Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



(Nguồn: Báo cáo chi NSNN theo MLNS của KBNN Phúc Thọ từ năm ngân

sách 2012 đến năm 2014)

Nhìn vào cơ cấu chi thường xuyên NSNN của các đơn vị SNCL tự chủ

tài chính theo 4 nhóm mục chi của MLNS ta thấy:

- Nhóm mục 1: Các khoản thanh tốn cho cá nhân, tức là NSNN chi

cho con người, đó là đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các đơn vị

SNCL tự chủ về tài chính hàng năm ln chiếm từ trên 80% tổng số chi

thường xuyên NSNN. Lương chi trả chưa đủ bù đắp cuộc sống cho cán bộ

nhân viên.

- Nhóm mục 02: Chi nghiệp vụ chun mơn. Đây là các khoản chi đảm

bảo cho hoạt động của toàn bộ bộ máy của các cơ quan nhà nước. Với cơ cấu

chi trên 15% tổng chi thường xuyên NSNN. Với cơ cấu chi này trong điều

kiện hiện nay có thể cho là phù hợp. Cần thực hành tiết kiệm chống lãnh phí

để sử dụng và làm việc chun mơn hiệu quả hơn

- Nhóm mục 03: Chi mua sắm, sửa chữa. Cơ cấu nhóm chi này chiếm

từ khoảng 1.47% đến gần 3% hàng năm. Chúng ta cần xác định khoản chi này

sao cho có hiệu quả nhất, làm sao máy móc thiết bị mua sắm đáp ứng u cầu

của cơng tác quản lý, mua được những phần mềm ứng dụng có hiệu quả trong

các đơn vị SNCL sử dụng NSNN, Việc mua sắm sửa chữa tài sản vẫn là vấn

đề đáng quan tâm trong các đơnvị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ



63



về tài chính

- Nhóm mục 04: Chi khác. Cơ cấu chi nhóm mục này chiếm từ khoảng

0.1 % đến 0.5% chi thường xuyên NSNN. Khoản chi này cần kiểm sốt chặt

chẽ nếu khơng sẽ gây thất thốt ngân sách nhà nước , gây lãng phí .

2. 3 Đánh giá tình hình kiểm sốt chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị

sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà

nước Phúc Thọ

2.3.1 Những kết quả đạt được

Thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của

Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,

tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cơng lập, cơng

tác kiểm sốt chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp

công lập đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:

Một là, qua kiểm sốt chi của KBNN Phúc Thọ đã đóng góp quan trọng

trong thực hiện Luật NSNN trên địa bànHuyệnPhúc Thọ.Thông qua cơ chế

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN, một mặt tạo điều kiện cho các đơn vị

dự toán chấp hành việc sử dụng vốn NSNN theo đúng dự toán được duyệt,

chấp hành đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ Nhà nước quy định. Đặc biệt là

các khoản chi trong lĩnh vực sửa chữa, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng… đã

từng bước đi vào nề nếp, theo cơ chế đấu thầu và chế độ hố đơn, chứng từ.

Tình trạng chi chạy kinh phí cuối năm, rút tiền mặt về quỹ của đơn vị để chi

cũng dần được hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn NSNN ngày càng được nâng

cao. Thông qua cơ chế KSC thường xuyên NSNN, KBNN đã kiên quyết từ

chối những khoản tiền chi sai mục đích, khơng đúng nội dung chi hoặc khơng

có trong dự tốn.

Hai là, đã quy định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan: Tài chính,

KBNN, cơ quan chủ quản, đơn vị sử dụng ngân sách trong KSC thường

xuyên NSNN. Sự chủ động của cơ quan tài chính đối với cơng tác dự tốn và



64



quyết tốn góp phần tăng cường tính chủ động và trách nhiệm của đơn vị

trong việc sử dụng kinh phí, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân

sách. Từ đó KBNN Phúc Thọ có căn cứ để quản lý và điều hành NSNN một

cách có hiệu quả.

