Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại

1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



 Phân loại Ngân hàng Thương mại

 Dựa vào hình thức sở hữu

Ngân hàng thương mại Quốc doanh (State owned Commercial

bank): Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách

nhà nước. Trong tình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế

hội nhập tài chính với thế giới các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt

Nam đang phát hành trái phiếu để huy động vốn; đã và đang cổ phần hóa để

tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng

cổ phần hiện nay.

Ngân hàng thương mại cổ phần (joint Stock Commercial bank): Là

ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức cơng ty cổ phần. Trong

đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo

qui định của ngân hàng nhà nước Việt nam.

Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh):

Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng

thương mại Việt nam và bên khác là ngân hàng thương mại nước ngồi có trụ

sở đặt tại Việt nam, hoạt động theo pháp luật ở Việt Nam.

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo

pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo

pháp luật Việt Nam.

NHTM 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập tại Việt Nam

với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngồi; trong đó phải có một NH

nước ngồi sở hữu trên 50% vốn điều lệ (NH mẹ). NHTM 100% vốn nước

ngồi được thành lập dưới hình thức cơng ty TNHH một thành viên hoặc từ

hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam.



9



 Dựa vào chiến lược kinh doanh

Ngân hàng bán buôn: là loại NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho

đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá

nhân.

Ngân hàng bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối

tượng khách hàng cá nhân.

Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng

dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.



 Dựa vào tính chất hoạt động

Ngân hàng chuyên doanh: là loại NH chỉ hoạt động chuyên môn trong

một lĩnh vực như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…

Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại NH hoạt động ở mọi lĩnh vực

kinh tế và thực hiện hầu như tất cả các nghiệp vụ mà một NH có thể được

phép thực hiện.

 Các dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng Thương mại cung cấp:

- Cho vay: Tín dụng cho vay được hiểu như một giao dịch về tài sản

(tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính

khác) và bên đi vay (các nhân, tổ chức kinh tế và các chủ thể khác), ừong đó

bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian

nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hồn trả vơ điều kiện

vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.

- Huy động tiền gửi: Cho vay được xem là hoạt động sinh lời cao; để

đáp ứng nhu cầu này, các ngân hàng phải huy động nguồn vốn. Người gửi tiền

được hưởng một lãi suất được ấn định trên tổng số tiền gửi với mức độ an

toàn và thanh khoản cao.

- Cho thuê tài chính: Là một hợp đồng giao dịch giữa hai chủ thể bao

gồm bên chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, ừong đó bên chủ sở hữu



10



tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng ừong một

thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên

chủ sở hữu tài sản.

- Dịch vụ thanh toán và tài trợ thương mại.

- Dịch vụ thanh toán nội địa: khách hàng có thể sử dụng dịch vụ này

để thanh tốn cho nhà cung cấp, chủ nợ khác hay để trả lương trực tiếp cho

nhân viên qua tài khoản của họ. Các phương thức thanh toán qua ngân hàng

như: thanh toán bằng ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ các loại, thanh tốn qua

điện thoại và mạng vi tính, chuyển tiền điện tử EFTPOS

- Thanh toán quốc tế: Quan hệ thương mại quốc tế nảy sinh nghĩa vụ

tài chính giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Nghiệp vụ thanh toán

quốc tế ừong ngân hàng chuyên xử lý các giao dịch tài chính này. Bằng các

phương thức chuyển tiền (chuyển tiền bằng thư M/T, bằng điện T/T, phương

thức nhờ thu, phương thức túi dụng chứng từ L/C, phương thức bù trừ,

phương thức bù trừ, phương thức tài khoản mở...

- Chiết khẩu: Ngân hàng chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá

ngắn .hạng khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương

phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với ngân hàng khác.

- Bao thanh tốn: Đây là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng

thơng qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa đã

được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.

- Dịch vụ thẻ ATM: là công cụ hiện đại, năng động phục vụ hữu hiệu

khách hàng khi sử dụng tài khoản cá nhân với độ an toàn và tính bảo mật cao.

- Dịch vụ ngân quỹ: Ngân hàng nhận tiền mặt từ khách hàng có nhu

cầu nộp vào NH để gửi tiết kiệm, gửi vào tài khoản thanh toán, trả nợ vay,

chuyển tiền ừả hàng, thu đổi ngoại tệ...Hoặc thu hộ khách hàng tiền từ người

mua hàng hóa dịch vụ...trả hộ lương, chi ừả cho đối tác của khách hàng.



11



- Dịch vụ ngân hàng điện tử: là dịch vụ ngân hàng có tiện ích cao,

khách hàng chỉ cân quan hệ, giao dịch và thanh toán với ngân hàng qua mạng.

- Kinh doanh tiền tệ: kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên

ngân hàng (mua bán, trao đổi tiền tệ), và các giao dịch về vốn (cho vay đi

vay) trên thị trương nội tệ liên ngân hàng.

