Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Giải pháp hoàn thiện Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

2 Giải pháp hoàn thiện Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ - 0trang

76



chi NSNN chậm, gây bức xúc cho khách hàng giao dịch.

Để giải quyết những hạn chế trên, KBNN Phúc Thọ cần xây dựng một

chương trình quản lý giao nhận hồ sơ “Một cửa” trên máy tính. Phần mềm

này phải đảm bảo theo dõi được các thông tin về khách hàng (mã đơn vị sử

dụng ngân sách, tên đơn vị, địa chỉ, số điện thoại), số bộ chứng từ, ngày giải

quyết, tên cán bộ tiếp nhận, lưu vết được các bước xử lý hồ sơ qua các bộ

phận để có thể xác định được trách nhiệm của từng bộ phận, cán bộ giải quyết

cơng việc, chương trình này cho phép kết xuất các báo cáo để quản lý việc

theo dõi trong quá trình giao nhận hồ sơ, chứng từ KSC, các hồ sơ, chứng từ

bổ sung, sai sót, thời gian kiểm sốt thanh tốn đúng hạn hay q hạn.

Chương trình quản lý giao nhận hồ sơ “Một cửa” này phải được cài đặt trên

máy tính đặt tại quầy giao dịch (máy ki ốt thông tin – tại KBNN Phúc Thọ,

khách hàng đăng nhập sử dụng máy này để tra cứu quy trình nghiệp vụ).

Khách hàng tự lập phiếu giao nhận hồ sơ trên máy vi tính, chỉ cần nhập mã

đơn vị sử dụng ngân sách, tồn bộ các thơng tin tương ứng như tên đơn vị, địa

chỉ, số điện thoại sẽ được hiện lên, tiếp theo nhập số bộ chứng từ. Sau khi

khách hàng nhập xong, cán bộ KSC kiểm tra hồ sơ chứng từ giấy, đối chiếu

với máy vi tính, có thể sửa chữa cho đúng nếu cần. Cán bộ KSC in “ Phiếu

giao nhận hồ sơ chi thường xuyên” trong chương trình, sau khi kiểm sốt,

thanh tốn hồ sơ chứng từ KSC trên, cán bộ KSC vào chương trình nhập

thơng tin đã kiểm sốt thanh tốn. Hàng ngày Kế tốn trưởng sẽ vào chương

trình in báo cáo kết quả KSC để theo dõi, kiểm tra các hồ sơ KSC chưa được

giải quyết, xử lý, những hồ sơ đã quá hạn xử lý, đồng thời nhắc nhở cán bộ

KSC thực hiện việc kiểm soát, thanh toán đúng quy định.



77



3.2.2 Tập trung kiểm soát các khoản chi ngân sách Nhà nước có mức

độ rủi ro cao

Với nguồn lực có hạn thì hệ thống KBNN nói chung và KBNN Phúc

Thọ nói riêng khơng thể kiểm sốt tồn bộ được các khoản chi thường xuyên

NSNN của tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách mà cần phải kiểm sốt có

trọng điểm. Do đó, cần phải chuyển từ cơ chế KSC tồn bộ các khoản chi

NSNN sang kiểm soát theo mức độ rủi ro trong chi thường xuyên (rủi ro ở

đây là mức độ thất thốt, lãng phí NSNN). Việc kiểm sốt như trên sẽ tạo điều

kiện kiểm soát thanh toán nhanh các khoản chi NSNN, tránh phiền hà cho đơn

vị sử dụng ngân sách. Đồng thời, tránh sự kiểm soát trùng lắp của người

chuẩn chi (Thủ trưởng và Kế toán trưởng của đơn vị sử dụng ngân sách) và

cán bộ KSC KBNN.

Để thực hiện việc kiểm soát theo mức độ rủi ro, cần phân tích mức độ rủi

ro các khoản chi thường xuyên NSNN và xếp thứ tự từ cao xuống thấp và có

thể phân nhóm như sau:

- Rủi ro cao: các khoản chi có giá trị lớn như xây dựng, cải tạo trụ sở,

mua sắm hàng hóa, tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định.

- Ít rủi ro: Các khoản chi cơng tác chun mơn, văn phòng phẩm, điện

nước, tiền lương, phụ cấp...