Ba là,cùng với việc bảo đảm cho nguồn vốn của NSNN được sử dụng

đúng mục đích, thanh tốn đúng đối tượng, cơ chế KSC thường xuyên NSNN

qua hệ thống KBNN Phúc Thọ trong những năm vừa qua đã góp phần rất tích

cực vào việc giảm thiểu số lượng giao dịch tiền mặt bằng việc thanh toán cho

nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và chi lương cho các đơn vị sử dụng ngân

sách thơng qua hình thức chuyển khoản.

Bên cạnh kết quả đạt được của KBNN Phúc Thọ trong việc kiểm soát chi

đối với các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính thì xét từ góc độ

các đơn vị SNCL thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đã

tăng cường tính chủ động trong việc thúc đẩy quá trình sắp xếp lại biên chế ,

tổ chức, phân công lao động hợp lý, tăng cường ý thức tiết kiệm của đơn vị

trong việc sử dụng kinh phí nâng cao hiệu quả, chất lượng trong cơng việc.

Mặt khác việc sử dụng kinh phí khốn sẽ phù hợp hơn với thực tế của

mỗi đơn vị và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí ngân sách cấp,

góp phần nâng cao thu nhập cho cán bộ công chức, viên chức; đồng thời, giải

quyết chế độ, trợ cấp thêm cho những lao động dôi dư trong q trình sắp xếp

lại lao động. Qua đó, tạo điều kiện cho từng cán bộ phát huy được tối đa

những phẩm chất, năng lực sở trường của mình.

2.3.2 Hạn chế

2.3.2.1 Việc tiếp nhận hồ sơ và xử lý hồ sơ chưa thực hiện theo đúng

Quy trình “Một cửa”

Việc tiếp nhận hồ sơ, chứng từ, cán bộ KSC KBNN Phúc Thọ đã bỏ qua

một số khâu trong quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi ở bước tiếp nhận hồ sơ



65



và kiểm sốt chi. Đó là, việc khơng lập Phiếu giao nhận hồ sơ mẫu số

02/PHS-CTX theo QĐ 1116/QĐ-KBNN ngày 24 tháng 11 năm 2009 tại Phụ

lục số 01.

Về thời gian kiểm soát, thanh toán các khoản chi cho đơn vị sử dụng

ngân sách chưa được đảm bảo theo đúng Quy trình nghiệp vụ quy định: Đối

với tạm ứng tiền mặt thời hạn giải quyết không quá 60 phút, đối với thanh

toán trực tiếp: trường hợp thanh toán chi thường xuyên đơn giản, nhận hồ sơ

trong buổi sáng, kiểm soát chi và thanh toán vào buổi chiều, trường hợp thanh

toán khoản chi thường xun mà hồ sơ có tính phức tạp, thanh tốn tạm ứng:

nhận hồ sơ hơm nay, thanh tốn vào hơm sau. Tuy nhiên, có rất nhiều trường

hợp cán bộ KSC KBNN Phúc Thọ kiểm soát thanh toán quá thời gian quy

định nhưng Ban lãnh đạo chưa có biện pháp kiểm soát và chấn chỉnh.

Mặt khác, việc tiếp nhận hồ sơ, chứng từ KSC NSNN tại KBNN Phúc

Thọ đang thực hiện thủ cơng, KBNN Phúc Thọ vẫn chưa có một chương trình

quản lý trên máy về Quy chế chi tiêu nội bô, Phiếu giao nhận hồ sơ, một số

tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, kiểm soát việc chấp hành thời gian kiểm sốt,

thanh tốn. Những thơng tin trên chỉ được cán bộ KSC tự theo dõi thủ công

mà không có sự kiểm sốt, chỉ đạo của Kế tốn trưởng và Lãnh đạo KBNN do

vậy dẫn đến tình trạng cán bộ KSC không chấp hành tốt các quy định trong

Quy trình giao dịch “một cửa” trong việc giao nhận hồ sơ, thông báo từ chối

khách hàng và theo dõi thời gian kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN

nên đã xuất hiện một số hiện tượng cán bộ KSC nhũng nhiễu khách hàng, làm

mất uy tín của KBNN. Do vậy, KBNN Phúc Thọ cần xây dựng chương trình

phần mềm tin học theo dõi, giám sát việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ KSC để Lãnh

đạo các tổ liên quan và Ban lãnh đạo KBNN Phúc Thọ theo dõi, giám sát

công việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước được hiệu quả nhất.

