Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng số 2.4: Tình hình chi mua sắm tài sản của các đơn vị sự nghiệpcông lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Bảng số 2.4: Tình hình chi mua sắm tài sản của các đơn vị sự nghiệpcông lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

56



quyền nhãn hiệu thương mại, mua phần mềm máy tính. Đây là khoản chi rất

cần thiết để ứng dụng công nghệ mới vào quản lý trong cơ quan Nhà nước.

Tuy vậy việc sử dụng kinh phí này từ NSNN trên địa bàn HuyệnPhúc Thọ

trong những năm từ 2012 đến năm 2014 còn rất hạn chế, năm 2012 số chi đạt

982 triệu đồng, năm 2013 là 9 triệu đồng, và năm 2014 lên đến 756 triệu

đồng, đây là việc đáng phải suy nghĩ và điều chỉnh chi phù hợp hơn trong

thời gian tới.

- Mục 9050 mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn như: Mô tô;

ô tô con, ô tô tải; xe chuyên dùng; đồ gỗ, sắt, mây tre, nhựa (cao cấp); trang

thiết bị kỹ thuật chuyên dụng; điều hòa nhiệt độ, nhà cửa; thiết bị phòng cháy,

chữa cháy; sách, tài liệu và chế độ dùng cho công tác chun mơn; thiết bị

văn phòng, thiết bị tin học; máy photocopy; máy fax; máy phát điện; máy

bơm nước; tài sản khác. Các loại tài sản trên phục vụ cho thực hiện nhiệm vụ

của các cơ quan nhà nước. Qua bảng số liệu có thể thấy cơ cấu khoản chi cho

mua sắm chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số chi thường xuyên của các đơn

vị SNCL. Năm 2012 số chi mua sắm là 28 tỷ 153 triệu đồng, năm 2013 số

chi: 27 tỷ 397 triệu đồng, số chi năm 2014 là: 10 tỷ 672 triệu đồng. Kết quả

chi cho mua sắm năm 2014 giảm so với năm 2013 nguyên nhân chủ yếu là do

sự hạn chế mua sắm mới tài sản theo tinh thần Chính Phủ nhằm thực hiện

mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Theo đó các đơn vị sử dụng ngân sách phải tạm dừng trang bị mới xe ơ tơ,

điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng... nhưng trong thực tế khi triển khai thực

hiện đã gặp khá nhiều vướng mắc như việc quy định tạm dừng mua sắm trang

thiết bị văn phòng, nhưng khơng được giải thích rõ thiết bị văn phòng bao

gồm những loại nào, phải chăng nó bao gồm tất cả các loại trang thiết bị và

phương tiện làm việc, cũng như văn phòng phẩm và công cụ dụng cụ làm việc

cho cơ quan đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước? Đã có rất nhiều tranh luận



57



trái chiều về vấn đề này. Lấy ví dụ như việc tạm dừng mua máy tính xách tay,

máy vi tính để bàn,...thì sự khơng rõ ràng của văn bản hướng dẫn thể hiện ở

chỗ khi nào máy tính được gọi là thiết bị văn phòng, khi nào được gọi là thiết

bị chuyên môn nghiệp vụ? Khi máy tính được dùng ở văn phòng các cơ quan

hành chính sự nghiệp thì đã nói rõ là thiết bị văn phòng. Nhưng khi máy tính

dùng trong khám chữa bệnh và chuẩn đốn hình ảnh, điều trị bệnh cùng với

thiết bị y tế khác thì có được gọi là thiết bị văn phòng hay khơng? Máy vi

tính dùng trong phòng thí nghiệm, các cơ sở nghiên cứu khoa học, dùng cho

giáo viên, giảng viên sử dụng trong giảng dạy... có được quan niệm là nhất

thiết là thiết bị văn phòng hay khơng? Từ việc xác định rạch ròi này mới xác

định được trường hợp nào mua sắm máy tính được giải ngân. Nếu khơng có

được giải thích rõ ràng sẽ rất dễ gây khó khăn cho KBNN khi kiểm sốt

những món chi này. Đây cũng là một khó khăn trong cơng tác kiểm sốt chi

của KBNN Phúc Thọ.

Nhìn chung, cơng tác kiểm soát các khoản mua sắm, sửa chữa qua

KBNN Phúc Thọ thực hiện khá chặt chẽ. Công tác triển khai các văn bản mới

về KSC ngân sách nhà nước từ ban lãnh đạo KBNN Phúc Thọ đến cán bộ làm

công tác KSC luôn được thực hiện thường xuyên và kịp thời đảm bảo đúng

chế độ. Thêm vào đó là sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của cán bộ KBNN

Phúc Thọ tới các đơn vị SNCL về các quy định của Nhà nước trong KSC

thường xuyên NSNN, nên các đơn vị đã chủ động hơn về mặt hồ sơ, chứng từ

góp phần tăng hiệu quả KSC qua Kho Bạc nhà nước.

