Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của KBNN Phúc Thọ

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của KBNN Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



Vì vậy, chất lượng cơng tác kiểm sốt chi phụ thuộc rất lớn vào trình độ

cán bộ làm cơng tác quản lý tài chính nói chung và quản lý chi NSNN nói

riêng. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có trình độ chun sâu về quản lý tài

chính, am hiểu về các lĩnh vực chun ngành mình quản lý, có phẩm chất đạo

đức tốt…Yêu cầu trên không chỉ đối với cán bộ làm cơng tác kiểm sốt chi ở

các cơ quan Tài chính, KBNN mà còn bao gồm cả cán bộ quản lý tài chínhkế tốn ở các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN.

Bên cạnh đó, bộ máy kiểm soát chi ngân sách phải được tổ chức khoa

học, thống nhất, đồng bộ từ cơ quan quản lý nhà nước, phân bổ dự toán, cơ

quan kiểm soát chi tiêu cho đến đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách. Nếu việc

tổ chức bộ máy kiểm sốt chi khơng thống nhất, chồng chéo hoặc phân tán ra

nhiều đầu mối thì sẽ dẫn đến tình trạng cắt khúc trong quản lý, làm hạn chế

hiệu quả kiểm soát chi .

Hai là: Về cơ sở vật chất kỹ thuật

Hiện đại hóa cơng nghệ KBNN là một trong những điều kiện quan trọng

góp phần nâng cao chất lượng công tác KSC NSNN qua KBNN. Ứng dụng

công nghệ tin học hiện đại vào hoạt động KBNN sẽ mang lại nhiều lợi ích

thiết thực đến tồn bộ hoạt động quản lý quỹ NSNN. Nhất là trong hoàn cảnh

hiện nay khi khối lượng chi thường xuyên NSNN qua KBNN ngày càng lớn

và nhiều, thì việc phát triển ứng dụng công nghệ sẽ tiết kiệm thời gian giải

quyết công việc, đảm bảo cơng việc được diễn ra nhanh chóng, chính xác và

an tồn.

Hạ tầng cơng nghệ lớn mạnh, hiện đại và an toàn là cơ sở cho việc kết

nối, trao đổi thơng tin giữa KBNN, cơ quan tài chính và đơn vị sử dụng ngân

sách, giúp cho giao dịch ngày càng thuận tiện, tăng tính minh bạch đối với

cơng tác KSC nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách.

1.3.2 Nhân tố khách quan

Một là: Trình độ phát triển kinh tế, xã hội và sự ổn định chính trị của đất nước



30



Trình độ phát triển kinh tế, xã hội có ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân

sách nhà nước.Qui mô nguồn thu sẽ quyết định đến nguồn để chi NSNN. Mà

có nguồn chi thì sẽ tính tới cơng tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN.

Chúng ta đều biết rằng nguồn thu chủ yếu của NSNN hiện nay là từ thuế và

khai thác nguồn tài nguyên quốc gia, đó là từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh

và dịch vụ...trình độ phát triển kinh tế, xã hội càng cao thì các nguồn thu cho

NSNN càng lớn, đồng thời cũng khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên

nhiên, đất đai thuận lợi cho việc khai thác nguồn thu. Mặt khác, khi cơ sở hạ

tầng kinh tế, kỹ thuật đồng bộ và tốt hơn nên sẽ thu hút được các nhà đầu tư

vào đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

kinh tế, tăng thu cho ngân sách. Vì thế, tùy vào từng đặc điểm cụ thể về trình

độ phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ là một trong những yếu tố quyết

định để có cơ sở từng bước hồn thiện cơng tác KSC thường xuyên NSNN

qua KBNN.

Sự ổn định chính trị của đất nước

Chúng ta biết, yếu tố quan trọng và cơ bản cho sự phát triển của đất nước

là phải có sự ổn định về chính trị, an ninh quốc gia. Có ổn định về chính trị thì

kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới đạt được và các nhà đầu tư từ mọi nơi

trong và ngoài nước đưa vốn và kỹ thuật, công nghệ vào nước ta để kinh doanh

và làm ăn lâu dài. Như thế chúng ta mới phát triển được kinh tế, từ đó mới có

nguồn thu cho NSNN yếu tố quyết định đến chi thường xuyên NSNN.

