Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá tình hình kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

3 Đánh giá tình hình kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



quyết tốn góp phần tăng cường tính chủ động và trách nhiệm của đơn vị

trong việc sử dụng kinh phí, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân

sách. Từ đó KBNN Phúc Thọ có căn cứ để quản lý và điều hành NSNN một

cách có hiệu quả.

Ba là,cùng với việc bảo đảm cho nguồn vốn của NSNN được sử dụng

đúng mục đích, thanh tốn đúng đối tượng, cơ chế KSC thường xuyên NSNN

qua hệ thống KBNN Phúc Thọ trong những năm vừa qua đã góp phần rất tích

cực vào việc giảm thiểu số lượng giao dịch tiền mặt bằng việc thanh tốn cho

nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và chi lương cho các đơn vị sử dụng ngân

sách thơng qua hình thức chuyển khoản.

Bên cạnh kết quả đạt được của KBNN Phúc Thọ trong việc kiểm soát chi

đối với các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính thì xét từ góc độ

các đơn vị SNCL thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đã

tăng cường tính chủ động trong việc thúc đẩy quá trình sắp xếp lại biên chế ,

tổ chức, phân công lao động hợp lý, tăng cường ý thức tiết kiệm của đơn vị

trong việc sử dụng kinh phí nâng cao hiệu quả, chất lượng trong cơng việc.

Mặt khác việc sử dụng kinh phí khốn sẽ phù hợp hơn với thực tế của

mỗi đơn vị và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí ngân sách cấp,

góp phần nâng cao thu nhập cho cán bộ công chức, viên chức; đồng thời, giải

quyết chế độ, trợ cấp thêm cho những lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp

lại lao động. Qua đó, tạo điều kiện cho từng cán bộ phát huy được tối đa

những phẩm chất, năng lực sở trường của mình.

2.3.2 Hạn chế

2.3.2.1 Việc tiếp nhận hồ sơ và xử lý hồ sơ chưa thực hiện theo đúng

Quy trình “Một cửa”

Việc tiếp nhận hồ sơ, chứng từ, cán bộ KSC KBNN Phúc Thọ đã bỏ qua

một số khâu trong quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi ở bước tiếp nhận hồ sơ



65



và kiểm soát chi. Đó là, việc khơng lập Phiếu giao nhận hồ sơ mẫu số

02/PHS-CTX theo QĐ 1116/QĐ-KBNN ngày 24 tháng 11 năm 2009 tại Phụ

lục số 01.

Về thời gian kiểm soát, thanh toán các khoản chi cho đơn vị sử dụng

ngân sách chưa được đảm bảo theo đúng Quy trình nghiệp vụ quy định: Đối

với tạm ứng tiền mặt thời hạn giải quyết khơng q 60 phút, đối với thanh

tốn trực tiếp: trường hợp thanh toán chi thường xuyên đơn giản, nhận hồ sơ

trong buổi sáng, kiểm soát chi và thanh toán vào buổi chiều, trường hợp thanh

toán khoản chi thường xun mà hồ sơ có tính phức tạp, thanh tốn tạm ứng:

nhận hồ sơ hơm nay, thanh tốn vào hơm sau. Tuy nhiên, có rất nhiều trường

hợp cán bộ KSC KBNN Phúc Thọ kiểm soát thanh toán quá thời gian quy

định nhưng Ban lãnh đạo chưa có biện pháp kiểm soát và chấn chỉnh.

Mặt khác, việc tiếp nhận hồ sơ, chứng từ KSC NSNN tại KBNN Phúc

Thọ đang thực hiện thủ cơng, KBNN Phúc Thọ vẫn chưa có một chương trình

quản lý trên máy về Quy chế chi tiêu nội bô, Phiếu giao nhận hồ sơ, một số

tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, kiểm soát việc chấp hành thời gian kiểm sốt,

thanh tốn. Những thơng tin trên chỉ được cán bộ KSC tự theo dõi thủ cơng

mà khơng có sự kiểm soát, chỉ đạo của Kế toán trưởng và Lãnh đạo KBNN do

vậy dẫn đến tình trạng cán bộ KSC khơng chấp hành tốt các quy định trong

Quy trình giao dịch “một cửa” trong việc giao nhận hồ sơ, thông báo từ chối

khách hàng và theo dõi thời gian kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN

nên đã xuất hiện một số hiện tượng cán bộ KSC nhũng nhiễu khách hàng, làm

mất uy tín của KBNN. Do vậy, KBNN Phúc Thọ cần xây dựng chương trình

phần mềm tin học theo dõi, giám sát việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ KSC để Lãnh

đạo các tổ liên quan và Ban lãnh đạo KBNN Phúc Thọ theo dõi, giám sát

công việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước được hiệu quả nhất.