Khi đã xác định mức độ rủi ro, cần có các cơ chế kiểm sốt cho phù hợp

với từng loại. Đối với các khoản chi NSNN rủi ro cao cần phải kiểm sốt tất

cả các khoản chi đó, đối với các khoản chi NSNN ít rủi ro thì cần kiểm soát

chọn mẫu hoặc thanh toán trước kiểm soát sau.

Việc đánh giá mức độ rủi ro của các khoản chi NSNN là cơng việc rất

phức tạp cần phải có một tiêu thức phân loại phù hợp cho từng ngành, từng

đơn vị sử dụng ngân sách. Việc thay đổi này cần phải có một cơ chế pháp lý

để thực hiện, trong đó phải xây dựng cơ chế kiểm sốt có sự phân công trách

nhiệm rõ ràng giữa KBNN và người chuẩn chi đối với từng khoản chi NSNN.

Nếu chuyển qua cơ chế kiếm soát này chắc chắn thời gian thanh toán các



78



khoản chi sẽ giảm xuống, đối với những khoản chi mà KBNN khơng kiểm

sốt thì tính hiệu quả và tính hợp pháp của khoản chi đó do Thủ trưởng đơn vị

sử dụng ngân sách chi chịu trách nhiệm.

3.2.3 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra nhằm

khắc phục những hạn chế của hình thức kiểm soát chi theo dự toán

Kiểm soát chi NSNN theo kết quả đầu ra là việc Nhà nước bỏ ra một

khoản tiền nhất định để mua của một Bộ, ngành hoặc một đơn vị nào đó cung

ứng cho xã hội về các dịch vụ công như các dịch vụ về cấp giấy phép, y tế,

giáo dục, cung cấp nước sạch... theo số lượng, chất lượng, thời gian và địa

điểm cung cấp.. đã được ấn định trước. Các Bộ trưởng và Thủ trưởng các đơn

vị chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Quốc hội về việc sử dụng khoản ngân

sách đó theo kết quả cam kết ban đầu.

Đây là một phương thức cấp phát NSNN tiên tiến, mới được áp dụng ở

một số nước, hoặc một số khoản chi đặc biệt. Theo đó, Nhà nước khơng can

thiệp vào việc sử dụng các khoản kinh phí NSNN đã cấp cho các cơ quan đơn

vị, mà chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó, tức là chỉ

quan tâm đến kết quả đầu ra của các chương trình, mục tiêu đã được cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt.

Theo phương thức cấp phát này, ngay từ khi lập dự toán, các cơ quan, đơn

vị phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao; chỉ tiêu nhiệm vụ của năm kế

hoạch; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu; dự toán và kết quả thực hiện nhiệm

vụ được giao của năm trước để xây dựng dự toán chi của năm kế hoạch.

Sau khi được các cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách năm, các cơ

quan đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị

thực hiện phương thức cấp phát NSNN theo kết quả đầu ra.

Trên cơ sở dự toán chi cả năm được giao và nhiệm vụ phải chi trong quý,

các đơn vị phải lập nhu cầu chi quý gửi cơ quan quản lý cấp trên và KBNN



79



nơi mở tài khoản. Căn cứ nhu cầu chi hàng quý đã đăng ký và yêu cầu của

nhiệm vụ chi, đơn vị dự toán lập giấy rút dự toán ngân sách gửi KBNN nơi

giao dịch.

Căn cứ vào dự toán năm được giao và nhu cầu chi quý đã đăng ký,

KBNN thực hiện trích chuyển kinh phí theo đề nghị của đơn vị. Thủ trưởng

đơn vị được quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng kinh phí

được cấp, bảo đảm thực hiện công việc theo đúng những cam kết ban đầu.

Định kỳ, cơ quan tài chính phối hợp với cơ quan quản lý cấp trên của

đơn vị theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Trường hợp

phát hiện đơn vị không bảo đảm thực hiện công việc theo đúng cam kết,

KBNN được phép tạm dừng cấp kinh phí cho đơn vị hoặc có biện pháp thu

hồi phần kinh phí đã cấp. Như vậy, trong cơ chế kiểm soát chất lượng “đầu

ra”, các ràng buộc bằng chế độ , tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ở “đầu vào” đã

được thay bởi các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả chất lượng “đầu ra”. Do đó,

nó đã khắc phục được những hạn chế của cơ chế KSC theo “đầu vào” hiện

nay, khi mà hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước còn

thiếu và lạc hậu; đồng thời tăng cường hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của

các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp cũng như phù hợp với chủ trương cải

cách thủ tục hành chính hiện nay ở nước ta.

