Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng thì uy tín

của ngân hàng càng cao, ngân hàng càng chủ động trong hoạt động kinh

doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và dân cư, tăng

khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo hoạt động cho ngân hàng trên thị

trường và đặc biệt là tăng năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế.

1.1.1.2. Vai trò của huy động vốn

Thứ nhất: Đối với ngân hàng

Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện các nghiệp vụ

sinh lời của ngân hàng như: cho vay, đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh

tốn... Quy mơ nguồn vốn tiền gửi thực hiện năng lực tài chính và uy tín của

ngân hàng. Nguồn vốn huy động càng lớn càng thể hiện năng lực tài chính

mạnh mẽ và sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng, góp phần củng cố

vững chắc của ngân hàng trên thị trường.

Thứ hai: Đối với khách hàng

Khi gửi tiền vào ngân hàng, ngồi tính chất an tồn, khách hàng còn

được hưởng các dịch vụ thanh tốn tiện ích như: thanh tốn séc, uỷ nhiệm chi,

uỷ nhiệm thu, thanh toán qua hệ thống máy ATM, thanh toán thông qua

Internet... Đối với tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng được

hưởng lãi và có thể tích luỹ tiền để phục vụ các mục đích mào đó trong tương

lai. Ngòai ra, trong trường hợp khách hàng gặp khó khăn về mặt tài chính,

ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng các hình thức như: cầm cố,

chiết khấu sổ tiết kiệm, cho vay, bảo lãnh,…

Thứ ba: Đối với nền kinh tế

Chức năng huy động nguồn vốn tiền của ngân hàng có vai trò quan trọng

trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn cho quá

trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô tái sản xuất. Nhờ



9



đó ngân hàng biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích q trình ln

chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế



10



1.1.2. Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại

NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài

chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai

trò chủ đạo của các NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với

nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và

công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn.

Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động

được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.

Vốn của các NHTM phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong

sản xuất kinh doanh được gửi vào NH với những mục đích khác nhau. NH

đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các

nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vốn và các hoạt

động về huy động vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt

động kinh doanh của các NHTM. Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối

với việc thực hiện các chức năng của NHTM.

Kết cấu nguồn vốn NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động và vốn khác.

* Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ NH sở hữu và sử dụng vào mục

đích kinh doanh theo luật định. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng,

tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát

triển của thị trường. Vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn

của NHTM song nó lại là yếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát

triển của một NH. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài

sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng, góp phần duy trì khả năng

thanh toán trong trường hợp NH gặp thua lỗ. Vốn tự có cũng là căn cứ để tính

tốn các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tài chính trong hoạt động kinh

doanh NH.



11



Trong thực tế, vốn tự có khơng ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt

động kinh doanh của bản thân NH mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một

phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời góp

phần vào nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường.

 Như vậy, vốn tự có là nguồn vốn ổn định, NH sử dụng một cách chủ

động. Do đó vấn đề đặt ra là NH phải bảo tồn và khơng ngừng tăng vốn tự có

của mình theo u cầu của sự phát triển hoạt động kinh doanh theo đúng

chính sách, chế độ, đồng thời phải sử dụng vào các mục đích đã định.

* Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà NH huy động được từ các tổ

chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh.

Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, NH chỉ có quyền sử

dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến

động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của NH.

Đây là khoản vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn. Các hoạt

động sử dụng vốn tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn vốn huy động này.

- Vốn huy động từ tiền gửi: Khi một NH bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ

đầu tiên là mở tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh tốn hộ cho khách hàng,

bằng cách đó NH huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và

dân cư. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng sử dụng để kinh doanh của

NH, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM và là mục

tiêu tăng trưởng hàng năm của các NH. Vốn huy động từ tiền gửi bao gồm:

tiền gửi khách hàng và tiền gửi khác (tiền gửi của các tổ chức tín dụng, tiền

gửi của kho bạc Nhà nước, tiền gửi của các đoàn thể xã hội …)

- Vốn huy động thơng qua phát hành các giấy tờ có giá: Trong hình

thức này NH chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng việc phát hành

các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu để bổ sung nguồn vốn

kinh doanh của NH. Thông thường đây là khoản vay khơng có đảm bảo.



12



Những NH có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Khả

năng vay mượn này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài

chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của NH.