2.3.2.2 Phương thức Kiểm soát chi mua sắm tài sản như hiện nay còn



66



bất cập dẫn đến thất thốt ngân sách nhà nước và sử dụng tài sản không có

hiệu quả

Như trong phần KSC đối với nhóm mục mua sắm tài sản, sửa chữa tài

sản có một thực tế là các đơn vị sử dụng ngân sách cùng mua sắm một loại tài

sản có cùng hãng sản xuất, cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, cùng nước sản xuất

nhưng giá trị thanh toán trên các hồ sơ, tài liệu gửi KBNN Phúc Thọ khác

nhau. có sự chênh lệch giá trị đến 20%, mặc dù có đầy đủ các thủ tục hồ sơ

mua sắm. Việc mua sắm như trên đã làm thất thốt NSNN, dẫn đến tình trạng

tham nhũng trong việc mua sắm tài sản công. Mặt khác, việc mua sắm tài sản

hiện nay ở một số đơn vị sử dụng ngân sách có xu hướng mua những tài sản

kém chất lượng, xuất xứ hàng hóa khơng rõ ràng, nhưng giá mua vẫn tương

đương với các hàng hóa cùng loại có chất lượng cao, điều này cũng dẫn đến

tình trạng thất thốt, lãng phí NSNN, tình trạng tham nhũng trong mua sắm tài

sản và sử dụng tài sản khơng hiệu quả. Vì vậy, cần có phương thức kiểm sốt

mua sắm mới để khắc phục tình trạng trên

2.3.2.3 Do u cầu kiểm sốt toàn bộ các khoản chi của đơn vị sử dụng

ngân sách

Luật NSNN quy định tất cả các khoản chi NSNN đều phải được KBNN

kiểm tra, kiểm soát trước khi thanh toán, cấp phát. Để thực hiện quy định này,

KBNN Phúc Thọ thực hiện kiểm soát trên từng hồ sơ, tài liệu chứng từ của đơn

vị sử dụng ngân sách mỗi khi thanh toán qua KBNN, các hồ sơ, chứng từ phải

đảm bảo có dự tốn được duyệt, đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức. Tuy nhiên,

qua khảo sát tại KBNN Phúc Thọ nhận thấy để thực hiện KSC theo đúng các

điều kiện này thì người cán bộ KSC KBNN phải am tường tất cả các chế độ chi

tiêu của từng đơn vị, từng ngành, từng lĩnh vực một. Đồng thời phải nắm vững

các định mức chi tiêu trong quy chế chi tiêu của từng đơn vị. Tại KBNN Phúc

Thọ đến thời điểm năm 2014 có 78 đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động các



67



lĩnh vực khác nhau sử dụng ngân sách thường xuyên mà chỉ có 4 cán bộ kiểm

soát chi đối với các đơn vị này đồng thời phải đảm nhiệm thêm cơng tác hạch

tốn kế tốn các khoản chi NSNN. Đây là yêu cầu quá cao so với đội ngũ cán

bộ KSC của KBNN Phúc Thọ. Mặt khác, để kiểm soát các khoản chi đảm bảo

điều kiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi khơng có cách nào khác là cán

bộ KSC KBNN phải kiểm tra, kiểm soát thực tế chi tiêu của đơn vị sử dụng

ngân sách có đúng chế độ khơng? Trên thực tế việc kiểm sốt này chỉ đáp ứng

được một phần vì khối lượng công việc KSC rất lớn. Hơn nữa cũng cần xác

định rằng, việc thực hiện khoản chi có đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức hay

khơng thì Thủ trưởng và Kế toán trưởng đơn vị sử dụng ngân sách là người ra

quyết định chi và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Do đó, KBNN cần

xác định mức độ kiểm soát của từng nội dung chi cho phù hợp để tránh chồng

chéo trong việc kiểm soát các khoản chi NSNN.