- Bảo lãnh ngân hàng: bảo lãnh là một tín dụng được áp dụng phổ

biến, dưới dạng chữ ký (cho mượn uy tín của ngân hàng thơng qua chữ ký xác

nhận), chưa phát sinh giao dịch bằng tiền. Để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ

của khách hàng, ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát

hành các chứng thư bảo lãnh.

- Môi giới đầu tư chứng khốn: các ngân hàng ngày nay có khuynh

hướng kinh doanh tổng hợp để cung cấp các dịch vụ tài chính trọn gói cho

khách hàng. Ngân hàng sẵn sàng cung cấp dịch vụ mơi giới đầu tư chứng

khốn cho khách hàng.

- Sử dụng các cơng cụ thị trường tài chính: tỷ giá, lãi suất, công cụ

phái sinh

- Dịch cụ cho thuê tủ sắt: Dịch vụ bảo quản vật có giá cho khách hàng

- Dịch vụ ủy thác: quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá

nhân và doanh nghiệp

- Dịch vụ khác như: bảo hiểm, môi giới địa ốc, chi trả kiều hối, chuyển

tiền du học...

1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại

 Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất

của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,

NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về

vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi



12



vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh

lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất

cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay... Cho vay luôn là hoạt

động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn

nhất cho ngân hàng thương mại.

 Chức năng trung gian thanh tốn

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,

thực hiện các thanh tốn theo u cầu của khách hàng như trích tiền từ tài

khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài

khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo

lệnh của họ.

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện

lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh tốn, thẻ tín

dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức

thanh tốn phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế khơng phải giữ tiền trong

túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa

mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh

toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian,

lại đảm bảo thanh tốn an tồn. Chức năng này vơ hình trung đã thúc đẩy lưu

thơng hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh tốn, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó

góp phần phát triển kinh tế.

 Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.

Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một u cầu chính cho sự tồn tại và

phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù

của mình đã vơ hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.



13



Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của

NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh tốn. Thơng qua chức năng

trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số

tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh tốn

dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn

được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng

hóa, thanh tốn dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng

tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,

chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ

bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân

hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.

1.1.2 Các quá trình hoạt động và đặc điểm tổ chức của Ngân hàng

Thương mại

1.1.2.1 Các quá trình hoạt động của Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn

cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động

ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song

ngân hàng vẫn duy trì các hoạt động cơ bản sau :

 Hoạt động huy động vốn

Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất , ảnh hưởng tới chất lượng

hoạt động của ngân hàng .Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình

thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi , đi vay , phát hành giấy

tờ có giá . Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến

hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất , cho các mục tiêu phát

triển kinh tế của địa phương và cả nước . Nghiệp vụ huy động vốn của ngân

hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân

hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh , mở rộng quan hệ tín dụng với



14



các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân

hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu

phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình

huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng

nhu cầu vốn cho sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước.

 Hoạt động sử dụng vốn

Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ

sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng,

quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường . Do vậy ngân

hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho

hợp lý nhất.

Một là, ngân hàng tiến hành cho vay: Cho vay là hoạt động quan trọng

nhất của các NHTM. Theo thống kê, nhìn chung thì khoảng 60% - 75% thu

nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại của

một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và

thành cơng của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Các

loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức

bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả...

Hai là tiến hành đầu tư: Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện

của hàng loạt những nhu cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động

trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa

dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế.

Ngồi hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có

2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương mại có thể tiến hành là:

- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn

vào các doanh nghiệp, các cơng ty khác.



15



- Đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

Ba là nghiệp vụ ngân quỹ: Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các

chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục

tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những

nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo

hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng khơng thể bỏ qua sự “an tồn”. Vì

vậy, ngồi việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải

sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an tồn về khả năng

thanh tốn và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ương đề ra.

 Các hoạt động khác

Là một trung gian tài chính được hiểu như ngân hàng thay mặt khách

hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để thanh tốn nhanh

chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều

hình thức thanh tốn như thanh tốn bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại

thẻ …cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền

giấy khi khách hàng cần . Mặt khác, các ngân hàng thương mại còn tiến hành

mơi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành

chứng khốn cho các cơng ty. Ngồi ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ

uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải

ngân và thu hộ…

Như vậy, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng

tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay

gắt như hiện nay. Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên

tác động qua lại với nhau.Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử

dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của

nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân



16



hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho

việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.

1.1.2.2 Đặc điểm tổ chức của Ngân hàng Thương mại

NHTM là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, có tài sản và hệ

thống giao dịch từ Trung ương đến địa phương, có bộ máy quản lý, điều hành

thống nhất trong phạm vi cả nước và trụ sở chính. Về đặc điểm tổ chức của

Ngân hàng Thương mại được phân loại như sau:

Theo cấp quản lý: Theo cấp quản lý, hệ thống tổ chức bộ máy của

NHTM gồm:

- Hội sở chính: Hội sở chính có trách nhiệm chỉ đạo toàn bộ hoạt động

của cả hệ thống NHTM. Hội sở chính gồm: Ban Tổng giám đốc, các Ban

chun mơn nghiệp vụ, Sở giao dịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công

nghệ thông tin.