Tuy nhiên, muốn có một cơ chế kiểm sốt như thế, trước hết Nhà nước

cần phải quy định các tiêu chuẩn hiệu quả đối với từng hình thức đơn vị sử

dụng NSNN. Lẽ đương nhiên, những khoản chi tiêu thường xuyên của NSNN

là những khoản chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng của Nhà nước,

tức là gắn liền với việc đáp ứng các nhu cầu chung, nhu cầu có tính chất tồn

xã hội. Vì thế, hiệu quả của các khoản chi đó phải được xem xét dựa trên cơ

sở đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội nói chung. Đây

thực sự là một vấn đề khó khăn, phức tạp trong q trình triển khai áp dụng



80



cơ chế này. Hơn thế, hiệu quả của việc quản lý và KSC thường xuyên NSNN

không những chỉ đo được bằng các chỉ tiêu định lượng, mà còn phải xem xét

cả bằng các chỉ tiêu định tính.

Có thể thấy rằng quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra góp phần đổi mới

chính sách quản lý khu vực cơng. Tại Kho Bạc NN Phúc Thọ nói riêng và

KBNN nói chung, thực hiện cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

cho các đơn vị sự nghiệp công lập thực chất là một bước khởi đầu chuyển đổi

cơ chế quản lý theo đầu vào dần sang cơ chế quản lý theo đầu ra với nguyên

tắc cơ bản là các đơn vị sự nghiệp cơng lập phải hòan thành tốt nhiệm vụ

được giao, thực hiện quyển tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm về quyết

định của mình.

Việc kiểm soát, đánh giá đầu ra và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao

của các cơ quan và đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là

quan trọng hàng đầu. Có kiểm sốt, đánh giá được đầu ra và kết quả thực hiện

nhiệm vụ được giao thì mới có thể gắn quyền tự chủ với tự chịu trách nhiệm

của các đơn vị sự nghiệp công lập được giao tự chủ, tránh tình trạng quyền tự

chủ thì nhận thức và thực hiện rất nhanh nhưng về tự chịu trách nhiệm thì

khơng nhận thức và thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ.

Ngoài ra, một vấn đề nữa cũng cần phải tính đến là khi giao tồn bộ

trách nhiệm quản lý tài chính cho Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, rồi

sau đó mới xem xét hiệu quả của việc sử dụng số kinh phí đó, sẽ rất dễ phát

sinh trường hợp những nhà quản lý có thể lạm dụng số tiền tiết kiệm được

trong q trình sử dụng kinh phí được cấp để mưu lợi cho cá nhân hoặc chi

tiêu lãng phí, gây thất thốt tiền, tài sản của Nhà nước, trong lúc khơng bảo

đảm được số lượng, chất lượng công việc đã cam kết.

Hiện nay các cơ quan quản lý Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc

xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực để kiểm soát, đánh giá các hoạt động nói



81



chung và việc thực hiện nhiệm vụ được giao nói riêng đối với cơ quan, đơn vị

được giao thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Các cơ quan, đơn vị

cũng đang gặp khó khăn trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của mình

nên cơng tác quản lý, kiểm soát, giám sát trong nội bộ từng cơ quan và đơn vị

cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập.