Hai là: Hệ thống luật pháp và chế độ, chính sách về chi thường xuyên

ngân sách nhà nước

Khi Luật ngân sách nhà nước được ban hành, thì cơ chế KSC thường

xuyên NSNN qua KBNN mới được hình thành và đi vào cuộc sống. Sau khi

Luật Ngân sách nhà nước ra đời thì một loạt chế độ chính sách về quản lý và

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN được ban hành, đó là Nghị định của



31



Chính phủ, các thơng tư hướng dẫn của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành chức

năng, các văn bản của KBNN. Đây là hệ thống chế độ, chính sách làm cơ sở

cho KBNN thực hiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN. KBNN không thể

thực hiện cơ chế KSC thường xun NSNN được nếu như khơng có hệ thống

hệ thống luật pháp và chế độ, chính sách về chi thường xuyên NSNN.

Hiện nay, hệ thống luật pháp và chế độ, chính sách chi theo cơ chế KSC

cho các đơn vị SNCL của chúng ta hiện nay ban hành đã khá đầy đủ, đồng bộ

và tương đối sát với thực tiễn cuộc sống. Nhưng do chi thường xuyên NSNN

đa dạng, phức tạp và rộng khắp, đồng thời chịu tác động của nhiều yếu tố

khách quan và chủ quan khác nhau, nên nhiều khi ban hành còn thiếu cơ sở

thực tế để thực hiện, có tình trạng chưa đồng bộ.

Định mức chi tiêu ngân sách là mức chuẩn làm căn cứ, tính tốn, xây

dựng, phân bổ dự tốn để KSC. Nếu hệ thống định mức chi tiêu NSNN xa rời

thực tế, thì việc tính tốn, phân bổ dự tốn chi khơng khoa học và chính xác

dẫn đến tình trạng thiếu căn cứ để KSC. Bên cạnh đó, đơn vị sử dụng NSNN

thường phải tìm mọi cách để hợp lý hóa các khoản chi cho phù hợp với những

định mức đã lạc hậu nên dễ vi phạm kỷ luật tài chính. Định mức chi tiêu càng

cụ thể, càng chi tiết sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN nói

chung và hiệu quả cơng tác KSC KBNN nói riêng.

Tuy nhiên do tính chất đa dạng của đơn vị sử dụng NSNN, do tác động

của các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng nên việc ban hành

đồng bộ và ổn định hệ thống định mức là hết sức khó khăn và phức tạp.

Ba là: Về ý thức chấp hành của các đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN

cần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành Luật của các đơn vị sử dụng kinh

phí do NSNN cấp, làm cho họ thấy rõ việc kiểm soát chi là trách nhiệm của

các ngành, các cấp, các đơn vị cá nhân có liên quan đến quản lý quỹ NSNN

chứ không phải là công việc riêng của ngành Tài chính, KBNN. Các ngành,



32



các cấp cần thấy rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN từ

khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh tốn kinh phí, kế tốn và

quyết tốn các khoản chi NSNN.

Bốn là: Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền và các cấp

quản lý NSNN

Theo Luật Ngân sách nhà nước hiện nay, Quốc hội quyết nghị dự toán

ngân sách trung ương và trợ cấp cho ngân sách địa phương. Hội đồng nhân

dân tỉnh, thành phố quyết nghị dự tốn ngân sách cấp mình và trợ cấp cho

ngân sách cấp dưới. Tương tự như vậy đối với ngân sách Huyện, Huyện, thị

xã ...Bộ Tài chính căn cứ vào quyết nghị của Quốc hội ra quyết định giao dự

toán chi NSNN cho các Bộ, ban, ngành ở trung ương và trợ cấp ngân sách cho

các địa phương. Tại tỉnh, thành phố, UBND tỉnh, thành phố căn cứ vào quyết

nghị chủ HĐND tỉnh ra quyết định giao dự toán chi thường xuyên ngân sách

cho các sở, ban, ngành và trợ cấp cho ngân sách Huyện, huyện, thành phố,

tương tự như vậy với ngân sách Huyện, huyện, thành phố...Nhận được quyết

định giao dự toán các đơn vị dự toán cấp I phân bổ dự toán cho các đơn vị sử

dụng NSNN. Như vậy các đơn vị sử dụng NSNN có quyết định giao dự tốn

của cơ quan chủ quản thì mới đến KBNN làm thủ tục kiểm soát chi và rút

kinh phí. Do đó, năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền và các

cấp quản lý NSNN sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế KSC thường xuyên

NSNN qua KBNN nói chung và cơ chế KSC đối với đơn vị sự nghiệp công

lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính nói riêng.