2.3.2.2 Phương thức Kiểm soát chi mua sắm tài sản như hiện nay còn



66



bất cập dẫn đến thất thốt ngân sách nhà nước và sử dụng tài sản khơng có

hiệu quả

Như trong phần KSC đối với nhóm mục mua sắm tài sản, sửa chữa tài

sản có một thực tế là các đơn vị sử dụng ngân sách cùng mua sắm một loại tài

sản có cùng hãng sản xuất, cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, cùng nước sản xuất

nhưng giá trị thanh toán trên các hồ sơ, tài liệu gửi KBNN Phúc Thọ khác

nhau. có sự chênh lệch giá trị đến 20%, mặc dù có đầy đủ các thủ tục hồ sơ

mua sắm. Việc mua sắm như trên đã làm thất thoát NSNN, dẫn đến tình trạng

tham nhũng trong việc mua sắm tài sản công. Mặt khác, việc mua sắm tài sản

hiện nay ở một số đơn vị sử dụng ngân sách có xu hướng mua những tài sản

kém chất lượng, xuất xứ hàng hóa khơng rõ ràng, nhưng giá mua vẫn tương

đương với các hàng hóa cùng loại có chất lượng cao, điều này cũng dẫn đến

tình trạng thất thốt, lãng phí NSNN, tình trạng tham nhũng trong mua sắm tài

sản và sử dụng tài sản khơng hiệu quả. Vì vậy, cần có phương thức kiểm sốt

mua sắm mới để khắc phục tình trạng trên

2.3.2.3 Do u cầu kiểm sốt tồn bộ các khoản chi của đơn vị sử dụng

ngân sách

Luật NSNN quy định tất cả các khoản chi NSNN đều phải được KBNN

kiểm tra, kiểm soát trước khi thanh toán, cấp phát. Để thực hiện quy định này,

KBNN Phúc Thọ thực hiện kiểm soát trên từng hồ sơ, tài liệu chứng từ của đơn

vị sử dụng ngân sách mỗi khi thanh toán qua KBNN, các hồ sơ, chứng từ phải

đảm bảo có dự tốn được duyệt, đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức. Tuy nhiên,

qua khảo sát tại KBNN Phúc Thọ nhận thấy để thực hiện KSC theo đúng các

điều kiện này thì người cán bộ KSC KBNN phải am tường tất cả các chế độ chi

tiêu của từng đơn vị, từng ngành, từng lĩnh vực một. Đồng thời phải nắm vững

các định mức chi tiêu trong quy chế chi tiêu của từng đơn vị. Tại KBNN Phúc

Thọ đến thời điểm năm 2014 có 78 đơn vị sự nghiệp cơng lập hoạt động các



67



lĩnh vực khác nhau sử dụng ngân sách thường xun mà chỉ có 4 cán bộ kiểm

sốt chi đối với các đơn vị này đồng thời phải đảm nhiệm thêm cơng tác hạch

tốn kế tốn các khoản chi NSNN. Đây là yêu cầu quá cao so với đội ngũ cán

bộ KSC của KBNN Phúc Thọ. Mặt khác, để kiểm soát các khoản chi đảm bảo

điều kiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi khơng có cách nào khác là cán

bộ KSC KBNN phải kiểm tra, kiểm soát thực tế chi tiêu của đơn vị sử dụng

ngân sách có đúng chế độ khơng? Trên thực tế việc kiểm sốt này chỉ đáp ứng

được một phần vì khối lượng công việc KSC rất lớn. Hơn nữa cũng cần xác

định rằng, việc thực hiện khoản chi có đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức hay

khơng thì Thủ trưởng và Kế toán trưởng đơn vị sử dụng ngân sách là người ra

quyết định chi và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Do đó, KBNN cần

xác định mức độ kiểm soát của từng nội dung chi cho phù hợp để tránh chồng

chéo trong việc kiểm soát các khoản chi NSNN.