Vì vậy trước mắt chỉ nên áp dụng phương thức cấp phát NSNN theo “kết

quả đầu ra” đối với một số khoản chi cho các dịch vụ công cộng như an ninh

trật tự, chống các tệ nạn xã hội, các chương trình giáo dục, y tế, vệ sinh mơi

trường …

Để tiến tới thực hiện quản lý theo kết quả đầu ra, chúng ta cần thực hiện

các giải pháp sau:

Thiết lập một bộ phận chức năng chuyên trách trong việc theo dõi, giám

sát, phân tích và đánh giá tình hình chi tiêu ngân sách, tình hình và kết quả

hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Thực sự trao quyền và giao trách nhiệm về quản lý chi tiêu công cho đơn

vị sự nghiệp công lập để nâng cao tính linh hoạt, tích cực, hiệu quả cho các cơ

quan này. Đảm bảo minh bạch trong việc thực hiện chi tiêu công trong các

khâu: Lập ngân sách, phân bổ ngân sách và sử dụng ngân sách. Các đơn vị tự

chủ tài chính cần sẵn sàng chịu trách nhiệm mọi mặt về hoạt động của đơn vị

mình tương xứng với nguồn lực mà nhà nước giao.

Cơ quan kiểm toán, thanh tra cần tập trung vào loại hình kiểm tốn hoạt

động để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả quản lý và sử

dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá về đầu ra và kết quả bên cạnh việc

kiểm sốt đầu vào một số nhóm chi lớn của đơn vị. Kết quả của việc đánh giá

phải thành thông tin hữu ích trong phân bổ ngân sách.

Cần sử dụng “ phiếu đánh giá dịch vụ công” như một công cụ hữu hiệu



82



phản hồi ý kiến tập thể của những người sử dụng dịch vụ. Kết quả phiếu đánh

giá dịch vụ công khai được công bố công khai cho công chúng nhằm góp

phần nâng cao trách nhiệm trong cung cấp dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp

công lập.

Xây dựng lộ trình thích hợp tiến tới áp dụng khn khổ chi tiêu trung

hạn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính, ngân sách theo đầu ra và kết

quả.Quản lý ngân sách nhà nước theo đầu ra và kết quả đạt được tính khả thi

khi phân bổ dự tốn ngân sách nhà nước được dựa trên cơ sở dự toán đầy đủ

các nguồn tài chính sẵn có được huy động vào thực hiện mục tiêu của các

chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước thì tất yếu khó

có được sự lựa chọn tối ưu trong phân bổ dự tốn NSNN, đồng thời dẫn đến

tình trạng phân bổ dự toán NSN dàn trải, chồng chéo, manh mún, kém hiệu

quả tất yếu không thể khắc phục được.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống định mức phân bổ và định mức chi tiêu

NSNN phù hợp với yêu cầu áp dụng cơ chế quản lý NSNN đầu ra. Định mức

phân bổ dự tốn phải được tính tốn trên cơ sở dự tốn đầy đủ các nguồn tài

chính sẵn có trong ngắn hạn, trung và dài hạn, phù hợp với các đối tượng sử

dụng ngân sách. Định mức chi tiêu cần được xác định vào định mức kinh tế,

kỹ thuật của ngành, lĩnh vực, theo từng vùng và mang tính hướng dẫn để các

đơn vị sử dụng ngân sách dự toán chi phí cho các hoạt động dựa vào đầu ra.

Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá để hệ thống theo dõi đánh giá thực sự

là một công cụ cung cấp thơng tin hữu hiệu cho q trình quản lý ngân sách.

3.3 Kiến nghị

3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ

Một là, Cần bổ sung, sửa đổi Luật NSNN nhằm đảm bảo tính khoa học,

tiên tiến, hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập và Thông lệ quốc tế, đặc biệt

đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn và đổi mới của Việt nam. Sửa đổi NSNN



83



theo hướng:

- Về dự toán NSNN: Cần quy định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ

quan, đơn vị khi tham gia quy trình nhập, phân bổ, duyệt dự toán trên hệ

thống Tabmis

- Bổ sung các quy định về thực hiện cam kết chi qua KBNN theo hướng

tất cả các khoản chi NSNN đều phải được cam kết chi qua KBNN trước khi

thực hiện thanh toán

- Luật NSNN cần thay đổi phương thức kiểm soát thanh tốn chi NSNN

như hiện nay mà hướng đến cơng tác KSC theo kết quả đầu ra.

- Cần quy định lại mức độ quyền hạn, trách nhiệm của KBNN trong

công tác KSC để phù hợp với việc KSC theo mức độ rủi ro của các khoản chi

nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách và hiệu quả trong

công tác KSC của KBNN.