Hồ sơ mua sắm, sửa chữa tài sản về cơ bản được thực hiện theo đúng

quy định của Nhà nước bao gồm:

- Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu hoặc quyết định chỉ định thầu

của cấp có thẩm quyền, hoặc phải đấu thầu hoặc chào hàng cạnh tranh đối với

các khoản mua sắm và sửa chữa lớn tài sản.



58



- Hợp đồng, thanh lý hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ.

- Phiếu báo giá của đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ (đối với những

trường hợp mua sắm nhỏ khơng có hợp đồng mua bán), hóa đơn bán hàng, vật

tư, thiết bị.

- Các hồ sơ, chứng từ khác có liên quan.

Tuy nhiên qua kiểm tra, kiểm sốt vẫn còn tồn tại là một số bộ hồ sơ

thanh tốn chưa lơgic về mặt thời gian ví dụ Quyết định của đơn vị phê duyệt

việc mua sắm lại có sau hợp đồng mua bán, hoặc còn thiếu các yếu tố trên

hợp đồng hay còn thiếu hồ sơ thủ tục do sơ suất trong q trình thanh tốn

cho đơn vị. Thêm vào đó, thơng qua cơng tác kiểm sốt chi KBNN Phúc Thọ

nhận thấy trong q trình mua sắm hàng hóa, sửa chữa tài sản của các đơn vị

sử dụng ngân sách có hiện tượng đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ “bắt tay”

với đơn vị sử dụng ngân sách để nâng giá trong mua bán, ghi giá trong hóa

đơn có thể cao hơn giá mua thực tế, giá mua có lúc chưa phản ánh đúng giá

thị trường. Trong nhiều khoản chi mua sắm cùng loại tài sản, cùng hãng sản

xuất, cùng tiêu chuẩn kỹ thuật của các đơn vị sử dụng ngân sách có giá trị

thanh tốn khác nhau, chênh lệch giá trị thanh tốn có khi lệch đến 20% giá

trị thanh tốn.Ví dụ cụ thể, khảo sát hồ sơ, chứng từ lưu tại Phòng Kế tốn

trong tháng 11 năm 2013 có 02 đơn vị sử dụng ngân sách (Trường TH Võng

Xuyên và trường TH Thọ Lộc cùng mua sắm Quạt treo tường nhãn hiệu

Panasonic, cùng chủng loại và nhà sản xuất và được mua hàng theo hình thức

chỉ định thầu.

Ngày 13 tháng 11 năm 2013 trường TH Võng Xuyên gửi hồ sơ bao

gồm: Quyết định chỉ định nhà cung cấp (lựa chọn Trung tâm mua sắm Hạnh

Nguyên cung cấp) Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn có trị giá thanh toán

25.000.000đ

Ngày 25 tháng 11 năm 2012 trường TH Thọ Lộc gửi hồ sơ bao gồm:

Quyết định chỉ định nhà cung cấp (lựa chọn Trung tâm mua sắm Hạnh

Nguyên cung cấp) Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn có trị giá thanh tốn



59



30.000.000đ

Như vậy, cùng một loại tài sản, cùng hãng sản xuất, cùng nước sản xuất,

cùng đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng giá trị thanh toán của 2 đơn vị

là khác nhau. Đây là một lỗ hổng lớn trong quá trình quản lý giá và có sự

thơng đồng “bắt tay” nhau giữa đơn vị sử dụng ngân sách mua hàng hóa và

đơn vị cung cấp hàng hóa. Trong q trình KSC KBNN Phúc Thọ biết hiện

tượng này nhưng khơng có biện pháp ngăn chặn, đây là hạn chế của khâu

kiểm soát và quản lý NSNN qua KBNN. Do đó Nhà nước cần có một cơ chế

quản lý mua sắm hiệu quả hơn.

Mặt khác, trong q trình kiểm sốt các khoản mua sắm tài sản, KBNN

Phúc Thọ nhận thấy, có một số trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách mua sắm,

sửa chữa tài sản từ những năm trước năm 2014, nhưng đến đầu năm 2014 mới

thực hiện thanh toán chi trả cho đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ do những

năm trước chưa bố trí dự tốn nhưng đơn vị vẫn mua sắm, sửa chữa tài sản.