2.3.2.4 Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ chưa chủ động được nguồn vốn

thanh tốn cho các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ

Thông thường về cuối năm các đơn vị thường mang hồ sơ mua sắm, sửa

chữa lớn đến thanh toán hoặc thực hiện thanh toán tạm ứng cuối năm rất

nhiều trong khi đó Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ chưa chủ động nguồn vốn vào

dịp cuối năm nguyên nhân do KBNN chưa thực hiện cam kết chi nên đầu năm

chưa có một khoản dự tốn dành sẵn thực hiện cho khoản chi đó nên cuối năm

có rất nhiều các khoản chi nên KBNN không chủ động được vốn nên ảnh hưởng

đến q trình thanh tốn cho các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ.

Mặt khác, trong những năm gần đây, vẫn xẩy ra tình trạng một số đơn vị

sử dụng ngân sách vẫn có thể thực hiện ký kết hợp đồng với nhà cung cấp hàng

hóa, dịch vụ trong khi chưa có dự tốn, hợp đồng mua sắm hàng hóa, dịch vụ

không phù hợp với nhiệm vụ được giao của đơn vị sử dụng ngân sách, hoặc

không phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu. Vì vậy, tại khâu thanh



68



toán, chi trả, đã bị KBNN từ chối thanh tốn và đơn vị sử dụng ngân sách

khơng có nguồn để thanh toán, chi trả cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Dẫn đến tình trạng nợ đọng trong thanh tốn vẫn còn diễn ra tại một số đơn vị

sử dụng ngân sách, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế, gây thiệt hại cho các đơn vị

cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đây là vấn đề tồn tại trong quản lý chi tiêu công,

chưa minh bạch trong quản lý và sử dụng NSNN. Do vậy, cần có một cơ chế

cam kết trả nợ của đơn vị sư dụng ngân sách, đây là một yêu cầu cấp thiết trong

định hướng về cải cách công tác KSC NSNN đến năm 2020.

2.3.2.5 Việc kiểm sốt chi theo hình thức dự tốn chưa gắn với hiệu quả

chi tiêu ngân sách nhà nước, chưa tạo được sự chủ động cho đơn vị sử dụng

ngân sách

Mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực đổi mới trong quản lý, kiểm sốt

chi tiêu cơng, nhưng với phương thức cấp phát theo dự toán (dự toán được

các đơn vị sử dụng ngân sách lập và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt)

và dựa trên các tiêu chuẩn, chế độ, định mức thì việc KSC của hệ thống

KBNN nói chung và KBNN Phúc Thọ nói riêng vẫn dựa theo phương thức

quản lý đầu vào, chưa chú trọng đến kết quả đầu ra. Việc KSC NSNN của

KBNN Phúc Thọ vẫn chú trọng đánh giá các nhân tố đầu vào được mua sắm

trong giới hạn ngân sách hơn là cải thiện kết quả thực hiện. Vì vây, cần đổi

mới phương thức quản lý, kiểm soát chi NSNN theo kết quả đầu ra, lấy kết

quả đầu ra làm thước đo hiệu quả của sử dụng NSNN.

2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm soát chi ngân

sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Một là, về chức năng, nhiệm vụ và năng lực kiểm soát chi NSNN qua

KBNN Phúc Thọ chưa đáp ứng được u cầu

Vai trò của KBNN nói chung đã được khẳng định là không thể thiếu và

rất quan trọng trong hệ thống kiểm soát ngân sách, tuy nhiên với quy định



69



hiện hành, KBNN Phúc Thọ chưa có chức năng kiểm sốt sau q trình thanh

tốn. Bên cạnh đó những khoản chi bằng Lệnh chi tiền do Phòng Tài Chính

chuyển sang, theo quy định của KBNN khơng có chức năng kiểm sốt. Chính vì

thế KBNN Phúc Thọ chưa thể kiểm sốt tồn bộ quy trình trước, trong và sau

thanh tốn, do vậy KBNN Phúc Thọ chưa thể kiểm soát được nhiều khoản chi của

các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trên địa bàn Huyện.