2.3.2.4 Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ chưa chủ động được nguồn vốn

thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ

Thơng thường về cuối năm các đơn vị thường mang hồ sơ mua sắm, sửa

chữa lớn đến thanh toán hoặc thực hiện thanh toán tạm ứng cuối năm rất

nhiều trong khi đó Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ chưa chủ động nguồn vốn vào

dịp cuối năm nguyên nhân do KBNN chưa thực hiện cam kết chi nên đầu năm

chưa có một khoản dự tốn dành sẵn thực hiện cho khoản chi đó nên cuối năm

có rất nhiều các khoản chi nên KBNN không chủ động được vốn nên ảnh hưởng

đến q trình thanh tốn cho các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ.

Mặt khác, trong những năm gần đây, vẫn xẩy ra tình trạng một số đơn vị

sử dụng ngân sách vẫn có thể thực hiện ký kết hợp đồng với nhà cung cấp hàng

hóa, dịch vụ trong khi chưa có dự tốn, hợp đồng mua sắm hàng hóa, dịch vụ

khơng phù hợp với nhiệm vụ được giao của đơn vị sử dụng ngân sách, hoặc

không phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu. Vì vậy, tại khâu thanh



68



tốn, chi trả, đã bị KBNN từ chối thanh toán và đơn vị sử dụng ngân sách

khơng có nguồn để thanh tốn, chi trả cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Dẫn đến tình trạng nợ đọng trong thanh tốn vẫn còn diễn ra tại một số đơn vị

sử dụng ngân sách, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế, gây thiệt hại cho các đơn vị

cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đây là vấn đề tồn tại trong quản lý chi tiêu công,

chưa minh bạch trong quản lý và sử dụng NSNN. Do vậy, cần có một cơ chế

cam kết trả nợ của đơn vị sư dụng ngân sách, đây là một yêu cầu cấp thiết trong

định hướng về cải cách công tác KSC NSNN đến năm 2020.

2.3.2.5 Việc kiểm sốt chi theo hình thức dự toán chưa gắn với hiệu quả

chi tiêu ngân sách nhà nước, chưa tạo được sự chủ động cho đơn vị sử dụng

ngân sách

Mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực đổi mới trong quản lý, kiểm soát

chi tiêu cơng, nhưng với phương thức cấp phát theo dự tốn (dự toán được

các đơn vị sử dụng ngân sách lập và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt)

và dựa trên các tiêu chuẩn, chế độ, định mức thì việc KSC của hệ thống

KBNN nói chung và KBNN Phúc Thọ nói riêng vẫn dựa theo phương thức

quản lý đầu vào, chưa chú trọng đến kết quả đầu ra. Việc KSC NSNN của

KBNN Phúc Thọ vẫn chú trọng đánh giá các nhân tố đầu vào được mua sắm

trong giới hạn ngân sách hơn là cải thiện kết quả thực hiện. Vì vây, cần đổi

mới phương thức quản lý, kiểm soát chi NSNN theo kết quả đầu ra, lấy kết

quả đầu ra làm thước đo hiệu quả của sử dụng NSNN.

2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm soát chi ngân

sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Một là, về chức năng, nhiệm vụ và năng lực kiểm soát chi NSNN qua

KBNN Phúc Thọ chưa đáp ứng được u cầu

Vai trò của KBNN nói chung đã được khẳng định là không thể thiếu và

rất quan trọng trong hệ thống kiểm soát ngân sách, tuy nhiên với quy định



69



hiện hành, KBNN Phúc Thọ chưa có chức năng kiểm sốt sau q trình thanh

tốn. Bên cạnh đó những khoản chi bằng Lệnh chi tiền do Phòng Tài Chính

chuyển sang, theo quy định của KBNN khơng có chức năng kiểm sốt. Chính vì

thế KBNN Phúc Thọ chưa thể kiểm sốt tồn bộ quy trình trước, trong và sau

thanh toán, do vậy KBNN Phúc Thọ chưa thể kiểm soát được nhiều khoản chi của

các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trên địa bàn Huyện.

Hai là, năng lực, trình độ cán bộ KBNN Phúc Thọ nói chung, cán bộ

trực tiếp làm cơng tác kiểm sốt chi NSNN nói riêng tuy đã được chú trọng

nâng cao chất lượng, song còn một số cán bộ đặc biệt là cán bộ trẻ vẫn bị giới

hạn về nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế chưa cao nên ảnh

hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác kiểm sốt chi thường xun NSNN

nói chung và cơng tác KSC thường xuyên đối với đơn vị sự nghiệp công lập

thực hiện cơ chế tự chủ. Mặt khác thêm một khối lượng cơng việc lớn, với

tính chất ngày một phức tạp hơn cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng cơng tác kiểm sốt chi của KBNN Phúc Thọ.