Đồng thời, trong quá trình KSC KBNN Phúc Thọ cũng từ chối rất nhiều khoản

mua sắm. sửa chữa không đúng tiêu chuẩn định mức do Nhà nước quy định,

chưa đủ hồ sơ thủ tục để thanh toán. Những khoản nợ đọng này đã gây tổn hại

đến lợi ích kinh tế của đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ, đơn vị đó sẽ thiếu

vốn phục vụ sản xuất và lưu thơng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Vì vậy,

cần có một chính sách mới trong quản lý, kiểm soát việc mua sắm tài sản cơng.

2.2.2.4. Thực trạng chi và kiểm sốt các khoản chi khác

Các khoản chi khác là các khoản chi không thuộc các nhóm mục chi

thanh tốn cá nhân, nghiệp vụ chun môn và mua sắm, sửa chữa. Đối với

những khoản chi thuộc nhóm mục này, KBNN Phúc Thọ thực hiện kiểm soát

cho đơn vị như sau:

- Đối với những khoản chi đơn vị đề nghị thanh toán trực tiếp, KBNN

Phúc Thọ kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ và điều kiện chi theo quy

định và thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ.



60



- Đối với những khoản chi chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp:

Căn cứ vào dự toán được giao cơ quan có thẩm quyền giao kèm theo giấy rút

dự tốn ngân sách nhà nước (tạm ứng) KBNN Phúc Thọ thực hiện tạm ứng

cho đơn vị. Đầu tháng sau, các đơn vị SDNS phải lập bảng kê chứng từ thanh

toán gửi KBNN Phúc Thọ. Căn cứ vào bảng kê chứng từ thanh toán và đối

chiếu với các điều kiện chi NS, nếu đủ điều kiện quy định, KBNN Phúc Thọ

làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thực chi.

Tình hình chi khác của các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài

chính được thể hiện như sau:

Bảng 2.5 Tình hình chi khác của các đơn vị sự nghiệp cơng lập thực

hiệncơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Đơn vị tính: triệu đồng



(Nguồn: Báo cáo chi NSNN theo MLNS của KBNN Phúc Thọ từ năm

ngân sách 2012 đến năm 2014)

Qua số liệu trên bảng ta đi sâu vào nghiên cứu một số khoản chi khác chủ yếu:

Nhóm mục chi khác phát sinh chủ yếu ở các tiểu mục như: Chi tiếp

khách (TM:7761; chi khác (TM :7799); Chi phục vụ công tác Đảng,chi kỷ



61



niệm ngày lễ lớn (7752)...Với các nội dung chi trên của mục chi khác bao

gồm nhiều khoản chi nên số tiền chi khá lớn, năm 2012 chi là :13 tỷ 132 triệu,

năm 2013 chi là: 11 tỷ 441 triệun đồng, năm 2014 chi là: 14 tỷ 710 triệu,.

Qua khảo sát thực tế ba nội dung chi bao gồm:“Chi tiếp khách, chi hỗ trợ

khác và chi khác” cho thấy năm 2012 chi số tiền 5 tỷ 355 triệu đồng, năm

2013 chi số tiền là: 4 tỷ 711 triệu, năm 2014 chi là: 6 tỷ 229 triệu đồng,Từ số

liệu chi trên ta đi sâu vào phân tích:

“Chi tiếp khách” tức là đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vào việc chi

tiếp khách đến cơ quan giao dịch, “chi hỗ trợ khác”, chi hỗ trợ tức là các đơn

vị sử dụng khoản chi để hỗ trợ cho công tác của cơ quan đồn thể như cơng

đồn, đồn thanh niên, phụ nữ và nhiều loại hỗ trợ khác; “chi khác” ở đây là

những khoản chi ngoài các khoản chi trên. Tuy vậy KBNN Phúc Thọ kiểm

soát các khoản chi này rất khó khăn do chưa có cơ chế chặt chẽ cụ thể về

khoản chi này, nên đơn vị sư dụng ngân sách có thể hợp thức hóa chứng từ chi

cho hai khoản chi này rồi đem về cải thiện đời sống cán bộ công chức. Như

vậy, đây là một hạn chế trong khâu quản lý NSNN ta cần phải có cơ chế quản

lý chặt chẽ như vậy có thể tiết kiệm hơn trong chi tiêu NSNN.

Tóm lại: Tổng hợp tồn bộ kinh phí KSC thường xuyên NSNN đối với

đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính bao gồm bốn

nhóm: Các khoản thanh tốn cá nhân, Chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua

sắm và chi khác được thể hiện qua bảng tổng hơp sau:

Bảng số 2.6 Báo cáo chi của các đơn vị sự nghiệp cơng lập thực hiện

cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Đơn vị tính: triệu đồng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng số 2.4: Tình hình chi mua sắm tài sản của các đơn vị sự nghiệpcông lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2012-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×