- Chi nhánh NHTM các tỉnh, thành phố (gọi chung là Chi nhánh cấp

tỉnh)

- Phòng giao dịch NHTM huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc

tỉnh (gọi chung là Phòng giao dịch cấp huyện)

Theo chức năng nhiệm vụ: Theo chức năng nhiệm vụ, hệ thống tổ

chức bộ máy của NHTM gồm:

- Bộ máy quản trị NHTM: Bộ máy quản trị gồm có: Hội đồng quản trị

(HĐQT) ở Trung ương và Ban đại diện HĐQT cấp tỉnh, thành phố, quận,

huyện, thị xã.

* Hội đồng quản trị: Theo điều 16 nghị đinh số 59/2009/NĐ-CP của

chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại quy định như

sau: “Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị ngân hàng, có tồn quyền nhân

danh ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân

hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (đối với



17



ngân hàng thương mại cổ phần) hoặc chủ sở hữu (đối với ngân hàng thương

mại Nhà nước, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức

dưới hình thức cơng ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc thành viên

góp vốn (đối với ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại

100% vốn nước ngồi được tổ chức dưới hình thức cơng ty trách nhiệm hữu

hạn hai thành viên trở lên). Hội đồng quản trị phải có tối thiểu 03 thành viên

và khơng q 11 thành viên, số lượng cụ thể do Điều lệ ngân hàng quy định.

Tối thiểu 1/2 (một phần hai) tổng số thành viên Hội đồng quản trị phải là

người không điều hành và thành viên độc lập, trong đó có tối thiểu 02 thành

viên độc lập. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể là thành viên độc lập. Cá

nhân và người có liên quan của cá nhân đó hoặc những người là người đại

diện vốn góp của một tổ chức không được chiếm quá 1/3 (một phần ba) tổng

số thành viên của Hội đồng quản trị (quy định này chỉ áp dụng đối với ngân

hàng thương mại cổ phần)”

Giúp việc cho HĐQT có Ban chuyên gia tư vấn và Ban kiểm soát NHTM:

- Ban chuyên gia tư vấn gồm chuyên viên của các Bộ, ngành là thành

viên HĐQT và một số chuyên gia do Chủ tịch HĐQT quyết định chấp thuận.

Ban chuyên gia tư vấn có nhiệm vụ tham mưu giúp việc trực tiếp cho thành

viên HĐQT thuộc Bộ, ngành mình, đồng thời có nhiệm vụ tư vấn cho HĐQT

về chủ trương chính sách, cơ chế hoạt động của NHTM, các văn bản thuộc

thẩm quyền của HĐQT.

- Ban kiểm soát NHTM: giúp việc cho HĐQT trong việc kiểm tra hoạt

động tài chính, thẩm định báo cáo tài chính hàng năm, giám sát việc chấp

hành chế độ hạch toán, kiểm tra việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp

luật và Nghị quyết của HĐQT. Ban kiểm soát NHTM được sử dụng hệ thống

kiểm tra, kiểm tốn nội bộ trong tồn hệ thống để thực hiện các nhiệm vụ của



18



mình; kiến nghị với HĐQT các biện pháp bổ sung, sửa đổi các văn bản, cải

tiến hoạt động của ngân hàng theo quy định của pháp luật.

* Ban đại diện HĐQT các cấp: Tại các chi nhánh NHTM tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Ban đại diện

HĐQT có chức năng giám sát việc thực thi các Nghị quyết, Văn bản chỉ đạo của

HĐQT tại các địa phương. Chỉ đạo việc gắn tín dụng chính sách với kế hoạch

xố đói giảm nghèo và dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương để nâng cao

hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi.



 Theo bộ máy điều hành tác nghiệp

* Tại Trung ương

- Hội sở chính là cơ quan cao nhất trong bộ máy điều hành tác nghiệp

của hệ thống NHTM chịu sự điều hành của Tổng giám đốc.

- Tổng giám đốc là người điều hành toàn bộ hoạt động của hệ thống

NHTM, giúp việc cho Tổng giám đốc có các Phó Tổng giám đốc và Giám đốc

các Ban chuyên môn nghiệp vụ, các Trung tâm, Sở giao dịch và Chánh Văn

phòng.

- Bộ máy giúp việc gồm các Khối, phòng, ban chun mơn nghiệp vụ,

các Trung tâm, Sở giao dịch có chức năng tham mưu, giúp Tổng giám đốc

trong việc quản lý và điều hành công việc chuyên môn của NHTM. Cơ cấu tổ

chức, chức năng nhiệm vụ của các ban chuyên môn, nghiệp vụ do HĐQT

quyết định ban hành.

* Tại chi nhánh cấp tỉnh Chi nhánh NHTM các tỉnh, thành phố là đơn vị

trực thuộc Hội sở chính, đại diện pháp nhân theo uỷ quyền của Tổng giám đốc

trong việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động của NHTM trên địa bàn. Điều

hành chi nhánh NHTM tỉnh, thành phố là Giám đốc chi nhánh, giúp việc giám

đốc là các Phó giám đốc và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×