- Vốn đi vay từ các NH khác: Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến

hành tạo vốn cho mình bằng cách vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và

NHNN dưới hình thức tái chiết khấu hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân

đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà họ không tự cân đối

được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Thực tế cho thấy, chi phí của vốn đi vay

thường cao hơn chi phí của vốn huy động tại chỗ cho nên nó chiếm tỷ trọng

nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH. Tuy nhiên, tính chủ động của vốn đi vay

lại cao hơn vốn huy động tại chỗ.

* Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn chủ yếu trên NHTM còn có các

nguồn vốn khác cũng không kém phần quan trọng như: vốn trong thanh tốn,

nguồn vốn uỷ thác đầu tư...NHTM có thể sử dụng các nguồn vốn này để kinh

doanh trong khoảng thời gian và điều kiện nhất định.

 Tóm lại, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các

nguồn vốn trong nền kinh tế, đó là: huy động các khoản tiền gửi; huy động

thông qua phát hành các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các NH khác.

Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh

của NHNN. Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM

sử dụng tốt nguốn vốn này thì khơng những nguồn lợi của NH được tăng lên

mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua đó NH có thể mở rộng được

vốn và mở rộng qui mơ hoạt động kinh doanh của NH.

1.1.3. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại

Huy động được càng nhiều vốn thì ngân hàng càng có khả năng mở rộng

được hoạt động cũng như quy mô tài sản nên hoạt động huy động vốn luôn

được quan tâm hang đầu. đặc biệt là trước sức ép của cuộc cạnh tranh trong



13



lĩnh vực tài chính, đòi hỏi các ngân hàng phải có chính sách thu hút nguồn

tiền ngày một linh hoạt, để từ đó đáp ứng cho hoạt động của ngân hàng.

Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới các

hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để

huy động từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN

chấp nhận

- Vay vốn của các TCTD khác hoạt đông tại Việt Nam và nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- Các hình tức huy động vốn khác theo quy điịnh của Ngân hàng nhà nước.

1.1.3.1 Nhận tiền gửi

Trong các hình thức huy động vốn của NHTM, đây là phương thức huy

động lâu đời nhất và đến nay nó vẫn là hình thức quan trọng nhất về mặt kinh

tế và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.

Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức,cá nhân dưới hình thức

tiền gửi khơng kỳ hạn (TG KKH), Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH), tiền gửi tiết

kiệm (TGTK) theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ theo thoả thuận.

a. Tiền gửi không kỳ hạn

TG KKH là tiền gửi của danh nghiệp và cá nhân tại ngân hàng nhằm

mục đích thực hiện thanh tốn qua ngân hàng. Đây là khoản tiền gửi mà

người sử dụng có thể rút ra bất cứ lúc nào có nhu cầu và ngân hàng phải đáp

ứng được. Do đó, nhìn chung đây là khoản huy động với lãi suát thấp hoặc

bằng không, tuy nhiên người sử dụng được hưởng dịch vụ thanh toán qua

ngân hàng nhanh chóng và hiệu quả. Tiền gửi khơng kỳ hạn bao gồm hai loại:

Thứ nhất, tiền gửi giao dịch hay còn gọi tiền gửi thanh tốn. Đây là

khoản tiền gửi sử dụng để đáp ứng nhu cầu giao dịch, tiến hành thanh toán,chi



14



trả cho các hang hoá,dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình

kinh doanh một cách thường xuyên,an toàn và thuận tiện.

Đặc điểm của loại tiền này là mức biến động cao và ngân hàng thường

khó có thể dự báo về quy mơ tiền gửỉ giao dịch có thể huy động. Đồng thời,

kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất do khách hàng có thể rút

bất cứ khi nào mà không cần báo trước, mặt khác mức độ giao dịch trên tài

khoản này là rất lớn. Chính vì sự khơng ổn định của mình, nên loại tài khoản này

thường được trả lãi rất thấp hoặc không được trả lãi và cũng chính vì sự khơng

ổn định này mà ngân hàng thường phải có một tỷ lệ dự trữ khá cao đảm bảo khả

năng thanh toán. Đối với tài khoản này, khách hàng được sử dụng các cơng cụ

thanh tốn để chi trả cho uỷ nhiệm chi, séc, và các lệnh khác.

Thứ hai, tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch, đó là khoản tiền gửi được

ký gửi với mục đích an tồn tài sản, khơng mang tính chất phục vụ thanh

tốn. Khi cần, khách hàng có thể đến ngân hàng rút để chi tiêu.

