một khoản

cho vay đạt kết quả cao khi nó khơng mang lại khoản thu nào cho ngân hàng. Chính

bởi vậy, đế có thể phân tích và đánh giá được hoạt động cho vay trung và dài hạn thì

đây ln là một chỉ tiêu được xem xét và chú ý.

Tỷ lệ lợi nhuận thu từ

cho vay T&DH



Lợi nhuận thu từ cho vay T&DH

=



x 100%



Tổng dư nợ T&DH



Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời của các khoản cho vay trung và dài

hạn, nó nêu lên số lãi thu được từ một đồng dư nợ trung và dài hạn. Nhìn chung nếu

như các chỉ tiêu khác của các dự án cho vay trung và dài hạn như nhau thì dự án nào

đem lại lợi nhuận cao hơn vẫn thường được các ngân hàng ưu ái hơn.

1.2.3.6. Chỉ tiêu vòng quay của vốn trung và dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thu nợ trung và dài hạn theo kế hoạch trong

hợp đồng tín dụng được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới, được xác định

như sau:

Chỉ tiêu vòng quay

của vốn T&DH



Doanh số thu nợ T&DH

=



Dư nợ T&DH bình qn trong kỳ



Trong đó:

Dư nợ trung

Dư nợ trung và dài hạn

bình quân trong kỳ



và dài hạn đầu kỳ



Dư nợ trung

+



và dài hạn cuối kỳ



= 2



Ngân hàng thu nợ trung và dài hạn theo kế hoạch thỏa thuận trong hợp đồng

tín dụng. Sau đó lại tiến hành cho vay dự án mới, vòng quay vốn trung và dài hạn

nhỏ hơn hoặc bằng chu kỳ sản xuất kinh doanh chứng tỏ khách hàng hoàn trả nợ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×