Hai là, năng lực, trình độ cán bộ KBNN Phúc Thọ nói chung, cán bộ

trực tiếp làm cơng tác kiểm sốt chi NSNN nói riêng tuy đã được chú trọng

nâng cao chất lượng, song còn một số cán bộ đặc biệt là cán bộ trẻ vẫn bị giới

hạn về nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế chưa cao nên ảnh

hưởng khơng nhỏ đến chất lượng cơng tác kiểm sốt chi thường xun NSNN

nói chung và cơng tác KSC thường xun đối với đơn vị sự nghiệp công lập

thực hiện cơ chế tự chủ. Mặt khác thêm một khối lượng công việc lớn, với

tính chất ngày một phức tạp hơn cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng công tác kiểm soát chi của KBNN Phúc Thọ.

Ba là, cơ chế phối hợp trong kiểm soát chi NSNN chưa thống nhất, sự

phối hợp giữa Phòng Tài chính trên địa bàn HuyệnPhúc Thọ và KBNN Phúc Thọ

chưa thực sự đồng bộ và chưa thực sự có sự kết hợp chặt chẽ kịp thời để hỗ trợ

được cho nhau trong công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn. Hiện nay cơ chế,

lập, giao dự toán và nhập dự toán các đơn vị sự nghiệp cơng lập thuộc trách nhiệm

cơ quan tài chính, tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà dự tốn được nhập vào

chương trình còn chậm trễ và còn sai sót so với quyết định dự tốn.

Phòng Tài Chính thường thực hiện ghi thu, ghi chi các khoản phí từ

nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp công lập vào thời điểm cuối năm, thời

điểm mà cả Kho bạc và Tài chính đều rất bận rộn nên gây khó khăn trong

kiểm soát chặt chẽ các khoản chi cho KBNN Phúc Thọ và đối chiếu số liệu

giữa các đơn vị.



70



Bốn là, hệ thống công nghệ thông tin mặc dù đã được chú trọng đầu tư

nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Năm 2012, Kho bạc

Nhà nước Phúc Thọ đã triển khai ứng dụng thành công dự án hệ thống thông

tin quản lý ngân sách và Kho bạc (Tabmis)- dự án được coi là có tính ưu việt

hơn hẳn so với chương trình cũ, có tính bảo mật cao. Tuy nhiên, đến thời

điểm hiện nay, chương trình TABMIS được đưa vào sử dụng chưa có nhiều

ứng dụng báo cáo khác nhau nên việc khai thác số liệu còn gặp nhiều khó

khăn, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu quản lý NSNN. Bên cạnh đó, hệ

thống mạng còn chậm, đơi lúc còn bị ngắt kết nối với máy chủ làm gián đoạn

công việc của cán bộ công chức.

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan

Một là, Hệ thống pháp luật hiện hành về NSNN chưa thực sự chặt chẽ và

đồng bộ, điển hình là cơ chế kiểm tra, KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

còn chưa thật chặt chẽ, còn dàn trải về chế độ chính sách; hiệu lực của hệ

thống KSC NSNN còn hạn chế, mới chỉ giới hạn ở kiểm soát hồ sơ chứng từ,

khi hồ sơ chi khơng đúng thì u cầu đơn vị làm lại mà khơng có chế tài sử lý

đơn vị; việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan quản

lý chưa thực sự rõ ràng, còn trùng lặp và chồng chéo; nhiệm vụ kiểm tra, KSC

NSNN còn phân tán ở nhiều cơ quan như lệnh chi tiền quy định do cơ quan tài

chính kiểm sốt nhưng lại khơng có đủ quy định để cơ quan tài chính kiểm soát;

quy chế về đầu tư mua sắm, sửa chữa liên tục phải sửa đổi và bổ sung …

Các điều kiện để KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát chi NSNN mặc dù

đã được nghiên cứu bổ sung và sửa đổi nhiều lần như chế độ cơng tác phí, chi

tiêu hội nghị, mua sắm tài sản...,song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

Hệ thống, định mức, tiêu chuẩn chi còn thiếu và một số khoản chi chưa hợp

lý. Chế độ tiêu chuẩn định mức hiện tại đã làm ảnh hưởng lớn đến công tác

lập phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, cơng tác quy chế chi

tiêu nội bộ của đơn vị SNCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Do vậy KSC



71



theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị chưa thực sự là căn cứ đáng tin cậy để

KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm sốt làm ảnh hưởng khơng nhỏ đến hiệu

quả công tác KSC ngân sách của KBNN Phúc Thọ.