Đối với cá nhân thì TG KKH là nguồn không ổn định nhưng ngân hàng

vẫn rất cần nguồn này, trước hết vì chi phí rẻ, thứ hai là xét trên tổng thể thì

ln có một giới hạn tổng thể trong đó. Ngân hàng có thể huy động số dư đó

làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Đây là nguồn vốn có chi phí khá thấp nên

nếu các ngân hàng có một kế hoạch tài chính tốt với những hạch tốn hợp lý

thì đây cũng là một trong những nguồn vốn khá lớn đem lại lợi ích kinh tế cao

cho NHTM

Tiền gửi không kỳ hạn được huy động chủ yếu từ dân cư và các TCKT,

bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thong qua tài khoản tiền gửi

thanh toán của các ngân hàng khác nhằm mục đích nhờ thanh tốn hộ và một

số mục đích khác.

b. Tiền gửi có kì hạn

Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng về

thời hạn rút tiền. Nguồn tiền gửi này chủ yếu là từ tích luỹ và xét về mục đích



15



chúng được gửi với mục đích hưởng lãi ngồi mục đích sử dụng các dịch vụ

ngân hàng.

Loại tiền gửi này thường gắn liền với các TCKT có chu kỳ kinh tế gần

như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, gần như ít có sự biến động.

đặc tính quan trọng nhất của khoản tiền gửi này là nhạy cảm với lãi suất, có

tính an tồn cao, tín ổn định khá cao do thời gian hoàn vốn đã được xác định

trước, các ngân hàng sẽ có sơ sở khá chắc chắn cho việc hoạch định chiến

lược quản trị nguồn vốn của mình. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nó là chi

phí cao do sự cạnh tranh lãi suất, lãi suất này cao hơn nhiều so với lãi suất

tiền gửi không kỳ hạn.

Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán.

Tuy nhiên, trên thực tế, để thu hút khách hàng gửi loại tiền này, các ngân hàng

thường cho phép khách hàng rút trước hạn ( nếu số tiền lớn thì phải thơng báo

cho ngân hàng trước một vài ngày. Trong trường hợp này có thể có hai cách

giải quyết: Hoặc khách hàng vay tiền của ngân hàng, sau khi đến hạn rút tiền

thì dùng số tiền gốc và lãi để trả nợ bởi vay trong trường hợp này thì khách

hàng sẽ được ưu đãi hơn, chênh lệch lãi suất không lớn, hoặc là thoả thuận

với khách hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi suất thấp hơn.

Đây là loại tiền gửi tương đối ổn định nên các ngân hàng thường chú

trọng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này. Phổ biến nhát

vẫn là phương pháp đa dạng hoá các loại tiền gửi này, đặc biệt việc đưa ra

nhiều kỳ hạn thanh toán với mức lãi suất khác nhau để đáp ứng nhu cầu của

mọi khách hàng, thường thì kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao. Phương thức

thứ hai đó là kèm theo các hợp đồng này là các dịch vụ hậu mãi của ngân

hàng hay rút thăm trúng thưởng… Phương thức thứ ba hạn chế hơn nhưng

gần đây rất thịnh thành, đó là cạnh tranh về lãi suất huy động vốn. đây là

phương thức dễ thu hút sự quan tâm của khách nhất nhưng cũng khá nguy



16



hiểm và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt

trong thời kỳ vốn khan hiếm.

c. Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản

TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ

chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm

tiền gửi.

Đặc trưng của nguồn vốn này là tính ổn định cao tuy nhiên, chi phí huy

động cao. Đây là nguồn thu nhập của cá nhân chưa sử dụng cho tiêu dùng, họ

gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an tồn và hưởng

lãi từ số tiền đó. TGTK được phát triển dưới hai loại là TGTK không kỳ hạn

và TGTK có kỳ hạn.

TGTK khơng kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song

khơng được sử dụng các cơng cụ thanh tốn để chi trả cho người khác. sản phẩm

này thích hợp với khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi, muốn gửi ngân hàng với

mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền

trong tương lai, do đó ngân hàng thường trả lãi thấp cho loại tiền gửi này.

TGTK có kỳ hạn là tiền mà người gửi tiết kiệm chỉ có thể rút tiền sau một

kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.

Khách hàng được hưởng mức lãi suất cao hơn so với tiết kiệm không kỳ hạn.