Ba là, cơ chế phối hợp trong kiểm soát chi NSNN chưa thống nhất, sự

phối hợp giữa Phòng Tài chính trên địa bàn HuyệnPhúc Thọ và KBNN Phúc Thọ

chưa thực sự đồng bộ và chưa thực sự có sự kết hợp chặt chẽ kịp thời để hỗ trợ

được cho nhau trong công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn. Hiện nay cơ chế,

lập, giao dự toán và nhập dự toán các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trách nhiệm

cơ quan tài chính, tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà dự tốn được nhập vào

chương trình còn chậm trễ và còn sai sót so với quyết định dự tốn.

Phòng Tài Chính thường thực hiện ghi thu, ghi chi các khoản phí từ

nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp công lập vào thời điểm cuối năm, thời

điểm mà cả Kho bạc và Tài chính đều rất bận rộn nên gây khó khăn trong

kiểm sốt chặt chẽ các khoản chi cho KBNN Phúc Thọ và đối chiếu số liệu

giữa các đơn vị.



70



Bốn là, hệ thống công nghệ thông tin mặc dù đã được chú trọng đầu tư

nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Năm 2012, Kho bạc

Nhà nước Phúc Thọ đã triển khai ứng dụng thành công dự án hệ thống thông

tin quản lý ngân sách và Kho bạc (Tabmis)- dự án được coi là có tính ưu việt

hơn hẳn so với chương trình cũ, có tính bảo mật cao. Tuy nhiên, đến thời

điểm hiện nay, chương trình TABMIS được đưa vào sử dụng chưa có nhiều

ứng dụng báo cáo khác nhau nên việc khai thác số liệu còn gặp nhiều khó

khăn, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu quản lý NSNN. Bên cạnh đó, hệ

thống mạng còn chậm, đơi lúc còn bị ngắt kết nối với máy chủ làm gián đoạn

công việc của cán bộ công chức.

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan

Một là, Hệ thống pháp luật hiện hành về NSNN chưa thực sự chặt chẽ và

đồng bộ, điển hình là cơ chế kiểm tra, KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

còn chưa thật chặt chẽ, còn dàn trải về chế độ chính sách; hiệu lực của hệ

thống KSC NSNN còn hạn chế, mới chỉ giới hạn ở kiểm soát hồ sơ chứng từ,

khi hồ sơ chi khơng đúng thì u cầu đơn vị làm lại mà khơng có chế tài sử lý

đơn vị; việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan quản

lý chưa thực sự rõ ràng, còn trùng lặp và chồng chéo; nhiệm vụ kiểm tra, KSC

NSNN còn phân tán ở nhiều cơ quan như lệnh chi tiền quy định do cơ quan tài

chính kiểm sốt nhưng lại khơng có đủ quy định để cơ quan tài chính kiểm sốt;

quy chế về đầu tư mua sắm, sửa chữa liên tục phải sửa đổi và bổ sung …

Các điều kiện để KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát chi NSNN mặc dù

đã được nghiên cứu bổ sung và sửa đổi nhiều lần như chế độ cơng tác phí, chi

tiêu hội nghị, mua sắm tài sản...,song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

Hệ thống, định mức, tiêu chuẩn chi còn thiếu và một số khoản chi chưa hợp

lý. Chế độ tiêu chuẩn định mức hiện tại đã làm ảnh hưởng lớn đến công tác

lập phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, cơng tác quy chế chi

tiêu nội bộ của đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Do vậy KSC



71



theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị chưa thực sự là căn cứ đáng tin cậy để

KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm sốt làm ảnh hưởng khơng nhỏ đến hiệu

quả công tác KSC ngân sách của KBNN Phúc Thọ.

Hai là, chất lượng dự toán chưa cao, chưa đảm bảo, còn phải điều chỉnh

tăng, giảm nhiều lần. Mặc dù đã giao quyền tự chủ cho các đơn vị SNCL

nhưng các đơn vị vẫn không được phân bổ hết dự tốn ngay từ đầu năm, còn để

bổ sung về cuối năm nên chưa tạo được tính chủ động cho đơn vị.