Hai là, chất lượng dự toán chưa cao, chưa đảm bảo, còn phải điều chỉnh

tăng, giảm nhiều lần. Mặc dù đã giao quyền tự chủ cho các đơn vị SNCL

nhưng các đơn vị vẫn khơng được phân bổ hết dự tốn ngay từ đầu năm, còn để

bổ sung về cuối năm nên chưa tạo được tính chủ động cho đơn vị.

Ba là, ý thức trách nhiệm của đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

trong chấp hành chi ngân sách còn hạn chế như: Chi tiêu khơng đúng chế độ,

tiêu chuẩn định mức, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn sơ sài hoặc khơng

đúng với tiêu chuẩn quy định. …đặc biệt là căn cứ pháp lý và trách nhiệm xử

lý các sai sót và vi phạm chưa rõ ràng, kết quả KSC nếu khơng đúng thì chủ

yếu là nhắc nhở, yêu cầu hoàn thiện hồ sơ chừng từ mà khơng có cơ chế xử lý

hoặc xử phạt cụ thể, nên hiệu quả KSC thường xuyên NSNN còn thấp.

Bốn là, cơ chế khốn kinh phí, khốn biên chế của chúng ta hiện nay còn

có loại khốn nhưng chưa giao khốn thực sự, giao khốn nhưng lại còn q

nhiều ràng buộc, nên hiệu quả của khốn kinh phí cho các đơn vị sử dụng

NSNN chỉ đạt được ở mức độ nhất định, các đơn vị SNCL chưa thực sự bung

hết khả năng của mình

Mặt khác, cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị

SNCL thực chất là một bước khởi đầu chuyển đổi cơ chế quản lý theo “đầu

vào” dần sang cơ chế quản lý theo “đầu ra” với nguyên tắc cơ bản là thực hiện

quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Tuy nhiên hiện nay chưa có thước đo để đánh giá đơn vị đã thực hiện trách

nhiệm của mình đến đâu. Và kiểm sốt với kết quả đầu ra như thế nào?

Các cơ quan, đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng

đang gặp khó khăn trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của mình, nên

cơng tác quản lý, kiểm soát, giám sát trong nội bộ từng cơ quan và đơn vị

cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập.



72



Năm là, trình độ cán bộ của các đơn vị sử dụng NSNN còn yếu

Khả năng quản lý ở đơn vị sử dụng NSNN còn hạn chế, cán bộ nghiệp

vụ Tài chính của đơn vị thì khơng sâu về nghiệp vụ, khả năng nhận thức về

luật và các văn bản chế độ của Nhà nước rất kém, đặc biệt là cán bộ kế toán

tại các đơn vị SNCL thường xuyên thay đổi cho nên ảnh hưởng rất nhiều đến

công tác kế toán của đơn vị. Đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến KSC của

KBNN Phúc Thọ.

Sáu là, Quy trình một cửa trong kiểm sốt chi thường xun NSNN theo

Quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009 có một số điểm chưa phù

hợp với thực tế đang diễn ra hiện nay. Quy định thời gian giải quyết cơng việc

còn chưa linh hoạt, chưa sát với thực tế đặt ra, quy định về thời gian có chỗ

còn chưa rõ ràng gây một số khó khăn nhất định đối với hoạt động kiểm sốt

chi của KBNN Phúc Thọ. Chưa có quy định cụ thể về hồ sơ lưu trữ tại KBNN

đối với từng khoản chi nên còn gây nhiều tranh cãi.

Bảy là, Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà Nước chưa hướng dẫn kịp thời

chính sách giải ngân ở thời kỳ kiềm chế lạm phát, ví dụ như hướng dẫn Nghị

quyết 11 của Chính Phủ chưa kịp thời gây lúng túng cho các cán bộ thực hiện

cơng tác kiểm sốt chi của Kho bạc Nhà nước.