Trên thực tế,các sản phẩm TGTK rất phong phú đáp ứng nhu cầu đa

dạng và biến động thường xuyên của nhóm khách hàng này. Các ngân hàng

thường thu hút người gửi tiền bằng các hinh thức huy động đa dạng, lãi suất

cạnh tranh, hấp dẫn, khác nhau giữa các khoản tiền gửi kỳ hạn khác nhau,

giữa nội tệ và ngoại tệ,vàng,… Loại hình tiền gửi này khơng nhằm mục đích

thanh tốn, nhưng có thể dùng làm tài sản thế chấp ay vốn nếu được ngân

hàng cho phép.



17



1.1.3.2 Đi vay

a. Phát hành giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn,

trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất

định, điều kiện trả lãi và cá điều khoản cam kết giữa TCTD và người mua.

GTCG được chia làm GTCG ngắn hạn (thời hạn dưới một năm, bao gồm

kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các GTCG ngắn hạn khác)

và GTCG dài hạn (thời hạn trên 1 năm, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi

dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác).

Về cơ bản, huy động vốn thông qua phát hành GTCG bao gồm ba hình

thức chính là phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng và trái phiếu

ngân hàng.

Chứng chỉ tiền gửi, bản chất của nó là một khoản tiền gửi có kỳ hạn,

hưởng lãi trên cơ sở 360 ngày và được hoàn trả gốc khi đên s hạn, chỉ khác là

nó được mua bán, chuyển nhượng trên thị trường

Kỳ phiếu ngân hàng là giấy nhận nợ ngắn hạn mà ngân hàng phát hành

để huy động vốn ngắn hạn. Nó có tính thanh khoản cao, chủ sỏ hữu dễ dàng

chuyển nhượng trên thị trường tiền tệ. Nhờ vậy mà loại huy động vốn này thu

hút được rất nhiều nguồn vốn đầu tư. Đây là công cụ tương đối chủ động và

linh hoạt của các NHTM.

Trái phiếu ngân hàng là giấy nợ mà ngân hàng phát hành nhằm huy động

vốn trung,dài hạn. Căn cứ vào đối tượng khách hàng, Trái phiếu bao gồm Trái

phiếu huy động và Trái phiếu thuộc vốn tự có. Trái phiếu thuộc vốn huy động

có thời hạn linh hoạt, người mua là chủ nợ thường đựoc ưu tiên thanh toán

trước. trái phiếu thuộc vốn tự có có thời hạn từ 10 năm trở lên, người mua là

chủ nợ thứ cấp. Nhìn chung, đối với ngân hàng, đây là nguồn vốn ổn định

nhất, ngân hàng chủ động được thời gian, quy mô vốn,… Tuy nhiên, chi phí



18



huy động cao so với các loại hình khác. Vì thế, trai phiếu thu hút được sự đầu

tư của nhiều người bở tính an tồn và lợi nhuận đáng kể.

Nghiệp vụ này chỉ đựoc tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có

và vốn huy động không đủ. Như vậy, khi thực hiện huy động theo hình thức

này, các ngân hàng phải cân nhắc đầu ra để quyết định khối lượng huy động.

Vốn này chỉ được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ

thì ngừng khơng phát hành nữa.

b. Vay các TCTD khác

Ngân hàng thương mại được vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính trong

và ngồi nước theo quy định của pháp luật. Thơng thường, các ngân hàngcó

thể vay nhau qua hợp đồng vay vốn hoặc thoả thuận trước với nhau về hạn

mức tín dụng. Ngồi ra, trong trường hợp thiếu hụt dự trữ tại NHNN thì ngân

hàng dự trữ dư thừa ngày hơm đó sẽ viết séc hoặc gửi điện tín đến chi nhánh

NHNN tại địa phương, yêu cầu chuyển một phần tiền dự trữ của ngân hàng

mình sang ngân hàng xin vay, thời gian vay rất ngắn, thường chỉ vài ngày.

Ngồi ra, NHTM thiếu vốn có thể đem GTCG đi chiết khấu,vay cầm cố tại

ngân hàng khác.

c. Vay Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng thương mại được vay vốn của NHNN dưới hình thức tái cấp

vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. NHNN là nơi

phát hành tiền, thực thi và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, là ngân hàng

của các ngân hàng. Vì vậy, khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn thì

NHNN là người cứu cánh cuối cùng. Thơng thường NHNN cho các NHTM

vay trong trường hợp thiếu hụt vốn hoặc thiếu hụt dự trữ. Cho dù NHNN có

áp lãi suất chiết khấu, phạt cao thế nào đi nữa thì NHNN vẫn phải cho NHTM

vay đáp ứng nhu cầu thanh khoản tránh những khủng hoảng tài chính xảy ra

cho hệ thống.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×