Hai là, Nhà nước cần ban hành cũng như sửa đổi bổ sung kịp thời các

tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu làm căn cứ cho việc xác định mức

khoán chi của đơn vị; tăng cường công tác thẩm tra, thẩm định để xác định

mức độ tiết kiệm hay lãng phí của việc sử dụng kinh phí trong những năm

trước làm cơ sở cho việc xây dựng hệ số điều chỉnh (tăng, giảm) đối với kinh

phí khốn; quy định cụ thể và thống nhất hệ số điều chỉnh kinh phí khốn,

phù hợp với từng loại hình cơ quan, đơn vị và từng trường hợp cụ thể; thường

xuyên rà soát, phân loại, sắp xếp nhằm xác định số lao động cần thiết trong

từng khâu công việc cụ thể để xác định chính xác số biên chế khoán chi cho

từng cơ quan, đơn vị.

Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong q

trình quản lý, kiểm tra, kiểm sốt đối với các đơn vị thực hiện khoán chi trong

các khâu: Đơn vị thực hiện khoán tự rà soát xác định lại nhu cầu lao động, bố

trí lực lượng lao động phù hợp, hiệu quả, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm



84



về các khoản chi tiêu của mình; cơ quan tài chính các cấp phối hợp với các

Bộ, ngành liên quan trên cơ sở các định mức, biên chế tối ưu để tính tốn, xác

định mức khốn phù hợp với từng loại hình đơn vị; KBNN thực hiện kiểm tra,

kiểm soát các khoản chi theo đề nghị của chủ tài khoản và các điều kiện chi

theo quy định.

3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài Chính

Một là, rà sốt, sửa đổi phương thức thanh tốn đối với một số khoản chi

chủ yếu phù hợp với thực tế trên lĩnh vực KSC thường xuyên trong điều kiện

áp dụng chương trình TABMIS cụ thể:

- Đối với khoản chi làm thêm giờ, theo quy định hiện hành khoản chi

này khơng q 200 giờ/năm, nhưng trên mẫu thanh tốn tiền ngồi giờ của

các đơn vị SNCL khơng thể hiện cột lũy kế giờ thanh toán trong năm nên Kho

bạc khơng thể kiểm sốt được số vượt so quy định. Để khắc phục tình trạng

trên cần ban hành mẫu thanh tốn có cột lũy kế giờ thanh tốn trong năm và

trên TABMIS nên ràng buộc điều kiện thanh toán với tinh thần vượt

200/giờ/người/năm chương trình sẽ cảnh báo.

- Đối với khoản chi mua sắm tài sản, công cụ, chi sửa chữa lớn tài sản cố

định, cần có quy định cụ thể từng loại tài sản sau thời gian bảo hành, dùng

bao nhiêu năm, bao nhiêu giờ thì mới được sửa chữa, trừ trường hợp bất khả

kháng như thiên tai gây hỏng hóc, đồng thời phải có cơ quan chun mơn

kiểm định tài sản cần sửa, khi đó mới được sửa chữa.

-Từng bước đưa dần các nhà cung cấp hàng hóa cho khu vực công (công

ty nhà nước, đơn vị hạch tốn hóa đơn đầu vào đầu ra) và hình thành khung

giá hàng hóa vào trong hệ thống quản lý TABMIS, có chế tài buộc nhà cung

cấp cam kết giá bán phù hợp theo cơ chế quản lý giá, từ đó đơn vị sử dụng

ngân sách quan hệ giao dịch trên cơ sở đấu thầu, chọn nhà thầu theo quy định,

có như thế sẽ hạn chế tối đa tình trạng mua hóa đơn như hiện nay và thống



85



nhất được giá thanh toán trong thời gian tới.

Hai là,tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hồn thiện các văn bản về

kiểm sốt chi ngân sách bằng hình thức chi theo dự tốn từ KBNN. Ban hành

những quy định cụ thể về quy trình, thủ tục chi ngân sách theo dự tốn tiến tới

chấm dứt hình thức Lệnh chi tiền, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị vừa

đảm bảo quản lý ngân sách một cách hiệu quả, chặt chẽ.