Kết Luận: Trên đây là những trình bày tổng quan về tổ chức bộ máy

hoạt động của KBNN Phúc Thọ; khái quát tình hình chi thường xuyên NSNN

và thực trạng cơng tác kiểm sốt chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập

thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc nhà nước Phúc Thọ giai đoạn

2012-2014. Từ đó đánh giá tình hình kiểm sốt chi NSNN những kết quả đạt

được và hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm soát chi

NSNN qua KBNN Phúc Thọ. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến

nghị nhằm hồn thiện cơng tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN Phúc Thọ đối

với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.



73



CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HỒN

THIỆNCƠNG TÁC KIỂM SỐT CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC PHÚC THỌ ĐỐI VỚI

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ

CHỦ TÀI CHÍNH

3.1 Mục tiêu Kiểm sốt chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự

nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước

Phúc Thọ

Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, việc xác định

mục tiêu và những nhiệm vụ chủ yếu của KBNN trong giai đoạn mới có ý

nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nền

tài chính cơng; góp phần tích cực vào thực hiện chiến lược phát triển KBNN

đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt như sau: Xây dựng KBNN hiện

đại, hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển ổn định vững chắc trên cơ sở cải

cách thể chế, chính sách, hồn thiện tổ chức bộ máy, gắn với hiện đại hố

cơng nghệ và phát triển nguồn nhân lực để thực hiện tốt chức năng: quản lý

NSNN và các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Chính

phủ; tổng kế tốn nhà nước nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả và tính cơng

khai; minh bạch trong quản lý các nguồn lực tài chính của nhà nước. Đến năm

2020 các hoạt động KBNN được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin

hiện đại và hình thành Kho bạc điện tử.

Mục tiêu hồn thiện cơng tác kiểm sốt chi NSNN qua KBNN Phúc Thọ

đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng nằm trong mục tiêu chiến lược phát

triển chung của Kho bạc Nhà nước. Đó là đổi mới cơng tác quản lý, kiểm soát



74



chi dựa trên sự chỉ đạo của KBNN cấp trên tiến tới kiểm soát chi theo kết quả

đầu ra, theo nhiệm vụ và chương trình ngân sách, thực hiện phân loại các

khoản chi ngân sách nhà nước theo nội dung và giá trị đến xây dựng quy trình

kiểm soát chi hiệu quả trên nguyên tắc quản lý theo rủi ro, phân định rõ trách

nhiệm, quyền hạn của cơ quan Tài chính, cơ quan chủ quản, Kho bạc Nhà nước

và các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, có chế tài xử phạt hành chính theo

thơng tư 54/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện việc xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực kho bạc nhà nước theo quy định tại Nghị

định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ ngày

đối với cá nhân, tổ chức sai phạm hành chính về sử dụng ngân sách nhà nước.

Tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong cơng tác kiểm sốt chi,

bảo đảm đơn giản, rõ ràng minh bạch về hồ sơ, chứng từ, nội dung kiểm sốt,

tiến tới thực hiện quy trình kiểm sốt chi điện tử. Áp dụng các phương tiện

thơng tin hiện đại, các điều kiện sẵn có về hạ tầng truyền thông và công nghệ

thông tin để thực hiện công khai hóa thủ tục KSC NSNN qua KBNN. Kết quả

của cải cách thủ tục hành chính phải được hướng đến đối tượng là đơn vị sử

dụng ngân sách và các nhà cung cấp cho lĩnh vưc công, một mặt đảm bảo yêu

cầu công khai, minh bạch thông tin, mặt khác đảm bảo vai trò trung gian của

KBNN bảo đảm thanh tốn cho các nhà cung cấp dịch vụ.

Quy trình thủ tục KSC NSNN đảm bảo tính khoa học, đơn giản, rõ ràng

công khai và minh bạch, thuận lợi cho người kiểm soát, người được kiểm soát

và người thụ hưởng, đồng thời, phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu quản lý.

Kiện toàn tổ chức bộ máy KBNN Phúc Thọ hiện đại, hoạt động có hiệu

lực, hiệu quả và chuyên nghiệp. Quản lý cán bộ theo khối lượng và công việc

được giao, quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm vật

chất của cán bộ trên từng vị trí cơng tác, chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ

có năng lực và trình độ chun mơn cao, sắp xếp và hợp lý hóa nguồn nhân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá tình hình kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×