Năm là: Các nhân tố khách quan khác.

- Việc các cơ quan đề ra cơ chế, chính sách quản lý và phát triển kinh tế

xã hội: chính sách chế độ tiền lương của cán bộ cơng chức, chính sách nâng

cao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ...

- Ý thức tự giác chấp hành chế độ chi tiêu của các đơn vị sự nghiệp công

lập: cần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành luật pháp của các đơn vị



33



SNCL.

Ngoài ra còn một số yếu tố với tư cách là những công cụ hỗ trợ, muốn

thực hiện tốt công tác KSC đòi hỏi chúng ta cũng cần phải quan tâm đến như:

hệ thống kế tốn nhà nước, hệ thống MLNS, cơng nghệ thanh tốn trong nền

kinh tế nói chung,...



34



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ

TÀI CHÍNH CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC PHÚC THỌ

2.1. Vài nét về chi NSNN tại KBNN Phúc Thọ



2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của KBNN Phúc Thọ

KBNN Phúc Thọ ra đời ngay từ khi hệ thống KBNN được thành lập và

đi vào hoạt động từ ngày 1/4/1990. Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát

triển, chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, quy mô hoạt động cũng như tổ chức bộ

máy của KBNN Phúc Thọđã được mở rộng hơn rất nhiều so với ngày mới

thành lập, đặc biệt là các lĩnh vực quản lý thu NSNN, kiểm soát chi NSNN,

huy động vốn cho đầu tư phát triển, quản lý cấp phát vốn đầu tư XDCB và

các CTMTQG.

Kể từ khi thành lập cho đến nay, KBNN Phúc Thọđã không ngừng nỗ

lực vươn lên, từng bước khẳng định vai trò, vị trí với nhiều đóng góp tích cực

vào tiến trình thực hiện các chính sách tài chính – tiền tệ của địa phương, tập

trung chủ yếu vào công tác quản lý quỹ NSNN các cấp trên địa bàn huyện, và

luôn nỗ lực phấn đấu để hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác được địa phương

và KBNN cấp trên giao phó.

Cùng với việc giữ vững truyền thống tuyệt đối đảm bảo an ninh, an toàn

trong các hoạt động nghiệp vụ, trong thanh toán và trong quản lý tiền, tài sản

của Nhà nước, KBNN Phúc Thọluôn chủ động phối hợp với các cơ quan thu,

cải tiến, hợp lý hóa, tổ chức tốt cơng tác thu NSNN, góp phần quan trọng vào

việc thực hiện nhiệm vụ thu NSNN hằng năm của địa phương. Về cơng tác

kiểm sốt chi NSNN, KBNN Phúc Thọln chú trọng nâng cao chất lượng và

thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ, đúng quy trình, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi

của cơ quan, tổ chức trên địa bàn, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng

phí, hạn chế việc thất thoát tiền và tài sản của Nhà nước.



35



Hiện nay KBNN Phúc Thọcó 01 điểm thu đặt tại Chi nhánh Ngân hàng

nông nghiệp và phát triển nông thôn Phúc Thọtheo đề án hiện đại hóa thu

NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu thu nộp Ngân sách của các doanh nghiệp Nhà

nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, doanh nghiệp Nhà nước ngoài

quốc doanh và các đối tượng được thiết lập kê khai mã số thuế thu nhập cá

nhân; về chi ngân sách: Có 153 đơn vị là đầu mối sử dụng chi Ngân sách

thường xuyên; trong đó có 10 đơn vị dự toán cấp trung ương, 7 đơn vị dự toán

cấp thành phố,đơn vị 105 dự toán cấp huyện đơn vị; 8 dự toán cấp huyện và

23 đơn vị dự tốn cấp xã; ngồi ra còn có rất nhiều đơn vị mở tài khoản chi

đầu tư với kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm hơn 215 tỷ đồng.