Ba là, ý thức trách nhiệm của đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

trong chấp hành chi ngân sách còn hạn chế như: Chi tiêu khơng đúng chế độ,

tiêu chuẩn định mức, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn sơ sài hoặc khơng

đúng với tiêu chuẩn quy định. …đặc biệt là căn cứ pháp lý và trách nhiệm xử

lý các sai sót và vi phạm chưa rõ ràng, kết quả KSC nếu không đúng thì chủ

yếu là nhắc nhở, u cầu hồn thiện hồ sơ chừng từ mà khơng có cơ chế xử lý

hoặc xử phạt cụ thể, nên hiệu quả KSC thường xuyên NSNN còn thấp.

Bốn là, cơ chế khốn kinh phí, khốn biên chế của chúng ta hiện nay còn

có loại khốn nhưng chưa giao khoán thực sự, giao khoán nhưng lại còn q

nhiều ràng buộc, nên hiệu quả của khốn kinh phí cho các đơn vị sử dụng

NSNN chỉ đạt được ở mức độ nhất định, các đơn vị SNCL chưa thực sự bung

hết khả năng của mình

Mặt khác, cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị

SNCL thực chất là một bước khởi đầu chuyển đổi cơ chế quản lý theo “đầu

vào” dần sang cơ chế quản lý theo “đầu ra” với nguyên tắc cơ bản là thực hiện

quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Tuy nhiên hiện nay chưa có thước đo để đánh giá đơn vị đã thực hiện trách

nhiệm của mình đến đâu. Và kiểm soát với kết quả đầu ra như thế nào?

Các cơ quan, đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng

đang gặp khó khăn trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của mình, nên

cơng tác quản lý, kiểm soát, giám sát trong nội bộ từng cơ quan và đơn vị

cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập.



72



Năm là, trình độ cán bộ của các đơn vị sử dụng NSNN còn yếu

Khả năng quản lý ở đơn vị sử dụng NSNN còn hạn chế, cán bộ nghiệp

vụ Tài chính của đơn vị thì khơng sâu về nghiệp vụ, khả năng nhận thức về

luật và các văn bản chế độ của Nhà nước rất kém, đặc biệt là cán bộ kế toán

tại các đơn vị SNCL thường xuyên thay đổi cho nên ảnh hưởng rất nhiều đến

cơng tác kế tốn của đơn vị. Đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến KSC của

KBNN Phúc Thọ.

Sáu là, Quy trình một cửa trong kiểm sốt chi thường xuyên NSNN theo

Quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009 có một số điểm chưa phù

hợp với thực tế đang diễn ra hiện nay. Quy định thời gian giải quyết cơng việc

còn chưa linh hoạt, chưa sát với thực tế đặt ra, quy định về thời gian có chỗ

còn chưa rõ ràng gây một số khó khăn nhất định đối với hoạt động kiểm sốt

chi của KBNN Phúc Thọ. Chưa có quy định cụ thể về hồ sơ lưu trữ tại KBNN

đối với từng khoản chi nên còn gây nhiều tranh cãi.

Bảy là, Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà Nước chưa hướng dẫn kịp thời

chính sách giải ngân ở thời kỳ kiềm chế lạm phát, ví dụ như hướng dẫn Nghị

quyết 11 của Chính Phủ chưa kịp thời gây lúng túng cho các cán bộ thực hiện

cơng tác kiểm sốt chi của Kho bạc Nhà nước.

Kết Luận: Trên đây là những trình bày tổng quan về tổ chức bộ máy

hoạt động của KBNN Phúc Thọ; khái quát tình hình chi thường xun NSNN

và thực trạng cơng tác kiểm sốt chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập

thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc nhà nước Phúc Thọ giai đoạn

2012-2014. Từ đó đánh giá tình hình kiểm soát chi NSNN những kết quả đạt

được và hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm sốt chi

NSNN qua KBNN Phúc Thọ. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến

nghị nhằm hoàn thiện cơng tác kiểm sốt chi NSNN qua KBNN Phúc Thọ đối

với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×