3.3.3 Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước Trung Ương

Một là, hoàn thiện chế độ kế toán ngân sách Nhà nước và hoạt động

nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước

- Tiếp tục hoàn thiện chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ

KBNN theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, tiết kiệm thời gian lao động mà trọng

tâm là rà soát lại hệ thống báo cáo, giảm bớt số lượng báo cáo, lược bỏ các chỉ

tiêu trùng lắp, xác định công thức xây dựng báo cáo hợp lý. Tập trung xây

dựng hệ thống kế toán nhà nước lấy kế toán KBNN làm trung tâm.

- Hồn thiện lại Quy trình giao dịch “ Một cửa”

Trong cơng tác triển khai thực hiện Quy trình giao dịch một cửa, đề nghị

KBNN Trung Ương cần nghiên cứu, tham khảo từ những kết quả thực tế từ

các KBNN trên tồn quốc để ban hành một Quy trình thực sự hợp lý về mặt

thời gian để cán bộ có thể thực hiện giải quyết công việc một cách hiệu quả

nhất và thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch.

Hai là, hiện đại hóa cơng nghệ thanh tốn

Thực hiện đề án không dùng tiền mặt theo Quyết định số 291/2006/QĐTTg ngày 29/12/2006 của Chính phủ, KBNN đã triển khai nghiên cứu đề án

thanh tốn khơng dùng tiền mặt trong nội bộ hệ thống KBNN theo hướng

chuyển giao dần công tác này sang cho hệ thống ngân hàng thương mại đảm

nhận. Tuy nhiên trên thực tế tại KBNN vẫn còn có nhiều các khoản chi NSNN

bằng tiền mặt như chi khác hoặc cấp tạm ứng cho đơn vị chi hoạt động, chính

vì vậy KBNN Trung Ương cần nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền ban hành



86



văn bản hướng dẫn về quản lý cam kết chi NSNN theo hướng: Quy định về

quản lý nhà cung cấp, các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực cơng

phải có tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thanh toán chi trả bằng chuyển

khoản; đối với các nhà cung cấp khơng có tài khoản tại ngân hàng hoặc KBNN,

nếu đơn vị giao dịch với KBNN đề nghị chi bằng tiền mặt thì KBNN sẽ cấp séc

cho đơn vị đến ngân hàng lĩnh tiền; ngoài các hình thức trên, cũng cần khảo sát

và nghiên cứu xây dựng quy trình chi trả cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ

qua thẻ ATM (thẻ thanh tốn của các tổ chức). Cần nâng cao dịch vụ của hệ

thống ngân hàng sao cho đáp ứng tốt nhất các nhu cầu thanh toán của các đơn

vị phù hợp với tiến trình cải cách mới của đất nước.

Ba là, đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa KBNN

Hiện đại hóa cơng nghệ KBNN là một trong những điều kiện hết sức

quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của KBNN nói chung và cơ chế

KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nói riêng. Hiện nay ngành Tài chính

đang vận hành hệ thống TABMIS trong giai đoạn hoàn thiện đã đáp ứng một

phần thông tin nhanh nhạy, ổn định từ trung ương đến cơ sở và truyền tải mọi

thông tin hoạt động cần thiết, phục vụ công tác quản lý, điều hành. Tuy nhiên

còn khá nhiều bất cập cần phải được hồn thiện như : đường truyền, thiết bị

của cơ quan Tài chính và Kho Bạc chưa đồng bộ, nên đôi lúc xảy ra tình trạng

Kho bạc truy vấn khơng có số dư, Tài chính báo đã nhập; hoặc đơi khi Tài

chính đăng nhập chương trình khơng đươc, Kho bạc đăng nhập bình thường

Vì vậy trong những điều kiện cho phép, cần hoạch định những bước đi thích

hợp để đẩy nhanh tốc độ tin học hóa của hệ thống KBNN trên cơ sở đồng bộ

giữa Tài chính, Kho bạc và các đơn vị sử dụng ngân sách.

Bốn là, Xây dựng cơ chế kiểm sốt mua sắm tài sản cơng theo phương

thức mua tập trung nhằm hạn chế sự thất thoát ngân sách nhà nước

Với thực trạng mua sắm tài sản dùng cho hoạt động của các đơn vị sử

dụng ngân sách như hiện nay tạo ra nhiều kẽ hở, làm thất thoát NSNN và sử



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Giải pháp hoàn thiện Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Phúc Thọ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×