Tổng số cán bộ cơng chức hiện có tại KBNN Phúc Thọlà 15 đồngchí,

trong đó:

- Đảng viên:

9 đồng chí, chiếm 78%,

- Trình độ đại học:

10 đồng chí, chiếm 67%,

- Trình độ trung cấp:5 đồng chí, chiếm 33%.

2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của KBNN Phúc Thọ và bộ máy hoạt động

của KBNN Phúc Thọ

Cơ cấu tổ chức KBNN Phúc Thọ hiện nay gồm có ban giám đốc và các

bộ phận chun mơn: Tổ kế tốn, tổ tổng hợp hành chính và tổ kho quỹ.

Thẩm quyền, trách nhiệm của lãnh đạo KBNN Phúc Thọ cũng như nhiệm vụ

của từng bộ phận chuyên môn đều được xác định rõ ràng và được thực hiện

một cách nghiêm chỉnh.

Sơ đồ tổ chức bộ máy KBNN Phúc Thọ theo Quyết định số 163/QĐ-KBNN

ngày 17/3/2013:



36



Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của KBNN Phúc Thọ

Giám đốc KBNN Phúc Thọ là người chịu trách nhiệm chung cao nhất về

hoạt động của toàn đơn vị, đồng thời trực tiếp phụ trách bộ phận tổng hợphành chính và cơng tác kho quỹ.

Phó Giám đốc KBNPhúc Thọ có trách nhiệm trực tiếp phụ trách bộ phận

kế tốn và thực hiện các nhiệm vụ quản lý khác cùng với Giám đốc, có thể

thay mặt Giám đốc khi được ủy quyền.

Tổ Kế tốn có nhiệm vụ thực hiện cơng tác kế toán NSNN và hoạt động

nghiệp vụ KBNN theo quy định; kiểm tra, đối chiếu và xác nhận số liệu thu,

chi NSNN tại KBNN; mở tài khoản, kiểm tra tài khoản tiền gửi và thực hiện

thanh toán đối với các đơn vị sử dụng NSNN; tổ chức thanh toán, quyết toán

liên kho bạc tại KBNN; tổng hợp quyết toán các hoạt động nghiệp vụ KBNN

trên địa bàn theo quy định.

Tổ Tổng hợp – Hành chính có nhiệm vụ giúp Giám đốc phối hợp với các

bộ phận có liên quan trong việc triển khai thực hiện các chính sách chế độ về

quản lý quỹ NSNN; phát hành và thanh toán cơng trái, trái phiếu Chính phủ;



37



thực hiện kiểm sốt thanh tốn, quyết tốn vốn đầu tư XDCB, vốn sự nghiệp

có tính chất đầu tư, vốn chương trình mục tiêu theo sự phân công của KBNN

cấp trên; quản lý cơ sở vật chất và thực hiện cơng tác hành chính, văn thư, bảo

vệ; tổ chức công tác thống kê KBNN, tham gia ý kiến về các chủ trương phát

triển kinh tế xã hội và điều hành tài chính tại địa phương.

Tổ Kho quỹ có nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ thu, chi tiền mặt với các cơ

quan, đơn vị, cá nhân tới giao dịch tại KBNN; bảo quản an toàn tiền mặt, ấn chỉ

có giá, vàng, bạc, kim khí, đá quý (nếu có) do KBNN quản lý, các tài sản tạm thu,

tạm giữ và tịch thu theo quy định của các cơ quan có thẩm quyền; thống kê, tổng

hợp và báo cáo các mặt hoạt động nghiệp vụ kho quỹ theo chế độ quy định.

2.1.3.Tình hình chi ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ



Tổng hợp toàn bộ kinh phí KSC thường xuyên NSNN đối với đơn vị sự

nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính bao gồm bốn nhóm: Các

khoản thanh tốn cá nhân, Chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm và chi

khác được thể hiện qua bảng tổng hơp sau:

Bảng số 2.1 Báo cáo chi của các đơn vị giai đoạn 2012-2014

Đơn vị tính: triệu đồng



(Nguồn: Báo cáo chi NSNN theo MLNS của KBNN Phúc Thọ từ năm ngân

sách 2012 đến năm 2014)

Nhìn vào cơ cấu chi thường xuyên NSNN theo 4 nhóm mục chi của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của KBNN Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×